|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 32/2024/HNGĐ - ST Ngày: 11/7/2024 Về việc “ Tranh chấp ly hôn,nuôi con chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH TỈNH THÁI NGUYÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Thu Hà
Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Hợi
2. Ông Dương Viết Vĩnh
Thư ký phiên toà: Bà Hà Thị Bích Ngọc - Thư ký Toà án nhân dân huyện Phú Bình.
Đại diện VKSND huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Đàm Hoàng S – Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 7 năm 2024 tại Hội trường Toà án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 315/2023/TLST – HNGĐ ngày 26 tháng 12 năm 2023 về việc “ Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2024/QĐXX - ST ngày 31/5/2014 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1992;
HKTT: xóm N, xã D, huyện P, tỉnh Thái Nguyên
Bị đơn: Chị Đào Thị Tuyết G, sinh năm 1999;
HKTT: xóm N, xã D, huyện P, tỉnh Thái Nguyên
(Có mặt anh H, vắng mặt chị G tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 29/11/2023 và các lời khai tiếp theo trong quá trình tố tụng, nguyên đơn anh Nguyễn Văn H trình bày: anh và chị Đào Thị Tuyết G kết hôn năm 2017 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã D, huyện P, tỉnh Thái Nguyên, được UBND xã cấp giấy chứng nhận kết hôn số 39 ngày 21/8/2017.
Sau khi kết hôn, anh chị chung sống cùng gia đình chồng tại xóm A N xã D, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Cuộc sống vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc và đã có 02 con chung là cháu Nguyễn Thanh B, sinh năm 2018 và cháu Nguyễn Thanh B1, sinh năm 2020. Từ khi lấy nhau cho đến khi đã có hai con chung, kinh tế trong gia đình anh lo liệu còn chị G thì ở nhà nuôi con. Tuy nhiên anh không nhận được sự đồng cảm, chia sẻ từ vợ. Vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, bất đồng trong mọi vấn đề của cuộc sống. Đến cuối tháng 9/2022, chị G tự ý bỏ nhà đi khoảng 3 ngày không nói cho gia đình biết đi đâu, làm gì, khi chị G về anh đã đưa chị G về nhà bố mẹ đẻ để bố mẹ dạy bảo thêm nhưng sau đó chị G đã bỏ đi đâu từ đó cho đến nay không về và cũng không liên hệ gì về cho gia đình anh, cho các con mặc dù các cháu còn rất bé, vẫn cần sự chăm sóc của mẹ. Anh cũng có lên nhà bố mẹ đẻ của chị G để tìm hiểu thông tin nhưng cũng không có thông tin gì của chị G. Vợ chồng ly thân từ đó cho đến nay. Tại phiên tòa, anh H vẫn xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị G để sớm ổn định cuộc sống.
* Về con chung: Quá trình chung sống, anh chị có 02 con chung tên Nguyễn Thanh B, sinh ngày 17/02/2018 và cháu Nguyễn Thanh B1, sinh ngày 29/02/2020. Khi ly hôn, anh yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung, không yêu cầu chị G cấp dưỡng nuôi con.
* Về tài sản chung, các khoản nợ chung: Vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn chị Đào Thị Tuyết G không có lời khai tại Tòa án. Quá trình Tòa án giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành xác minh với chính quyền xóm N, nơi chị G có đăng ký thường trú, được cung cấp thông tin: Chị G có đăng ký nhân khẩu thường trú tại xóm N, xã D, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Tuy nhiên chị G đã bỏ nhà đi khỏi địa phương từ khoảng tháng 9 năm 2022 cho đến nay không thông báo gì với chính quyền địa phương nên không biết chị G đi đâu. Hiện ở địa phương chỉ còn có mẹ chồng chị G, chồng và các con sinh sống.
Tại biên bản xác minh với chính quyền địa phương xóm N, với gia đình bố mẹ đẻ chị G tại xóm N, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên được cung cấp thông tin: Chị Đào Thị Tuyết G là con của ông Đào Duy Đ và mẹ kế là bà Ngô Thị T, trú tại xóm N, xã T, huyện P. Từ tháng 10/2022, vợ chồng chị G có xảy ra mâu thuẫn, chị G về ở nhà bố mẹ đẻ tại xóm N, sau đó đến tháng giêng năm 2023, chị G nói với gia đình đi làm ăn xa cho đến nay không về nhà. Chị G có liên lạc với các em nhưng không nói ở đâu, làm gì. Em gái chị G là chị Đào Thị D có chụp ảnh gửi các giấy triệu tập, thông báo của Tòa án cho chị G biết việc Tòa án đang thụ lý, giải quyết vụ án ly hôn giữa chị và anh H, chị G có nắm được thông tin và trả lời là biết rồi.
Quá trình làm việc cùng với chị Đào Thị D, chị D trình bày: Gia đình chị đã nhận được thông báo thụ lý vụ án cũng như các giấy triệu tập, báo gọi chị G lên Tòa án để giải quyết việc ly hôn với anh H cũng như các Quyết định xét xử, quyết định hoãn phiên tòa, giấy triệu tập phiên tòa của Tòa án gửi cho chị G. Chị đã trực tiếp gửi cho chị G qua zalo theo số điện thoại: 0395.987.xxx. Qua trao đổi qua điện thoại, chị và gia đình cũng đã động viên chị G về Tòa án để giải quyết việc ly hôn với anh H nhưng chị G chỉ ậm ừ là biết rồi và cũng không trao đổi cụ thể với chị việc chị G có lên Tòa án hay không. Chị và gia đình không biết chị G đang ở đâu.
Chị xác nhận là chị G đã nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án, biết được việc Tòa án đang thụ lý, giải quyết việc ly hôn giữa chị và anh H.
Do chị G vắng mặt tại địa phương, Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng trên theo quy định để chị G thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình. Tuy nhiên chị G không chấp hành, không lên Tòa án để thể hiện quan điểm đối với yêu cầu khởi kiện xin ly hôn, đề nghị giải quyết quyền nuôi con chung của anh H đối với chị.
Tại phiên tòa, đại diện VKSND huyện Phú Bình phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, của Hội đồng xét xử của nguyên đơn kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án được thực hiện đúng trình tự, thủ tục tố tụng, bị đơn không thực hiện đúng quy định tại Điều 70, 72 Bộ Luật tố tụng dân sự. VKS không có ý kiến đề nghị, kiến nghị gì.
Về quan điểm giải quyết vụ án:
- + Về quan hệ hôn nhân: Áp dụng Điều 51, 56 Luật Hôn nhân gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện củ anh H. Cho anh Nguyễn Văn H được ly hôn chị Đào Tị Tuyết G1.
- + Về con chung: áp dụng 81,82,83,84 Luật Hôn nhân gia đình đề nghị giao 02 con chung là Nguyễn Thanh B, sinh ngày 17/02/2018 và cháu Nguyễn Thanh B1, sinh ngày 29/02/2020 cho anh Nguyễn Văn H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Anh H không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét. Chị G1 được quyền thăm non, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được cản trở.
- + Về tài sản chung, công nợ chung: Không có, không đặt ra việc giải quyết.
- + Án phí và quyền kháng cáo: Anh H phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật. Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, trên cơ sở kết quả tranh luận tại phiên tòa. Sau khi nghe đại diện VKS phát biểu quan điểm chấp hành pháp luật tố tụng dân sự, quan điểm giải quyết vụ án. HĐXX nhận định:
{1} Về thủ tục tố tụng
[1.1]thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn anh Nguyễn Văn H khởi kiện xin ly hôn và đề nghị giải quyết quyền nuôi con chung với bị đơn chị Đào Thị Tuyết G, chị G có đăng ký nhân khẩu thường trú xóm N, xã D, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự xác định đây là Tranh chấp về hôn nhân gia đình và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Bình.
[1.2].Về sự vắng mặt của đương sự: Quá trình giải quyết vụ án, chị G không lên Tòa án để giải quyết việc ly hôn giữa chị và anh H. Tại các biên bản xác minh của Tòa án cho thấy, chị G không có mặt tại địa phương, Tòa án đã niêm yết hợp lệ văn bản tố tụng gồm: Thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, QĐ đưa vụ án ra xét xử, QĐ hoãn phiên tòa và các văn bản tố tụng khác theo đúng quy định tại khoản 5 Điều 177, Điều 179 BLTTDS năm 2015, đồng thời giao các văn bản trên cho chị G thông qua chị Đào Thị D, là em gái của chị G. Tại các biên bản làm việc với Tòa án, chị D xác nhận đã chụp gửi những văn bản tố tụng của Tòa án cho chị G qua zalo, xác nhận chị G đã nhận được các văn bản tố tụng trên, biết được việc Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án ly hôn giữa anh H và chị, tuy nhiên chị G không lên Tòa án, cũng như không thông báo cho anh H và gia đình chị biết được chị đang ở đâu, thuộc trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, do vậy Tòa án vẫn tiến hành giải quyết vụ án theo thủ tục chung. Tại phiên tòa, chị G vắng mặt lần thứ 2 không có lý do . Vì vậy HĐXX căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng Dân sự 2015, xét xử vắng mặt chị G theo quy định pháp luật.
[1.3]. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành biện pháp xác minh, thu thập chứng cứ, VKSND huyện Phú Bình tham gia phiên tòa là đúng với quy định tại khoản 2 Điều 21 BLTTDS 2015
[2]. Về nội dung:
[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: anh Nguyễn Văn H và chị Đào Thị Tuyết G tự nguyện kết hôn năm 2017, có đăng ký kết hôn tại UBND xã D ngày 21/8/2017, được pháp luật công nhận là hôn nhân hợp pháp.
Quá trình chung sống, thời gian đầu anh chị chung sống hòa thuận, hạnh phúc và đã có hai con chung sinh năm 2018 và năm 2020, sau đó thì phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng không có sự đồng cảm, chia sẻ, vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung. Tháng 9/2022, chị G về bên ngoại ở, sau đó thì bỏ đi đâu không thông báo cho gia đình cũng như liên lạc với anh H và các con. Do không có thông tin gì của chị G cũng như tình cảm vợ chồng không còn, anh H đã làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị G để sớm ổn định cuộc sống.
Chị G đã được Tòa án niêm yết các văn bản tố tụng của Tòa án theo đúng quy định cũng như đã được em gái là chị Đào Thị D thông tin cho biết việc Tòa án Phú Bình đang thụ lý, giải quyết việc ly hôn của anh H và chị, tuy nhiên cố tình giấu địa chỉ, không cho ai biết tin tức chị đang ở đâu, làm gì cũng như không có văn bản, giấy tờ thể hiện quan điểm của chị về việc anh H đề nghị ly hôn đối với chị. Điều đó cho thấy chị không có ý thức chấp hành pháp luật cũng như không có nguyện vọng đoàn tụ vợ chồng với anh H.
Hội đồng xét xử thấy rằng: Theo quy định tại Điều 19 Luật hôn nhân gia đình quy định: Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, tôn trọng, chung thủy, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Vợ chồng phải có nghĩa vụ chung sống với nhau”. Tuy nhiên, quan hệ vợ chồng giữa anh H và chị G đã không còn có tình nghĩa vợ chồng, không còn sự quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, cùng nhau chia sẻ thực hiện các công việc chung trong gia đình, trên thực tế, chị G cũng đã bỏ nhà đi từ tháng 9 năm 2022 cho đến nay là vi phạm nghĩa vụ chung sống với nhau. Điều đó cho thấy anh chị đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn hân không đạt được. Việc duy trì quan hệ hôn nhân không đem lại hạnh phúc cho cả hai bên, do vậy cần chấp nhận cho anh H được ly hôn với chị G là phù hợp theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân gia đình. Đề nghị của VKS phù hợp với nhận định của HĐXX nên được chấp nhận.
[2.2]. Về con chung: Quá trình chung sống, anh chị có 02 con chung là Nguyễn Thanh B, sinh ngày 17/02/2018 và cháu Nguyễn Thanh B1, sinh ngày 29/02/2020. Khi ly hôn, anh H đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung, không yêu cầu chị G cấp dưỡng nuôi con.
Xét đề nghị được nuôi hai con chung của anh H thấy rằng: Hai con chung hiện đang ở cùng với anh H, được anh H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và được sự hỗ trợ trong việc nuôi con của bố mẹ đẻ anh H. Chị G từ thời điểm tháng 9/2022 đã bỏ nhà đi, chỉ thỉnh thoảng gọi điện về thăm hỏi con. Bên cạnh đó, chị cũng không thể hiện quan điểm về con chung khi vợ chồng ly hôn. HIện chị G không có mặt tại địa phương, do vậy, để đảm bảo cho con chung có điều kiện để phát triển tốt nhất, cần giao con cho anh H tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về yêu cầu cấp dưỡng: anh H không yêu cầu chị G cấp dưỡng nuôi con nên HĐXX không xem xét giải quyết.
[2.3]. Về Tài sản chung, công nợ chung: Anh H xác định vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, do vậy không đặt ra việc giải quyết.
[2.4]. Án phí: Anh H chịu án phí ly hôn theo quy định pháp luật.
[2.5]. Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH :
Áp dụng:
- Khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015;
- Điều 51, 56, 81,82, 83, 84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014;
- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn và yêu cầu giải quyết về con chung của anh Nguyễn Văn H đối với chị Đào Thị Tuyết G.
- Về quan hệ hôn nhân:
Cho anh Nguyễn Văn H được ly hôn chị Đào Thị Tuyết G.
- Về con chung:
Giao 02 con chung: Nguyễn Thanh B, sinh ngày 17/02/2018 và cháu Nguyễn Thanh B1, sinh ngày 29/02/2020 cho anh Nguyễn Văn H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi, có khả năng lao động (hoặc khi có sự thay đổi theo quy định pháp luật).
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: anh H không yêu cầu chị G cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Chị G không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm và chăm sóc con chung mà không ai được cản trở họ thực hiện quyền này. Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết, các bên có quyền làm đơn xin thay đổi việc nuôi con, yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định pháp luật
- Tài sản chung, công nợ chung:
Anh H xác định vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, do vậy không đặt ra việc giải quyết.
- Án phí:
Anh Nguyễn Văn H phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, được trừ vào 300.000đ tiền tạm ứng phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Bình, biên lai thu số 0003675 ngày 26/12/2023. Xác nhận anh H đã nộp đủ.
- Về quyền kháng cáo:
Án xử công khai sơ có mặt anh H, báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Chị G vắng mặt tại phiên tòa, báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết công khai ./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Trần Thị Thu Hà |
Bản án số 32/2024/HNGĐ - ST ngày 11/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH TỈNH THÁI NGUYÊN về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 32/2024/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
