Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN ND HUYỆN NGA SƠN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2024/HNGĐ - ST

Ngày: 10-7-2024

V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGA SƠN, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thủy.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Hà và bà Dương Thị Thắm.

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Yến Nhi - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 10/7/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, mở phiên tòa để xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 69/2024/TLST- HNGĐ ngày 15 tháng 4 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2024/QĐXXST - HNGĐ ngày 04/6/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 24/2024/QĐST-HNGĐ ngày 21/6/2024 giữa:

- Nguyên đơn: Chị Mai Thị T - Sinh năm 2000 - HKTT: Thôn G, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Chỗ ở hiện nay: Thôn N, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa – Có mặt.

- Bị đơn: Anh Mai Phạm T1 - Sinh năm 1998 - Địa chỉ: Thôn G, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa - Vắng mặt (không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 03/4/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Mai Thị T trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh M Phạm T1 kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa vào ngày 01/11/2019. Sau ngày kết hôn anh chị chung sống bình thường. Đầu năm 2022, bố mẹ đẻ chị xây cho vợ chồng 01 ngôi nhà tại thôn N, xã N để vợ chồng, con cái sinh sống nhưng chưa chuyển khẩu về mà vẫn có hộ khẩu thường trú tại thôn G, xã N. Đến năm 2022, vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, bất đồng do tính tình không còn hòa hợp, bất đồng quan điểm sống, cuộc sống vợ chồng thường xuyên căng thẳng, cãi nhau. Anh T1 chơi bời, đập phá đồ đạc, có lần đánh chị, chị đã tha thứ nhưng anh T1 không thay đổi. Kể từ ngày 03/4/2024, anh T1 dọa đánh chị nên chị đã trở về nhà mẹ đẻ ở thôn N, xã N, còn anh T1 trở về nhà mẹ đẻ ở thôn G, xã N Tân sinh sống. Từ đó cho đến nay, chị và anh T1 không còn quan tâm đến nhau. Nay chị thấy tình cảm không còn, chị yêu cầu được ly hôn anh T1 theo quy định của pháp luật.

Về con: Vợ chồng chị có 01 con chung là Mai Huyền A - Sinh ngày: 23/12/2020. Hiện cháu đang ở với chị. Chị yêu cầu được trực tiếp nuôi con, không yêu cầu anh T1 phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Vì hiện nay chị đang làm công việc bán đồ tập gym-yoga và bán hàng quần áo online trên mạng, thu nhập mỗi tháng từ 8.000.000đ đến 15.000.000đ, còn anh T1 không có công việc ổn định.

Về tài sản và nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Sau khi thụ lý vụ án, anh T1 đã biết được chị T khởi kiện xin ly hôn anh ra Tòa án nhưng anh vẫn cố tình vắng mặt, không hợp tác, không chấp hành theo giấy triệu tập của Tòa án, không nêu ý kiến của mình, nên vụ án không tiến hành hòa giải được.

Vụ án có liên quan đến người chưa thành niên nên Tòa án tiến hành thu thập tài liệu chứng cứ để xác định nguyên nhân của việc phát sinh tranh chấp theo quy định tại khoản 3 Điều 208 BLTTDS.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nga Sơn phát biểu ý kiến:

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự: Thẩm phán, HĐXX, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn chấp hành các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật; bị đơn không chấp hành các quyền và nghĩa vụ theo quy định.

- Về việc giải quyết vụ án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Mai Thị T, cho chị T được ly hôn anh Mai Phạm T1. Về con: Giao cháu Mai Huyền A - Sinh ngày 23/12/2020 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, anh T1 không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Về án phí: Chị T phải chịu án phí DSST theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và ý kiến của chị Mai Thị T, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Chị Mai Thị T có đơn đề nghị giải quyết việc ly hôn giữa chị và anh M Phạm T1 có địa chỉ ở xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án huyện Nga Sơn.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng cho anh M Phạm T1 biết việc chị Mai Thị T xin ly hôn anh. Nhưng trong quá trình giải quyết vụ án anh T1 vắng mặt nên không thống nhất được hướng giải quyết vụ án. Ngày 21/6/2024, Tòa án đã đưa vụ án ra xét xử lần thứ nhất, anh T1 vắng mặt không có lý do nên phải hoãn phiên tòa. Như vậy, việc anh T1 không đến Tòa án để giải quyết vụ án là trường hợp cố tình trốn tránh, nên theo quy định điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ Luật tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử lần hai - vắng mặt anh T1.

[2] Về hôn nhân: Chị Mai Thị T và anh Mai Phạm T1 kết hôn ngày 01/11/2019, trên cơ sở tự nguyện, được hai bên gia đình đồng ý, không cản trở, cưới có đăng ký kết hôn, như vậy là hôn nhân hợp pháp. Anh chị chung sống hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân theo chị T là do tính tình không còn hòa hợp, bất đồng quan điểm sống, cuộc sống vợ chồng thường xuyên căng thẳng, cãi nhau, anh T1 chơi bời, đập phá đồ đạc, có lần đánh chị, chị đã tha thứ nhưng anh T1 không thay đổi. Chị T và anh T1 sống ly thân nhau từ ngày 03/4/2024 đến nay. Nay chị T thấy tình cảm không còn, chị yêu cầu ly hôn anh T1.

HĐXX xét thấy, chị T và anh T1 có xảy ra mâu thuẫn, vợ chồng đã sống ly thân. Quá trình giải quyết vụ án, anh T1 không đến Tòa án làm việc, không có ý kiến gì, chứng tỏ anh T1 không mong muốn đoàn tụ. Mặt khác, tại biên bản xác minh ngày 26/4/2024, đại diện thôn G, xã N cho biết: Chị T và anh T1 là vợ chồng, sau khi kết hôn anh chị sống ở nhà anh T1 cho đến đầu năm 2022 anh chị chuyển lên xã N sinh sống (gần nhà mẹ đẻ chị T). Sau đó, vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, đến khoảng tháng 4/2024, anh T1 trở về nhà bố mẹ đẻ ở thôn G, xã N Tân sinh sống nhưng không thấy chị T về cùng anh T1; về con: Chị T và anh T1 có 01 con chung, hiện cháu đang ở cùng với chị T.

Như thế chứng tỏ cuộc hôn nhân của anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, cần giải quyết cho chị T được ly hôn anh T1 là phù hợp với quy định của pháp luật.

[3] Về con chung: Chị T và anh T1 có 01 con chung là cháu Mai Huyền A - Sinh ngày 23/12/2020, chị T yêu cầu được trực tiếp nuôi con. HĐXX thấy, từ khi chị T và anh T1 sống ly thân nhau đến nay cháu Huyền A ở với chị T, mặt khác, cháu Huyền A còn nhỏ và cùng giới tính với chị T. Vì vậy, cần xử giao cháu Huyền A cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về mức cấp dưỡng: Chị T không yêu cầu anh T1 phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung, nên miễn xét.

[4] Về tài sản: Chị T không yêu cầu giải quyết, nên miễn xét.

[5] Về án phí: Chị Mai Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm (DSST) về việc ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 266; Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật TTDS năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:

  1. Về hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Mai Thị T, cho chị T được ly hôn anh Mai Phạm T1.
  2. Về con: Giao cháu Mai Huyền A - Sinh ngày 23/12/2020 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, anh T1 không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Anh T1 có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.
  3. Về án phí: Chị Mai Thị T phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí DSST mà chị đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0005309 ngày 15/4/2024 của Chi cục THADS huyện N; chị T đã nộp đủ tiền án phí DSST.
  4. Về quyền kháng cáo: Chị T có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; anh T1 có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND huyện Nga Sơn;
  • - Chi cục THADS huyện Nga Sơn;
  • - UBND xã Nga Giáp, huyện Nga Sơn;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trịnh Thị Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 33/2024/HNGĐ - ST ngày 10/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGA SƠN, TỈNH THANH HÓA về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 33/2024/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGA SƠN, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Mai Thị T yêu cầu được ly hôn anh Mai Phạm T1, yêu cầu được trực tiếp nuôi 01 con chung, không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng tiền nuôi con chung
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger