Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TP. PHAN RANG - THÁP CHÀM

TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 10/5/2024

V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM,

TỈNH NINH THUẬN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nga

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Văn Bình

Bà Phan Thị Thanh Huệ

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Ánh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như Y - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 35/2024/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 01 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 29/3/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 25/2024/QĐST-HNGĐ ngày 25/4/2024 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Lê Thị Thu T - sinh năm 1993.
  • Nơi cư trú: Khu phố D, phường V, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận (có mặt).
  • - Bị đơn: Ông Lê Văn L - Sinh năm 1986.
  • Nơi cư trú: Khu phố C, phường V, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 16/01/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Lê Thị Thu T trình bày:

Bà và ông Lê Văn L chung sống với nhau có cưới hỏi và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường V theo Giấy chứng nhận kết hôn số 96 ngày 06/8/2019. Sau khi kết hôn thì vợ chồng sống chung nhà với nhà ngoại một thời gian. Sau đó xây nhà và chuyển đến sống tại số C N, khu phố C, phường M được khoảng gần 01 năm thì phát sinh mâu thuẫn và bà Lê Thị Thu T chuyển về nhà ngoại sống từ tháng 8 năm 2021 đến nay. Theo bà, nguyên nhân mâu thuẫn giữa hai người là do bất đồng quan điểm sống, tính cách không phù hợp, thường xuyên cãi vã xích mích. Vợ chồng không chung sống từ tháng 8 năm 2021 đến nay. Bà đã cố gắng hàn gắn tình cảm của vợ chồng nhưng ông L vẫn tính nào tật ấy, không sửa đổi tính tình, ông L thường hay chửi bới, xúc phạm gia đình bà. Nay bà đã không còn tình cảm nữa nên yêu cầu Tòa án cho ly hôn với ông Lê Văn L.

Về con chung: Quá trình chung sống, vợ chồng có 01 con chung tên Lê Nhật T1, sinh ngày 31/8/2019. Bà T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung. Bà T không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Bị đơn ông Lê Văn L trình bày như sau:

Tại bản khai ngày 28/02/2024, ông L thừa nhận quan hệ hôn nhân và con chung như trình bày của bà T. Ông xác nhận tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn nên đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà T, tuy nhiên ông muốn được quyền nuôi con chung Lê Nhật T1 nếu Tòa án giải quyết ly hôn.

Tại buổi hòa giải ngày 11/3/2024, Ông L1 thừa nhận hai vợ chồng không chung sống với nhau từ năm 2021 đến nay và nguyên nhân mâu thuẫn của hai vợ chồng là do sự kích động từ phía gia đình vợ. Ông L1 không đồng ý ly hôn vì không muốn con phải sống thiếu cha hoặc thiếu mẹ chăm sóc. Nếu Tòa án giải quyết ly hôn, bản thân ông nhận thấy bà T trực tiếp nuôi con sẽ tốt hơn vì từ trước đến nay cháu ở với mẹ. Tuy nhiên, ai là người có quyền nuôi con thì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Bị đơn ông Lê Văn L đã được triệu tập hai lần đến phiên tòa nhưng vắng mặt.

Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát: Từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đều tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự giải quyết vắng mặt bị đơn.

Về quan điểm giải quyết nội dung vụ án: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, phù hợp pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, trình bày của đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Xác định quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Nguyên đơn bà Lê Thị Thu T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với bị đơn ông Lê Văn L. Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn ở phường V, TP . - T nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân TP. Phan Rang - T theo khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Đối với việc vắng mặt của bị đơn: Từ khi thụ lý vụ án cho đến thời điểm mở phiên tòa sơ thẩm, Tòa án nhân dân TP. Phan Rang - T đã thông báo, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn là ông Lê Văn L, ông L đã đến Tòa án trình bày bản khai và tham gia phiên họp kiểm tra, giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông L vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa xét xử. Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, cùng với tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong hồ sơ vụ án để làm cơ sở giải quyết và xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định của pháp luật.

[2] Về nội dung tranh chấp:

[2.1] Về tình trạng hôn nhân: Xét cuộc hôn nhân giữa bà Lê Thị Thu T và ông Lê Văn L kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn, được Ủy ban nhân dân phường V, TP . - T, tỉnh Ninh Thuận cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 96 ngày 06/8/2019, nên đây là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bà T cho rằng hai người bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã và xích mích. Vợ chồng không chung sống từ tháng 8 năm 2021 đến nay, không còn đi lại, quan tâm chăm sóc nhau. Tại phiên tòa, bà T giữ yêu cầu khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn.

Xét thấy, theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình”. Tuy nhiên, vợ chồng bà T, ông L phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã, xích mích,... Từ lúc không còn sống chung (từ tháng 08 năm 2021) đến nay, vợ chồng bà T, ông L mạnh ai nấy sống, không quan tâm, chăm sóc gì đến nhau và bà T đã nhiều lần muốn hàn gắn: cụ thể tại thời điểm năm 2021, bà T đã nộp đơn đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn sau đó tự nguyện rút đơn để vợ chồng có cơ hội hàn gắn, tuy nhiên hai vợ chồng sau đó dẫn đến xung đột, cãi vã nên không thể hàn gắn. Theo biên bản xác minh ngày 06/3/2024, tại khu phố D, phường V, trưởng khu phố cho biết “Bà Lê Thị Thu T và ông Lê Văn L là vợ chồng nhưng từ năm 2021 đến nay thì bà T và ông L không còn chung sống với nhau tại khu phố D, phường V. Bà T hiện nay đang nuôi con nhỏ tại khu phố D, phường V. Giữa ông L và bà T có xảy ra nhiều mâu thuẫn xích mích hàng xóm xung quanh đều biết”.

Ông L trình bày muốn hòa giải đoàn tụ nhưng không tham gia tố tụng, không có mặt theo giấy báo của Tòa án thể hiện ông L không có thiện chí và không thật sự có nguyện vọng hàn gắn tình cảm vợ chồng. Vì vậy, căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xét thấy hôn nhân giữa bà T, ông L đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T.

[2.2] Về con chung: Xét về yêu cầu nuôi con chung của bà T, Hội đồng xét xử xét thấy: Từ thời điểm vợ chồng không sống chung (tháng 08 năm 2021) đến nay bà T là người trực tiếp nuôi cháu Lê Nhật T1, sinh ngày 31/8/2019; Mặt khác, tại buổi hòa giải ngày 11/3/2024, ông L cũng cho rằng nếu Tòa án giải quyết ly hôn thì bà T là người trực tiếp nuôi con sẽ tốt hơn có sự phát triển của trẻ. Xét thấy yêu cầu của bà T về nuôi con chung là phù hợp nên Hội đồng xét xử giao cháu Lê Nhật T1 cho bà T tiếp tục nuôi dưỡng.

[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con chung: Do bà Lê Thị Thu T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.4] Tài sản chung và nợ chung: Bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

[3] Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát thành phố P-T tại phiên tòa hôm nay là có căn cứ và đúng pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về án phí: Bà Lê Thị Thu T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ Luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà Lê Thị Thu T được ly hôn với ông Lê Văn L.
  2. Về con chung: Giao cho bà Lê Thị Thu T tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Lê Nhật T1, sinh ngày 31/8/2019. Ông Lê Văn L không có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung do bà Lê Thị Thu T không yêu cầu.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trong nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

  1. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  2. Về án phí: Bà Lê Thị Thu T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí là 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) bà Lê Thị Thu T đã nộp theo biên lai thu tiền số 0000732 ngày 16/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận. Bà Lê Thị Thu T đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận Thi hành án, quyền yêu cầu Thi hành án, tự nguyện Thi hành án hoặc bị cưỡng chế Thi hành án theo quy định các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu Thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm. Nguyên đơn có mặt quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 10/5/2024), bị đơn vắng mặt, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh;
  • - VKSND TP. PR-TC;
  • - Chi cục THADS TP. PR-TC;
  • - UBND phường Văn Hải (số 96/ 2019);
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Nga

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Văn Bình

Phan Thị Thanh Huệ

Nguyễn Thị Nga

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 33/2024/HNGĐ-ST ngày 10/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 33/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger