|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN NAM TỈNH NINH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 33/2024/HNGĐ-ST Ngày: 09-8-2024 V/v: Tranh chấp Ly hôn, nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN NAM, TỈNH NINH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Khánh Hưng.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phan Thị Hải Thanh và bà Nguyễn Thị Đan Thanh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thu Hiền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Nam tham gia phiên toà: Ông Lê Muộn - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 72/2024/TLST-HNGĐ, ngày 26 tháng 6 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 29/7/2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Thuận Thị Kim T, sinh năm: 1983 (có mặt).
Địa chỉ: Thôn H, xã P, huyện T, tỉnh Ninh Thuận.
Bị đơn: Ông Nại Trung T1, sinh năm: 1983 (có mặt).
Địa chỉ: Thôn H, xã P, huyện T, tỉnh Ninh Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 14/3/2024, quá trình tố tụng và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Thuận Thị Kim T trình bày: Bà với với ông Nại Trung T1 tự nguyện tìm hiểu và tiến đến chung sống với nhau từ năm 2000 và đến năm 2015 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện T. Vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng khoảng 7 năm trở lại đây luôn xảy ra mâu thuẫn do ông T1 đam mê cờ bạc, có quan hệ tình cảm bên ngoài với người phụ nữ khác và thường xuyên đánh đập bà. Bà với ông T1 mặc dù còn sống chung nhưng không ai quan tâm tới ai, phần ai người ấy sống. Nay bà xét thấy không còn tình cảm với ông T1 nên tôi yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn ông T1.
- Về con chung: Bà với ông Nại Trung T1 có 03 con chung tên Nại Thị Thành T2, sinh năm 2004, Nại Trung H, sinh năm 2007 và Nại Trung Hòa B, sinh năm 2016. Hiện cháu T2 đã trưởng thành, còn cháu H và cháu B đang sống với bà. Bà yêu cầu được tiếp tục nuôi cháu H và cháu B, bà không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Bà và ông Nại Trung T1 tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại Biên bản lấy lời khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa, bị đơn ông Nại Trung T1 trình bày: Ông với bà Thuận Thị Kim T tự nguyện tìm hiểu và tiến đến chung sống với nhau từ năm 2000 và đến năm 2015 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện T. Quá trình vợ chồng chung sống tại thôn H, xã P rất hạnh phúc, không có mâu thuẫn gì. Tuy nhiên đến tháng 6/2024 do bất đồng về quan điểm sống, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, thường xuyên cãi nhau nên bà T đã đuổi ông ra khỏi nhà, vì vậy ông bỏ đi làm ăn và hiện tạm sinh sống tại nhà cha mẹ ruột ở thôn H, xã P, huyện N. Ông thừa nhận có đánh bạc nhưng ông không bán tài sản của vợ chồng, ông thừa nhận có nhiều lần chửi bới bà T nhưng ông không đánh đập bà T. Tại phiên tòa, ông xác nhận không còn tình cảm với bà Thuận Thị Kim T nhưng ông không đồng ý ly hôn, ông yêu cầu được đoàn tụ để nuôi dạy con cái.
- Về con chung: Ông với bà Thuận Thị Kim T có 03 con chung Nại Thị Thành T2, sinh năm 2004, Nại Trung H, sinh năm 2007 và Nại Trung Hòa B, sinh năm 2016. Hiện cháu T2 đã trưởng thành, còn cháu H và cháu B đang sống với ông và bà T. Nếu Tòa án giải quyết cho ông và bà T ly hôn thì ông thống nhất thuận theo nguyện vọng của 02 con muốn chung sống với ai thì sống
- Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Phát biểu của kiểm sát viên tại phiên tòa:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của pháp luật.
- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của Thuận Thị Kim T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ kết quả tranh luận tại phiên Tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Bà Thuận Thị Kim T khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn, nuôi con với ông Nại Trung T1; ông Nại Trung T1 có nơi cư trú tại thôn H, xã P, huyện T, tỉnh Ninh Thuận. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thuận Nam.
-
[2]. Về nội dung vụ án:
- [2.1]. Về hôn nhân: Bà Thuận Thị Kim T và ông Nại Trung T1 chung sống với nhau có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Ninh Thuận theo Giấy chứng nhận kết hôn số 24, quyền số 02/2014, ngày 16/6/2015. Vì vậy, hôn nhân giữa bà Thuận Thị Kim T và ông Nại Trung T1 là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật thừa nhận.
- [2.2]. Về tình trạng hôn nhân: Bà T cho rằng vợ chồng xảy ra mâu thuẫn từ khoảng 7 năm trở lại đây, do ông T1 đam mê đánh bạc và có quan hệ nam nữ bên ngoài và thường xuyên đánh đập bà. Ông T1 thừa nhận có đánh bạc và có chửi bới nhưng không đánh bà T. Tại phiên tòa ông T1 thừa nhận không còn tình cảm với bà T, nhưng ông cho rằng vợ chồng chưa mâu thuẫn đến mức trầm trọng nên yêu cầu được đoàn tụ. Hội đồng xét xử xét thấy, ông T1 và bà T đã không còn tình cảm vợ chồng, mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu đoàn tụ của ông T1, chấp nhận yêu cầu của bà T được ly hôn ông T1.
- [2.3]. Về con chung: Bà Thuận Thị Kim T và ông Nại Trung T1 xác nhận vợ chồng có 03 con chung tên Nại Thị Thành T2, sinh năm 2004, Nại Trung H, sinh năm 2007 và Nại Trung Hòa B, sinh năm 2016. Cháu T2 hiện đã trưởng thành, có khả năng lao động tự túc. Còn cháu H và cháu B hiện đang sống cùng với bà T, ông T1. Bà T yêu cầu được tiếp tục nuôi 02 cháu H, B và không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con. Ông T1 yêu cầu giải quyết theo nguyện vọng của các con. Tại biên bản lấy lời khai các cháu H, B đều có nguyện vọng được ở cùng với bà T. Vì vậy Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà T, giao 02 con chung tên Nại Trung H, sinh năm 2007 và Nại Trung Hòa B, sinh năm 2016 cho bà T tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng.
- [3]. Về tài sản chung và nợ chung: Quá trình giải quyết vụ án ông T1 không yêu cầu Tòa án giải quyết mà để cho ông và bà T tự thuận. Tại phiên tòa, ông yêu cầu Tòa án giải quyết đối với tài sản chung và nợ chung. Xét thấy, tại phiên tòa, ông T1 chỉ trình bày ý kiến mà không cung cấp được các tài liệu chứng cứ để chứng minh, hơn nữa quá trình tố tụng cũng như trước khi mở phiên tòa, ông T1 không yêu cầu Tòa án giải quyết đối với tài sản chung và nợ chung, vì vậy căn cứ Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử không thụ lý, giải quyết đối với yêu cầu này của ông T1. Ông T1 được quyền khởi kiện bằng một vụ án dân sự riêng.
- [4]. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Nam về việc giải quyết vụ án là phù hợp quy định của pháp luật nên chấp nhận.
- [5]. Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc bà Thuận Thị Kim T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 271, Điều 273, của Bộ luật Tố tụng dân sự; Các Điều: 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Thuận Thị Kim T.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Thuận Thị Kim T được ly hôn ông Nại Trung T1.
-
Về con chung: Giao 02 con chung chưa thành niên tên Nại Trung H, sinh ngày 08/11/2007 và Nại Trung Hòa B, sinh ngày 20/4/2016 cho bà Thuận Thị Kim T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
- Về án phí: Bà Thuận Thị Kim T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng mà bà T đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0002428 ngày 21/6/2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận. Bà T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có mặt tại phiên toà, có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Dương Khánh Hưng |
Bản án số 33/2024/HNGĐ-ST ngày 09/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN NAM, TỈNH NINH THUẬN về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 33/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN NAM, TỈNH NINH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án về tranh chấp ly hôn
