|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA-TP HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 33/2024/HNGĐ-ST
Ngày 09 tháng 8 năm 2024
(V/v: Tranh chấp Hôn nhân gia đình)
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thiện.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Vân, ông Đặng Viết Côi.
- Thư ký phiên tòa: Bà Tưởng Thị Lan, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ứng Hoà, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hòa tham gia phiên toà:
Bà Nguyễn Thị Khuyến, Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 160/2024/TLST- HNGĐ ngày 10 tháng 6 năm 2024 về Tranh chấp Hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 32/2024/QĐHPT-HNGĐ ngày 25 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
*/ Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị A, sinh năm 1993; Nơi ĐKHKTT: thôn T, xã V, huyện Ứ, thành phố Hà Nội.
*/ Bị đơn: Anh Bùi Văn N, sinh năm 1988; Nơi ĐKHKTT: thôn T, xã V, huyện Ứ, thành phố Hà Nội.
* Người làm chứng: Ông Bùi Văn P, sinh năm 1954 và bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1958; Đều trú tại: thôn T, xã V, huyện Ứ, thành phố Hà Nội
(Các đương sự đều vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn, biên bản lấy lời khai cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, chị Nguyễn Thị A là nguyên đơn trình bày: chị và anh Bùi Văn N tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND xã V năm 2015. Sau khi kết hôn, vợ chồng chị sống cùng nhà với bố mẹ chồng. Vợ chồng chị cơ bản không có mâu thuẫn gì lớn, chủ yếu là mâu thuẫn với bố mẹ chồng. Sau nữa mâu thuẫn ngày càng căng thẳng, chồng chị đi làm xa nhà, không biết chuyện nhưng lại bênh vực bố mẹ đẻ. Từ đó dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng nhiều hơn, dần dần không tìm được tiếng nói chung. Bản thân chị nhận thấy không thể tiếp tục cuộc sống như này nên đã bỏ đi khỏi nhà anh N, và sống ly thân với anh N đã được 3 năm, không ai quan tâm đến ai. Khi bỏ đi chị rất muốn bế các con theo nhưng gia đình nhà chồng không cho. Nay, chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống không hạnh phúc, đã sống ly thân nhiều năm, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chị nộp đơn xin được ly hôn với anh N để ổn định cuộc sống mới.
Về con chung: chị và anh N có 03 con chung: Bùi Thị Bảo N1, sinh ngày 25/5/2015; Bùi Quang T, sinh ngày 16/01/2017 và Bùi Thị Thu C, sinh ngày 15/12/2018. Hiện nay, cả ba con chung đều đang ở với bố và ông bà nội. Sau khi ly hôn, chị có nguyện vọng được nuôi con chung. Chị không yêu cầu anh N phải cấp dưỡng nuôi con cho chị. Trường hợp anh N cũng như ông bà nội có nguyện vọng nuôi các cháu thì chị cũng chấp nhận nhường con cho anh N và ông bà nội nuôi dưỡng, vì các cháu đã ở với bố và ông bà nội từ lâu đã quen môi trường, mặt khác hiện chị đang đi làm công nhân xây dựng ở Hải Dương, thuê nhà, chỗ ở không ổn định cuộc sống nên cũng không thuận tiện trong việc chăm sóc các cháu.
Về tài sản chung, công nợ chung: anh chị không có, chị không đề nghị Toà án giải quyết.
Chị đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải hai vợ chồng chị vì chị cương quyết giữ nguyên quan điểm xin được ly hôn với anh N, chị bận công việc, nhà lại ở xa nên để tránh mất thời gian của các bên và của Tòa án chị đề nghị Tòa không tiến hành hòa giải, cũng xin được vắng mặt tại tất cả các buổi làm việc khác của Tòa, xin được vắng mặt tại phiên tòa xét xử vụ án vì chị biết anh N sẽ không đến Tòa án làm việc.
Bị đơn anh Bùi Văn N: Không có ý kiến trình bày gì.
Tại biên bản lấy lời khai có trong hồ sơ vụ án, người làm chứng – ông Bùi Văn P và bà Nguyễn Thị M là bố mẹ đẻ anh N trình bày: ông bà là bố mẹ đẻ của anh Bùi Văn N, là bố mẹ chồng của chị Nguyễn Thị A. Về mâu thuẫn vợ chồng chị A và anh N cụ thể như nào ông bà không nắm rõ, tuy nhiên, do mâu thuẫn nên chị A đã bỏ đi khỏi nhà ông bà khoảng gần 3 năm nay, để lại 03 con cho ông bà nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục. Nay chị A có đơn xin ly hôn anh N, quan điểm ông bà đề nghị Tòa án căn cứ theo quy định pháp luật để giải quyết. Chị A và anh N có 03 con chung, hiện đều đang ở với anh N và ông bà, cùng chăm sóc các cháu.
Anh N – con trai ông bà lao động tự do, đi làm xa nhà, thỉnh thoảng mới về nhà, nhưng anh N làm ở đâu cụ thể thì ông bà không biết. Ông bà đã thông báo cho anh N biết về việc chị A nộp đơn xin ly hôn đến Tòa án, nhưng vì công việc bận, lại ở xa nên anh N xin được vắng mặt tại tất cả các buổi làm việc của Tòa án, xin được vắng mặt tại phiên tòa xét xử vụ án. Tòa cứ giải quyết theo pháp luật. Anh N có đăng ký thường trú và sống cùng nhà với ông bà. Ông bà nhận trách nhiệm giao lại các văn bản tố tụng của tòa án cho anh N. Ông bà xin vắng mặt các buổi làm việc khác của tòa án, xin được vắng mặt tại phiên tòa xét xử vụ án vì việc này không liên quan đến ông bà.
Tại biên bản xác minh tại UBND xã V, Công an xã vạn T1 thể hiện: Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị A, sinh năm 1993 và anh Bùi Văn N, sinh năm 1988, tự nguyện kết hôn, đăng ký kết hôn tại UBND xã V ngày 07/7/2015. Sau khi kết hôn, chị A chuyển về nhà anh N sinh sống cùng anh N và bố mẹ anh N. Mâu thuẫn vợ chồng cụ thể như nào chính quyền địa phương không nắm được, chỉ biết khoảng mấy năm gần đây chị A và anh N sống ly thân, chị A không còn sống ở nhà anh N, chỉ có 03 con chung của anh N và chị A vẫn ở nhà do ông bà nội chăm sóc. Nay chị A có đơn xin ly hôn anh N, quan điểm chính quyền địa phương: đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
Chị A và anh H có 03 con chung: Bùi Thị Bảo N1, sinh ngày 25/5/2015; Bùi Quang T, sinh ngày 16/01/2017 và Bùi Thị Thu C, sinh ngày 15/12/2018. Hiện nay cả 3 con chung đều đang ở nhà anh N, do ông bà nội chăm sóc.
* Về nơi cư trú của anh N: anh N có đăng ký thường trú và sống cùng nhà với bố mẹ đẻ là ông Bùi Văn P, sinh năm 1954 và bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1958 tại thôn T, xã V, huyện Ứ, thành phố Hà Nội. Tuy nhiên, anh N đi làm xa nhà, thỉnh thoảng có về nhà nhưng chính quyền địa phương không nắm rõ anh N làm việc ở đâu, và cũng không biết cụ thể khi nào anh N về nhà. Do đó việc tống đạt trực tiếp các văn bản tố tụng của Tòa án cho anh N không thực hiện được.
* Tại phiên tòa, các đương sự đều vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hòa phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thực hiện đầy đủ các quy định về tố tụng dân sự như tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho các đương sự, các đương sự được trình bày quan điểm, tiến hành hòa giải theo đúng quy định nhưng không hòa giải được vì lý do bị đơn vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai. Hội đồng tiến hành xét xử vụ án đúng quy định của pháp luật. Về nội dung vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết cho chị A được ly hôn với anh N; giao con chung cho anh N trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục; chị A không phải cấp dưỡng nuôi con cho anh N cho đến khi có sự thay đổi mới hoặc có đề nghi khác; chị A nộp án phí ly hôn theo quy định của pháp luật;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đợc thẩm tra tại phiên Toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, ý kiến của các đơng sự, H1 đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Chị Nguyễn Thị A làm đơn ly hôn và đã đóng dự phí ly hôn theo đúng quy định của pháp luật. Đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình, Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa tiến hành thụ lý, giải quyết theo đúng quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự là đúng thẩm quyền.
Tòa án đã triệu tập anh N đến Tòa để hòa giải cũng như tham gia phiên tòa nhưng thông qua bố mẹ đẻ anh N có quan điểm vì anh N bận đi làm nên anh không về tòa án làm việc được, chị A, ông P và bà M đều xin vắng mặt tại phiên tòa nên Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự theo đúng quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị A và anh Bùi Văn N kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã V ngày 07/7/2015 là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống hai vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân theo chị A trình bày là do bất đồng quan điểm, không thể tìm được tiếng nói chung, vì mâu thuẫn căng thẳng trầm trọng nên chị A và anh N đã sống ly thân mấy năm nay, không ai quan tâm đến ai. Chị A cương quyết xin được ly hôn với anh N; anh N không đến Tòa án làm việc trình bày quan điểm.
Hội đồng xét xử thấy, mâu thuẫn giữa vợ chồng chị A và anh N là căng thẳng, có thời gian sống ly thân dài, hôn nhân giữa hai vợ chồng đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên xử chấp nhận đơn ly hôn của chị A, xử cho chị A được ly hôn với anh N là phù hợp với quy định của khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[3] Về con chung: Chị A và anh N có 03 con chung là Bùi Thị Bảo N1, sinh ngày 25/5/2015; Bùi Quang T, sinh ngày 16/01/2017 và Bùi Thị Thu C, sinh ngày 15/12/2018. Hiện tại, cả ba cháu đang ở với anh N và ông bà nội. Chị A có nguyện vọng sau khi ly hôn được nuôi dưỡng cả ba con chung và không yêu cầu anh N phải cấp dưỡng nuôi con cho chị. Trường hợp anh N cũng như ông bà nội có nguyện vọng nuôi các cháu thì chị cũng chấp nhận nhường con cho anh N và ông bà nội nuôi dưỡng, vì các cháu đã ở với bố và ông bà nội từ lâu, đã quen môi trường, mặt khác hiện chị đang đi làm công nhân xây dựng ở Hải Dương, thuê nhà trọ, không ổn định cuộc sống nên cũng không thuận tiện trong việc chăm sóc các cháu; Anh N không đến Tòa để trình bày nguyện vọng nhưng thông qua bố mẹ đẻ được biết anh N cũng như ông bà nội đều có nguyện vọng được nuôi cả ba con chung, phù hợp với nguyện vọng của chị A. Do đó, để đảm bảo môi trường sống tốt nhất cho các cháu nhỏ, theo nguyện vọng của đương sự và thực tiễn cuộc sống, HĐXX giao cả ba con chung cho anh Bùi Văn N trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục; Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với chị A cho đến khi có thay đổi mới hoặc có đề nghị khác là phù hợp với quy định pháp luật.
[4] Về tài sản và công nợ chung: Chị A không yêu cầu đề nghị Tòa giải quyết; anh N không đến Tòa án trình bày quan điểm, nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết trong bản án này.
[5] Về án phí và quyền kháng cáo: Chị A phải nộp án phí; nguyên đơn và bị đơn đều có quyền kháng cáo theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 39 Bộ luật Dân sự (năm 2015) và căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81; Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình (năm 2014); khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147; Điều 228; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng Dân sự (năm 2015); Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
- Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị A được ly hôn anh Bùi Văn N.
- Về con chung: Chị Nguyễn Thị A và anh Bùi Văn N có 03 con chung là: Bùi Thị Bảo N1, sinh ngày 25/5/2015; Bùi Quang T, sinh ngày 16/01/2017 và Bùi Thị Thu C, sinh ngày 15/12/2018. Sau ly hôn, giao cả ba con chung cho anh N là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục.
Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với chị A cho đến khi có yêu cầu hoặc có thay đổi khác. Sau ly hôn, chị A có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
“Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dỡng, giáo dục con thì ngời trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Toà án hạn chế quyền thăm nom con của ngời đó.Cha mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con”.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị A phải nộp 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0011778 ngày 10 tháng 6 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn đều có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết tại UBND xã (phường) nơi cư trú đối với người vắng mặt./.
|
Nơi nhân:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Văn Thiện |
Bản án số 33/2024/HNGĐ-ST ngày 09/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hôn nhân gia đình
- Số bản án: 33/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Án
