TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH TỈNH BÌNH THUẬN Bản án số: 33/2024/HS-ST Ngày: 09 - 7 - 2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Yến.
Các Hội thẩm nhân dân.
- 1. Ông Đinh Xuân Thủy.
- 2. Ông Thông Phi.
- Thư ký phiên toà: Bà Lương Thị Tâm – Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Bà Đinh Thị Vân Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 33/2024/TLST-HS, ngày 06 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2024/QĐXXST- HS, ngày 25 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Minh N, sinh năm 1988 tại Đồng Nai; nơi cư trú: Ấp T, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thành N1, sinh năm 1958 và bà Trần Thị Q, sinh năm 1962; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo đang chấp hành án tại Nhà tạm giữ Công an huyện T theo bản án số: 20/2024/HSST, ngày 07/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Bị hại:
- Bùi Công L, sinh năm 1981; địa chỉ: Thôn D, xã G, huyện T, tỉnh Bình Thuận: Vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Nguyễn Thị Thu T, sinh năm 2003; địa chỉ: Thôn E, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận: Vắng mặt.
- Dương Văn L1, sinh năm 1987; địa chỉ: Thôn S, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận: Vắng mặt.
- Đỗ Xuân T1, sinh năm 1989; địa chỉ: Thôn E, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận: Có mặt.
- Lê Tấn S, sinh năm 1985; địa chỉ: Thôn D, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận: Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 18 giờ, ngày 29/6/2023 Nguyễn Trường Xuân V cùng Trần Minh N đi tìm nấm mối ở khu vực xã G. Khi đến rẫy của ông Bùi Công L thì thấy nhà đang khóa cửa bằng ổ khóa ngoài, không có người ở nhà nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. V đập phá ổ khóa rồi gọi N cùng vào trộm cắp tài sản. Sau khi vào nhà, V và N phát hiện có 01 chiếc xe mô tô nên sử dụng các dụng cụ có sẵn trong nhà tháo rời động cơ xe mô tô để trộm cắp. Tiếp đó, N, V cùng nhau khiêng 01 máy bơm thuốc ra xe của N rồi quay vào nhà lấy 02 máy cưa đem ra xe của V. V tiếp tục vào nhà lấy 1 lóc máy xe mô tô, 02 chai nhớt, 01 ổn áp năng lượng mặt trời đem ra xe rồi V cùng N điều khiển xe mô tô mang các tài sản trộm được về nhà vợ của V là Nguyễn Thị Thu T để cất giấu. Sau đó, V bán cho Đỗ Xuân T1 01 máy cưa với giá 800.000đ, bán cho Lê Tấn S 01 máy cưa với giá 1.000.000đ; bán cho Dương Văn L1 01 máy bơm thuốc với giá 1.900.000đ. Số tiền bán các tài sản trên V sử dụng vào mục đích cá nhân. Quá trình điều tra, Trần Minh N thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Tại bản cáo trạng số: 33/CT-VKS-TL, ngày 05/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận truy tố bị cáo Trần Minh N về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh khẳng định bản cáo trạng truy tố đối với bị cáo Trần Minh Nghĩa 1 có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Đề nghị xem xét áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Trần Minh N: Từ 06 tháng đến 09 tháng tù.
Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Điều tra viên và Kiểm sát viên. Cho nên, hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên là phù hợp với quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
[2] Về hành vi vi phạm của bị cáo Trần Minh N, Hội đồng xét xử xét thấy:
Vào khoảng 18 giờ, ngày 29/6/2023 Trần Minh N cùng Nguyễn Trường Xuân V có hành vi lén lút vào khu vực rẫy của ông Bùi Công L tại thôn D, xã G, huyện T chiếm đoạt tài sản gồm: 02 máy cưa, 0 bộ máy phun thuốc, 01 bình ắc quy, 01 ổn áp năng lượng mặt trời, 01 bộ động cơ xe máy, 02 chai nhớt.
Tại bản kết luận định giá tài sản số: 22/KL-HĐĐGTS, ngày 10/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T kết luận:
- 01 máy cưa cầm tay màu cam có giá: 300.000đ.
- 01 máy cưa cầm tay màu trắng cam có giá 500.000đ.
- 01 bình ắc quy loại 12V-30H, nhãm hiệu DONGNAI trị giá 280.000đ.
- 01 bộ máy phun thuốc (gồm máy nổ bằng xăng hiệu BELL 5.5HP và đầu bơm, màu đỏ hiệu THAILAND) trị giá 940.000đ;
- 01 động cơ xe mô tô, hiệu ORIENTALL, không có số khung, số máy trị giá 112.000đ.
- 02 chai nhớt hiệu ACCESS 1000, màu vàng trị giá 90.000đ;
- 01 ổn áp năng lượng mặt trời, hiệu SM2430U trị giá 180.000đ.
Tổng trị giá tài sản bị thiệt hại là 2.402.000đ.
Như vậy, Trần Minh N có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Thế nhưng, Trần Minh N đã có hành vi lén lút trộm cắp tài sản của ông Bùi Công L có tổng trị giá 2.402.000đ. Cho nên, Trần Minh N đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Trần Minh N không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong giai đoạn điều tra cũng như tại phiên tòa, Trần Minh N thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.
[4] Về tổng hợp hình phạt:
Bị cáo Trần Minh N đang chấp hành hình phạt 07 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” tại bản án số: 20/2024/HSST, ngày 07/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh. Hiện nay, bị cáo đang bị xét xử về tội phạm trước khi có bản án này. Cho nên, sau khi áp dụng hình phạt đối với bị cáo tại bản án này, cần phải tổng hợp hình phạt chung theo quy định tại khoản 1 Điều 56 BLHS buộc bị cáo Trần Minh N phải chấp hành hình phạt chung cho hai bản án là phù hợp.
Do bị cáo chấp hành hình phạt 07 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” thời hạn tù tính từ ngày 19/01/2024. Bị cáo chấp hành án liên tục, không bị gián đoạn từ ngày 19/01/2024 cho đến nay. Do đó, sau khi tổng hợp hình phạt của hai bản án thì thời hạn tù được tính từ ngày 19/01/2024 được xem là đã khấu trừ thời gian chấp hành hình phạt của bản án số: 20/2024/HSST, ngày 07/5/2024 vào thời hạn chấp hành hình phạt chung của bản án này.
[5] Về án phí: Cần buộc bị cáo Trần Minh N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Đối với Nguyễn Trường Xuân V có hành vi cùng Trần Minh N trộm cắp tài sản của ông Bùi Công L. Hiện nay, Nguyễn Trường Xuân V đã bỏ trốn khỏi địa phương. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã ban hành Quyết định truy nã đối với Nguyễn Trường Xuân V. Cho nên, khi nào bắt được sẽ xử lý sau.
Đối với những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Dương Văn L1, Đỗ Xuân T1, Lê Tấn S đã có hành vi mua một số tài sản do Nguyễn Trường Xuân V bán. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, có đủ căn cứ xác định: Tại thời điểm mua bán Dương Văn L1, Đỗ Xuân T1, Lê Tấn S không biết tài sản này do Nguyễn Trường Xuân V trộm cắp mà có nên không có đủ căn cứ xác định Dương Văn L1, Đỗ Xuân T1, Lê Tấn S tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có. Cho nên, Hội đồng xét xử không xét đến.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Về tội danh:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tuyên bố: Bị cáo Trần Minh N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Về hình phạt:
Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; khoản 1 Điều 56 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Xử phạt Trần Minh N: 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Tổng hợp hình phạt với 07 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” tại bản án số: 20/2024/HSST, ngày 07/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh:
- Buộc bị cáo Trần Minh N phải chấp hành hình phạt chung cho hai bản án là 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/01/2024.
Về án phí:
Căn cứ vào: Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Buộc bị cáo Trần Minh N phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm, sung công quỹ Nhà nước.
Về quyền kháng cáo:
Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.
Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (09/7/2024). Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. (Đã giải thích quyền kháng cáo).
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Yến |
Bản án số 33/2024/HS-ST ngày 09/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH, TỈNH BÌNH THUẬN về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 33/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Minh N phạm tội trộm cắp tài sản
