|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG TỈNH BẮC GIANG Số: 33/2024/HNGĐ - ST Ngày 08 - 7 - 2024 “V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con, chia tài sản chung” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Biên
Bà Nguyễn Thị Vượng
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Thiện - Cán bộ Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Cẩm Vân - kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 7 năm 2024, Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang mở phiên tòa xét xử công khai vụ án thụ lý số 414/2023/TLST-HNGĐ, ngày 11 tháng 12 năm 2023, về việc “Ly hôn, tranh chấp về con chung, chia tài sản chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2024/QĐST-HNGĐ ngày 11/6/2024, quyết định hoãn phiên tòa số 26/2024/QĐST-HNGĐ ngày 28/6/2024, giữa các đương sự:
- * Nguyên đơn: Vũ Thị Thu H, sinh năm 1994. Địa chỉ: Tổ dân phố T, thị trấn V, huyện L, tỉnh Bắc Giang. (Có mặt)
- * Bị đơn: Nguyễn Văn N, sinh năm: 1991. Địa chỉ: Thôn T, xã Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (Có mặt)
- * Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập: Ông Nguyễn Văn V, sinh năm: 1963. Địa chỉ: Thôn T, xã Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (Xin vắng mặt)
- * Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Trịnh Thị C, sinh năm: 1969 (Xin vắng mặt)
- Bà Đoàn Thị K, sinh năm: 1961 (Vắng mặt)
- Chị Nguyễn Thị T, sinh năm: 1989 (vắng mặt)
- Cùng địa chỉ: Thôn Tân Mỹ, xã Đồng Sơn, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang
- 4. Bà Nguyễn Thị Thúy N1, sinh năm: 1971. Địa chỉ: Tổ dân phố T, thị trấn V, huyện L, tỉnh Bắc Giang. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện ghi ngày 27/11/2023, bản tự khai và các lời khai tiếp theo, nguyên đơn chị Vũ Thị Thu H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn N đã kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Giang theo giấy chứng nhận kết hôn số 86 ngày 31/10/2018. Sau ngày cưới, vợ chồng về chung sống, làm ăn tại xã Đ, thành phố B. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hòa thuận và đã có một con chung. Sau khi sinh con, do một phần khó khăn về kinh tế, một phần do anh N thiếu quan tâm, chăm sóc vợ, con và còn có quan hệ ngoại tình dẫn đến phát sinh mâu thuẫn. Vợ, chồng thường to tiếng, cãi, chửi nhau, anh N nhiều lần đánh đập chị, đỉnh điểm mâu thuẫn ngày 08/6/2023, sau khi bị anh N đánh chị đã đưa con về nhà ngoại ở. Chị đã có đơn tố cáo anh N về hành vi bạo lực gia đình và đã được cơ quan chức năng giải quyết. Mâu thuẫn giữa hai vợ chồng cho đến nay không hòa giải được. Nay tình cảm vợ chồng không còn, vợ chồng không còn khả năng đoàn tụ, chị tha thiết đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Văn N.
Về con chung: Chị và anh Nguyễn Văn N có 01 con chung là Nguyễn Vũ Minh T1, sinh ngày 14/6/2020. Hiện con khỏe mạnh và đang sống cùng chị. Khi ly hôn chị đề nghị Tòa án giao cho chị trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Chị yêu cầu anh N đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con theo mức 3.000.000đồng/1 tháng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án anh N có yêu cầu giải quyết chia tài sản chung của vợ chồng, đến nay chị và anh N đã thống nhất được việc chia tài sản chung; cụ thể: Anh N đã trả cho chị chiếc xe mô tô biển kiểm soát 98M1-054.24, tên chủ sở hữu Vũ Thị Thu H, là tài sản của bố, mẹ chị mua riêng cho chị trước khi kết hôn. Đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision biển kiểm soát 98B3-547.36 là tài sản chung của chị và anh N, chị đã giao lại cho anh N sở hữu và anh N đã trích chia trả cho chị số tiền 12.000.000 đồng. Anh N rút yêu cầu khởi kiện về phân chia tài sản chung, chị nhất trí.
Đối với yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn V, yêu cầu chị và anh N có trách nhiệm trả số tiền đóng phường 95.400.000 đồng cho ông V, bà C, chị không đồng ý vì đây là tiền của vợ, chồng chị đã tạo lập được và đã nhờ ông V, bà C đi đóng hộ. Khi lấy tiền phường, vợ chồng chị và ông V đã nói rõ nên mới được rút tiền phường để vợ chồng về làm ăn, không có việc vợ, chồng chị vay tiền của vợ chồng ông V. Chị đã giao nộp các tài liệu, chứng cứ như bản phô tô sổ ghi đóng tiền phường của bà K, bản chụp tin nhắn các giao dịch chuyển khoản và bản ghi âm cuộc nói chuyện giữa chị, anh N và ông V, bà C, ghi âm giữa chị và bà K trong đó có các nội dung liên quan đến việc đóng số tiền phường này. Đề nghị Tòa án xem xét theo quy định pháp luật để đảm bảo quyền lợi ích hợp pháp cho chị.
Quá trình tham gia tố tụng, tại bản tự khai, đơn khởi kiện ghi ngày 14/01/2024 và các lời khai tiếp theo bị đơn – anh Nguyễn Văn N trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh xác nhận chị H trình bày về thời gian, điều kiện kết hôn giữa hai bên và mâu thuẫn vợ chồng là đúng. Nay vợ chồng không có tiếng nói chung, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, kéo dài không thể đoàn tụ, chị H đề nghị ly hôn, anh đồng ý.
Về con chung: Anh và chị H có một con chung là Nguyễn Vũ Minh T1, sinh ngày 14/6/2020. Nay anh không nhất trí để chị H nuôi con chung. Ly hôn, anh xin nuôi con chung và không yêu cầu chị H đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung. Trường hợp Tòa án giao con chung cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng thì anh đề nghị xem xét việc cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định pháp luật. Anh không chấp nhận mức cấp dưỡng chị H đưa ra.
Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Tại đơn khởi kiện, anh yêu cầu Tòa án xem xét phân chia tài sản chung của vợ chồng bao gồm: 01 máy lạnh giá 8.630.000 đồng mua tháng 6 năm 2019; 01 điện thoại Iphone SE giá 7.470.000 đồng mua tháng 4 năm 2022; 01 điện thoại OPPO A57 giá 3.370.000 đồng mua tháng 4 năm 2023; 01 xe mô tô Honda Wave của chị H; 01 xe Honda Vision biển kiểm soát 98B3-547.36, trị giá 35.000.000 đồng mua năm 2019. Tuy nhiên, quá trình giải quyết, anh và chị H đã tự thỏa thuận được việc giải quyết, phân chia tài sản chung của vợ chồng, do đó anh có đơn xin rút yêu cầu khởi kiện. Nay anh vẫn giữ nguyên ý kiến này, đề nghị Tòa án đình chỉ đối với yêu cầu chia tài sản chung của anh.
Đối với yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn V: Anh xác nhận vợ chồng anh có khoản tiền nợ ông V, bà C như đơn khởi kiện của ông V, bà C đã nêu.
Anh đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết yêu cầu của ông V, chị H và anh mỗi người sẽ chịu trách nhiệm trả lại cho ông V, bà C ½ số tiền ông V yêu cầu.
Tại đơn khởi kiện ngày 16/01/2024, đơn khởi kiện sửa đổi, bổ sung ghi ngày 25/02/2024 và các lời khai tiếp theo ông Nguyễn Văn V trình bày: Anh Nguyễn Văn N là con trai và chị Vũ Thị Thu H là con dâu của ông. Trong quá trình chung sống, vợ chồng anh N, chị H đã xảy ra mâu thuẫn dẫn đến không thể hòa giải được, hiện nay cả hai đã sống ly thân. Từ tháng 3 năm 2021, vợ chồng ông có chơi phường với bà Đoàn Thị K ở cùng thôn, tiền phường đóng góp hàng tháng, mỗi tháng là 3.000.000 đồng. Đây là khoản tiền của vợ chồng ông và đã đóng thường xuyên. Tháng 6 năm 2022 anh N về ở với vợ chồng ông. Tháng 9 năm 2022, chị H về ở cùng. Sau đó từ tháng 10/2022 đến tháng 2/2023, mỗi tháng ông đều đưa tiền nhờ anh N đến nhà bà K đóng tiền phường giúp ông. Tháng 3/2023, chị H và anh N nói cần vốn làm ăn nên xin vợ chồng ông cho rút số tiền phường trên, vợ chồng ông đã đồng ý cho anh N, chị H vay. Số tiền phường chị H và anh N đã đến nhà bà K trực tiếp rút là 95.400.000 đồng. Nay ông yêu cầu anh N và chị H phải trả lại cho vợ chồng ông số tiền phường trên.
Bà Trịnh Thị C trình bày lời khai nhất trí với ý kiến, yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn V.
Bà Đoàn Thị K trình bày lời khai: Bà có lập phường ngày 25/3/2021, khi lập phường có 29 người tham gia và đều cùng xóm, trong đó có bà Vân C1. Hình thức đóng phường mỗi tháng một lần là 3.000.000 đồng và đóng vào ngày 25 hàng tháng. Việc rút phường lần lượt từng người theo từng tháng. Người rút tháng đầu được rút tổng số tiền gốc của 29 xuất, nhưng phải trả 400.000 đồng tiền lãi của tháng đó, từ tháng tiếp theo phải đóng số tiền gốc và tiền lãi đóng mỗi tháng cho đến khi hết phường. Những người rút tiếp theo ở tháng nào thì được rút tổng số 29 suất tiền gốc và tiền lãi tính đến tháng họ rút, những tháng tiếp theo họ vẫn phải đóng gốc, lãi trả người khác. Mức lãi đóng 400.000 đồng/1 tháng, riêng chủ phường được trả 400.000 đồng/tháng. Vợ chồng ông V là người đặt vấn đề với bà cho chơi phường cùng. Hàng tháng bà C1 đều trực tiếp đến nộp tiền phường cho bà mỗi tháng 3.000.000 đồng. Tháng 12 năm 2022 thì thấy chị H là con dâu bà C1 có chuyển khoản tiền phường cho con dâu bà tên là Nguyễn Thị T, chị T đã rút đưa cho bà. Tháng 01 năm 2023 anh N đóng tiền phường cho bà. Tháng 02 năm 2023, chị H đề nghị cho rút tiền phường, tuy nhiên lần đầu bà không đồng ý và nói rõ chỉ khi nào ông V, bà Cộng đồng ý cho chị H, anh N rút tiền thì mà mới đồng ý. Tháng sau đó khi ông V đã có ý kiến nhất trí cho anh N, chị H rút tiền, bà đã đưa tiền cho chị H, anh N số tiền 95.400.000 đồng và yêu cầu anh N, chị H ký vào sổ. Sau đó, từ tháng 4 năm 2023 đến tháng 9 năm 2023, hàng tháng gia đình ông V, bà C1 tiếp tục đóng tiền phường cho bà, mỗi tháng 3.400.000 đồng, khi thì chuyển khoản, khi nộp tiền mặt. Ngày 25/9/2023 thì kết thúc phường. Bà chỉ biết ông V, bà C1 là người đề nghị cho chơi phường, đã đóng góp tiền phường nhiều tháng, còn bản chất khoản tiền bỏ ra chơi phường là của ông V, bà C1 hay của vợ chồng anh N, chị H thì bà không biết.
Bà Nguyễn Thị Thúy N1 trình bày: Bà đã nhận được thông báo thụ lý của Tòa án đối với yêu cầu khởi kiện phân chia tài sản của anh N. Anh N trình bày xác định bà đang quản lý các tài sản của anh N là không đúng. Nay anh N và chị H đã tự thỏa thuận được việc phân chia tài sản, không yêu cầu Tòa án giải quyết thì bà nhất trí.
Chị Nguyễn Thị T đã được Tòa án gửi giấy báo lên làm việc, tham gia tố tụng nhưng không đến và không có lời khai.
Ngày 09/5/2024, anh Nguyễn Văn N có đơn xin rút yêu cầu khởi kiện phân chia tài sản.
Ngày 02/7/2024, ông Nguyễn Văn V, bà Trịnh Thị C có đơn xin rút yêu cầu khởi kiện đối với anh Nguyễn Văn N và chị Vũ Thị Thu H về việc đòi anh N, chị H trả lại số tiền 95.400.000 đồng.
Chị Vũ Thị Thu H xác định vợ chồng không thể đoàn tụ, quá trình tòa án hòa giải, chị và anh N đã đồng thuận ly hôn nên đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết. Chị yêu cầu Tòa án giao cho chị nuôi con chung Nguyễn Vũ Minh Trang, sinh ngày 14/6/2020, yêu cầu anh N đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con theo mức 3.000.000 đồng/tháng từ khi xét xử cho đến khi con đủ 18 tuổi. Vì chị phí nuôi cháu T1 hiện khoảng 6.000.000 đồng mỗi tháng, bao gồm tiền học, tiền ăn uống, tiền thuốc, sữa, bỉm và các chi phí phát sinh khác. Chị không đồng ý để anh N nuôi con vì con là con gái, còn nhỏ, bản thân chị đủ điều kiện chăm sóc, nuôi con. Về tài sản chị và anh N đã tự giải quyết, nay không có tranh chấp. Đối với việc anh N, ông V xin rút đơn khởi kiện chị nhất trí.
Anh Nguyễn Văn N xác định vợ chồng không chung sống được với nhau nên thuận tình ly hôn như đã nêu tại phiên hòa giải. Anh đề nghị Tòa án giao cho anh nuôi con chung, không yêu cầu chị H đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con vì hiện anh có mức thu nhập bình quân khoảng 12 triệu đồng đến 13 triệu đồng mỗi tháng. Anh không đồng ý cho chị H nuôi con, không đồng ý đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con theo yêu cầu của chị H. Đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết theo quy định. Anh đã có đơn xin rút yêu cầu về việc phân chia tài sản chung, nay vẫn giữ nguyên ý kiến. Anh nhất trí với việc ông V xin rút yêu cầu khởi kiện.
Bà Nguyễn Thị Thúy N1 vẫn giữ nguyên lời khai như quá trình giải quyết vụ án đã trình bày. Bà K, chị T vắng mặt không có lý do. Ông V, bà C có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký là đúng pháp luật. Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã thực hiện các quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 điều 28; điểm a khoản 1 điều 35; khoản 1 điều 39; điều 147; Điều 217; điều 218; điều 227; điều 228; điều 244; điều 271; điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Các điều 51, 55, 58, 81, 82, 83, 110, 116 của Luật Hôn nhân và gia đình; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Đề nghị xử:
Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Vũ Thị Thu H và anh Nguyễn Văn N.
Về con chung: Giao chị Vũ Thị Thu H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung Nguyễn Vũ Minh T1, sinh ngày 14/6/2020.
Buộc anh Nguyễn Văn N đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con với mức từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000đồng/1 tháng. Thời gian đóng góp tính từ tháng 7 năm 2024 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.
Đình chỉ đối với yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn N về việc chia tài sản chung.
Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn V về việc đòi anh N, chị H trả lại số tiền 95.400.000 đồng.
Về án phí: Chị H, anh N mỗi người phải chịu 75.000 đồng án phí ly hôn theo quy định pháp luật. Anh N phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Đơn khởi kiện của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập cùng các tài liệu, chứng cứ đã giao nộp là hoàn toàn hợp lệ, đảm bảo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về hình thức và nội dung đơn khởi kiện.
[2].Về thẩm quyền giải quyết: Đây vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung, chia tài sản chung”, bị đơn cư trú tại thành phố B nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang theo quy định tại khoản 1 điều 28; điểm a khỏa 1 điều 35; điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[3]. Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, thư ký và Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng pháp luật. Nguyên đơn, bị đơn; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định tại điều 70,71, 72, 73 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, nguyên đơn, bị đơn có mặt, một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt, Hội đồng xét xử căn cứ điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.
[4]. Về nội dung:
[4.1]. Về quan hệ hôn nhân:
Căn cứ lời khai của nguyên đơn, bị đơn cùng giấy chứng nhận kết hôn do nguyên đơn cung cấp cho thấy: Chị Vũ Thị Thu H và anh Nguyễn Văn N đã kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, thành phố B ngày 31/10/2018, Hội đồng xét xử xác định quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh N là hợp pháp.
Về mâu thuẫn vợ chồng: Lời khai của chị Vũ Thị Thu H và anh Nguyễn Văn N đều thừa nhận vợ chồng chung sống đến năm 2023 thì xảy ra mâu thuẫn gay gắt, do anh N có hành vi, xử xử không đúng, cả hai đã sống ly thân. Ngoài ra, ông V, bà C là bố, mẹ đẻ anh N cũng xác nhận tình trạng mâu thuẫn trên của hai bên, điều đó cho thấy tình trạng mâu thuẫn giữa chị H, anh N đã trầm trọng, kéo dài, không thể hòa giải. Quá trình giải quyết vụ án, chị H và anh N đã thống nhất thuận tình ly hôn, đến nay vẫn giữ nguyên ý kiến trên, do đó Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại điều 51, 55 của Luật hôn nhân và gia đình công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị H và anh N.
[4.2]. Về con chung: Chị H và anh N có một con chung là Nguyễn Vũ Minh T1, sinh ngày 14/6/2020. Hiện nay do chị H chăm sóc, nuôi dưỡng và cháu T1 phát triển bình thường về thể chất, trí tuệ. Nay ly hôn, chị H và anh N đều có nguyện vọng được nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy, cháu T1 là con gái, hiện còn nhỏ, rất cần sự chăm sóc, nuôi dưỡng của mẹ, hơn nữa chị H có nơi cư trú, có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử quyết định giao cháu T1 cho chị H nuôi dưỡng là đảm bảo quyền lợi hợp pháp của cháu T1 cũng như phù hợp với quy định tại điều 58, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình.
Về cấp dưỡng nuôi con: Quá trình giải quyết vụ án, chị H yêu cầu anh N phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung, mức cấp dưỡng yêu cầu là 3.000.000 đồng/01 tháng, tuy nhiên, anh N không đồng ý. Hội đồng xét xử thấy, về mức chi phí cho cháu T1, chị H trình bày chi phí trung bình cho cháu T1 hiện nay mỗi tháng khoảng 6.000.000 đồng, bao gồm: tiền học 2.200.000 đồng, còn lại tiền ăn, tiền mua sữa uống, tiền thuốc, bỉm và các chi phí phát sinh khác. Hội đồng xét xử thấy, việc chị H yêu cầu anh N đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con là hoàn toàn phù hợp với quy định tại điều 110 Luật hôn nhân và gia đình. Do đó cần buộc anh N phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi cháu T1 để đảm bảo quyền lợi được chăm sóc, nuôi dưỡng của cháu. Mức cấp dưỡng chị H đưa ra anh N không nhất trí, nên Hội đồng xét xử căn cứ mức chi phí thực tế hiện nay đối với cháu T1, căn cứ mức thu nhập của anh N, chị H, mức lương cơ sở tại thời điểm xét xử, buộc anh N đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi cháu T1 mỗi tháng 2.500.000 đồng. Thời gian đóng góp tiền cấp dưỡng tính từ tháng 7 năm 2024 cho đến khi cháu T1 đủ 18 tuổi.
[4.3]. Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản:
Đối với yêu cầu chia tài sản chung của anh Nguyễn Văn N đã được Tòa án thụ lý, nay anh N và chị H đều khai đã tự thỏa thuận, giải quyết xong, anh N đã có đơn xin rút yêu cầu khởi kiện về việc phân chia tài sản chung của vợ chồng, do đó Hội đồng xét xử chấp nhận việc rút đơn khởi kiện của anh N, đình chỉ đối với yêu cầu về việc phân chia tài sản chung của anh N.
Đối với yêu cầu khởi kiện độc lập của ông Nguyễn Văn V, ông V yêu cầu anh N và chị H trả lại số tiền 95.400.000 đồng đã vay của vợ chồng ông. Tuy nhiên, trước khi mở phiên tòa ông V đã có đơn xin rút yêu cầu khởi kiện này, bà C cũng nhất trí với ý kiến của ông V. Xét thấy việc rút đơn khởi kiện của ông V là hoàn toàn tự nguyện, do đó Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ đối với yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn V.
Trường hợp sau này các đương sự có tranh chấp về tài sản, nghĩa vụ thì có quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết.
[5]. Về án phí: Căn cứ điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 5, khoản 6 điều 27 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Nguyên đơn và bị đơn phải chịu án phí ly hôn, bị đơn phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định. Ông V, anh N không phải chịu án phí đối với các yêu cầu khởi kiện đã rút.
[6]. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 điều 28; điểm a khoản 1 điều 35; khoản 1 điều 39; điều 147; điều 227; điều 228; điều 244; điều 271; điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Các điều 51, 55, 58, 81, 82, 83; 110; 116 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 5; khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
2. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vũ Thị Thu H.
2.1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Vũ Thị Thu H và anh Nguyễn Văn N.
2.2. Về con chung: Giao cho chị Vũ Thị Thu H chăm sóc, nuôi dưỡng con chung Nguyễn Vũ Minh T1, sinh ngày 14/6/2020.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng vệc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Về cấp dưỡng nuôi con: Buộc anh N phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi cháu Nguyễn Vũ Minh T1 theo mức 2.500.000 (hai triệu năm trăm nghìn) đồng/01 tháng. Thời gian đóng góp tính từ tháng 7 năm 2024 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.
2.3. Đình chỉ yêu cầu chia tài sản chung của anh Nguyễn Văn N.
2.4. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện độc lập của ông Nguyễn Văn V về việc đòi anh N, chị H trả số tiền 95.400.000 đồng.
3. Về án phí: Chị Vũ Thị Thu H phải chịu 75.000 (bẩy mươi lăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Tiền án phí chị H phải chịu được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số 0001505 ngày 08/12/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang. Hoàn trả chị H số tiền tạm ứng án phí còn lại 225.000 (hai trăm hai mươi lăm nghìn) đồng.
Anh Nguyễn Văn N phải chịu 75.000 (bẩy mươi lăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí cấp dưỡng nuôi con. Tổng cộng bằng 375.000 (ba trăm bẩy mươi lăm nghìn) đồng. Tiền án phí anh N phải chịu được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 938.000 (chín trăm ba mươi tám nghìn) đồng anh N đã nộp tại biên lai thu số 0001626 ngày 05/3/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang. Hoàn trả anh N số tiền tạm ứng án phí còn lại 563.000(năm trăm sáu mươi ba nghìn) đồng.
Ông Nguyễn Văn V không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tòa án tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
5.Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Hằng |
Bản án số 33/2024/HNGĐ - ST ngày 08/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp nuôi con, chia tài sản chung
- Số bản án: 33/2024/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con, chia tài sản chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị H yêu cầu giải quyết ly hôn, con chung, anh N và người liên quan yêu cầu giải quyết tài sản, cộng nợ. Tại phiên tòa anh N, người liên quan xin rút yêu cầu chia tài sản, công nợ. Tòa án xử ly hôn, con chung và đình chỉ đối với các yêu cầu khởi kiện đã rút
