Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN LÊ CHÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 33/2024/HNGĐ-ST

Ngày 08-7-2024

V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Hà

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Phạm Thị Thanh Hiên

Bà Hà Thị Nga

- Thư ký phiên tòa: Bà Lương Thị Thu Hà - Thư ký Tòa án nhân dân quận Lê Chân.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Hoàng - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Lê Chân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 147/2023/TLST- HNGĐ ngày 17 tháng 10 năm 2023 về ly hôn, tranh chấp nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 470/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 575/2024/QĐST-HNGĐ ngày 01 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Bùi Văn C; nơi cư trú: Số C đường C, phường Đ, quận L, thành phố Hải Phòng; có mặt.

- Bị đơn: Chị Tô Thị Ngọc H; nơi cư trú: Số C đường C, phường Đ, quận L, thành phố Hải Phòng; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại Đơn khởi kiện ghi ngày 01 tháng 8 năm 2023 và trong quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn anh Bùi Văn C trình bày:

Anh và chị Tô Thị Ngọc H lấy nhau trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán Việt Nam, đăng ký kết hôn năm 1996 tại Ủy ban nhân dân phường Đ, quận L, thành phố Hải Phòng. Sau khi kết hôn, cuộc sống vợ chồng hạnh phúc được một thời gian thì nảy sinh nhiều mâu thuẫn, đỉnh điểm là năm 2017.

Nguyên nhân do tính cách và quan điểm sống giữa hai bên không còn phù hợp với nhau. Cuộc sống vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã. Mặc dù đã được gia đình hai bên động viên khuyên giải nhưng không có kết quả. Anh C và chị H đã sống ly thân mỗi người một nơi từ năm 2017 đến nay, không liên quan đến nhau về tình cảm và kinh tế. Nay anh C xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã căng thẳng trầm trọng, anh C đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị H.

Về con chung: Vợ chồng có hai con chung là Bùi Công H1, sinh năm 1996 và Bùi Anh T, sinh năm 2004. Cả 02 con chung đã thành niên đủ 18 tuổi nên anh C không yêu câu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Anh C không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai và tại phiên toà chị Tô Thị Ngọc H trình bày: Chị và anh Bùi Văn C xây dựng gia đình với nhau trên cơ sở tự nguyện, tự tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Đ, quận L, thành phố Hải Phòng năm 1996. Đến nay vợ chồng có 02 con chung. Quá trình chung sống đến năm 2017 thì anh C có quan hệ bất chính với người phụ nữ khác và chuyển đi khỏi nhà từ năm 2017 đến nay. Vợ chồng hiện sống ly thân không còn quan tâm đến cuộc sống riêng của nhau nữa. Nay anh C xin ly hôn chị H không đồng ý vì chị vẫn yêu chồng và vẫn mong muốn có gia đình đầy đủ bố mẹ cho các con.

Về con chung: Vợ chồng có hai con chung là Bùi Công H1, sinh năm 1996 và Bùi Anh T, sinh năm 2004. Cả hai con đã thành niên đủ 18 tuổi nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về tài sản chung: Tại bản tự khai chị H yêu cầu Toà án chia tài sản chung vợ chồng nhưng tại phiên toà chị không đề nghị Toà án giải quyết về phần tài sản chung.

Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý; Giấy báo; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải và các văn bản tố tụng khác cho chị H, chị H đã nhận được các băn bản trên, chị H đã trình bày quan điểm nhưng không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và không tham gia hoà giải.

Sau khi chị H trình bày quan điểm về yêu cầu phân chia tài sản chung vợ chồng, Toà án đã ban hành Thông báo nộp tiền tạm ứng án phí, chị H đã nhận được thông báo nhưng chị không nộp tiền tạm ứng án phí, vì vậy Toà án không thụ lý yêu cầu chia tài sản của chị.

Tòa án đã tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ với đại diện chính quyền địa phương nơi anh C và chị H chung sống được biết: Chị H hiện đang sống tại địa chỉ số C đường C cùng mẹ anh C và các con, anh C đã chuyển ra ngoài sinh sống từ năm 2017. Hiện tại vợ chồng ly thân nhau từ lâu. Nay anh C xin ly hôn đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật. Về con chung: Vợ chồng anh chị có 02 con chung đều đã đủ 18 tuổi.

Kiểm sát viên tham gia phát biểu ý kiến tại phiên tòa: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến thời điểm xét xử thấy rằng, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật; bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.

- Về việc giải quyết vụ án: Anh C và chị H kết hôn với nhau có đăng ký kết hôn vì vậy là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, đã ly thân từ năm 2017 đến nay, không có khả năng đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử cho anh Bùi Văn C ly hôn chị Tô Thị Ngọc H; về con chung: Anh chị có hai con chung đều đã đủ 18 tuổi nên không xét; về tài sản chung: Hai bên không yêu cầu nên đề nghị HĐXX không xem xét; về án phí: Anh C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về thủ tục tố tụng:

[1] Đây là vụ án tranh chấp ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn là chị Tô Thị Ngọc H hiện đang cư trú tại số S đường C, phường Đ, quận L, thành phố Hải Phòng. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.

- Về nội dung:

[2] Về quan hệ hôn nhân: Anh Bùi Văn C và chị Tô Thị Ngọc H lấy nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn năm 1996 tại Ủy ban nhân dân phường Đ, quận L, thành phố Hải Phòng, đã tuân thủ đúng quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình nên là hôn nhân hợp pháp.

[3] Quá trình chung sống vợ chồng xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống và không còn tin tưởng nhau về mặt tình cảm nên thường xuyên xảy ra cãi vã. Mặc dù đã được gia đình hai bên động viên khuyên giải nhưng không có kết quả. Anh C và chị H đã sống ly thân từ năm 2017 đến nay, mỗi người một nơi không liên quan đến nhau về tình cảm và kinh tế. Đến nay anh C xác định tình cảm vợ chồng không còn, anh C đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị H. Trong quá trình giải quyết vụ án, sau khi biết quan điểm của chị H không đồng ý ly hôn, Toà án đã triệu tập anh chị nhiều lần để hoà giải nhưng chị H đều vắng mặt không có lý do, cho thấy chị không thực sự mong muốn hàn gắn tình cảm với anh C. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Việc anh C xin ly hôn với chị H là phù hợp, cần được chấp nhận theo quy định tại Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

[4] Về con chung: Vợ chồng có hai con chung là Bùi Công H1, sinh năm 1996 và Bùi Anh T, sinh năm 2004. Ly hôn, cả 02 con chung đều đã thành niên đủ 18 tuổi nên Hội đồng xét xử không xét.

[5] Về tài sản chung: Anh C và chị H không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

- Về án phí:

[6] Anh Bùi Văn C phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các điều 51, 56 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Bùi Văn C và chị Tô Thị Ngọc H.

2. Về án phí: Anh Bùi Văn C phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước. Số tiền này anh C đã nộp đủ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0005665 ngày 16 tháng 10 năm 2023.

3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND Quận Lê Chân;
  • - Chi cục THA dân sự Quận Lê Chân;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Ngọc Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 33/2024/HNGĐ-ST ngày 08/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 33/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ án ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger