Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRÀNG ĐỊNH

TỈNH LẠNG SƠN

Bản án số: 33/2024/HS-ST

Ngày 08 - 7 - 2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀNG ĐỊNH, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Bẩy.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Hoàng Ngọc Hưng;

Ông Lâm Quang Hưng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Bế Thị Kiều - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Lệ Vân và bà Nông Hải Y - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 02 đến ngày 08 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 12/2024/TLST-HS, ngày 28 tháng 02 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 5 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 08/2024/HSST-QĐ ngày 11/6/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 09/2024/HSST-QĐ ngày 25/6/2024 và Thông báo thay đổi địa điểm xét xử số 275/2024/TB-TA ngày 27/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn đối với các bị cáo:

  1. Hứa Văn Â, sinh ngày 25/10/1963, tại huyện T, tỉnh Lạng Sơn. Nơi thường trú (chỗ ở): Thôn H, xã C, huyện T, tỉnh Lạng Sơn. Nghề nghiệp: Viên chức; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; trình độ học vấn: 10/10; con ông Hứa Viết T và bà Ma Thị M (đều đã chết); có vợ là Lương Thị T1 và có 02 người con; tiền án, tiền sự: Không; về nhân thân: Chưa bị xử lý trách nhiệm hình sự, chưa bị xử lý vi phạm hành chính; là Đảng viên Đ3 bị khai trừ ra khỏi đảng. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 11/5/2023 đến ngày 05/12/2023 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cho bảo lĩnh đến nay, có mặt.
  2. Hoàng Văn C, sinh ngày 07/11/1962 tại huyện T, tỉnh Lạng Sơn. Nơi thường trú (chỗ ở): thôn Đ, xã C, huyện T, tỉnh Lạng Sơn. Nghề nghiệp: Cán bộ; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; trình độ học vấn: 10/10; con ông Hoàng Văn T2 và bà Hoàng Thị P (đều đã chết); có vợ là Lê Thị K và 02 người con; tiền án, tiền sự: không; về nhân thân: Chưa bị xử lý trách nhiệm hình sự, chưa bị xử lý vi phạm hành chính; là Đảng viên Đ3 bị khai trừ ra khỏi đảng. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 11/5/2023 đến ngày 07/7/2023 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cho bảo lĩnh đến nay, có mặt.
  3. Nguyễn Thị Kim D, sinh ngày 27/11/1992, tại huyện T, tỉnh Lạng Sơn. Nơi thường trú (chỗ ở): thôn N, xã Đ, huyện T, tỉnh Lạng Sơn. Nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Tày; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; trình độ học vấn: 12/12; con ông Nguyễn Xuân P1 (đã chết) và bà Hoàng Thị H; có chồng là Hoàng Thanh T3 và 01 người con; tiền án, tiền sự: không; về nhân thân: Chưa bị xử lý trách nhiệm hình sự, chưa bị xử lý vi phạm hành chính; là Đảng viên Đ3 bị khai trừ ra khỏi đảng. Hiện bị cáo tại ngoại, có mặt.
  4. Vũ Văn M1, sinh ngày 15/9/1968 tại huyện T, tỉnh Hà Nam. Nơi thường trú (chỗ ở): thôn Đ, xã M, huyện H, tỉnh Lạng Sơn. Nghề nghiệp: Viên chức; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; trình độ học vấn: 10/10; con ông Vũ Văn V và bà Hoàng Thị X (đều đã chết); có vợ là Nguyễn Thị H1 và 02 người con; tiền án, tiền sự: không; về nhân thân: Chưa bị xử lý trách nhiệm hình sự, chưa bị xử lý vi phạm hành chính; là Đảng viên Đ3 bị khai trừ ra khỏi đảng. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 21/10/2023 đến ngày 11/12/2023 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cho bảo lĩnh đến nay, có mặt.
  5. Bùi Thọ T4, sinh ngày 04/02/1980, tại huyện Đ, tỉnh Thái Bình; Nơi thường trú (chỗ ở): thôn N, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình; Nghề nghiệp: Viên chức; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; trình độ học vấn: 12/12; con ông Bùi Thọ K1 và bà Bùi Thị Y1; có vợ là Vy Thị X1 và 02 người con; tiền án, tiền sự: không; về nhân thân: Chưa bị xử lý trách nhiệm hình sự, chưa bị xử lý vi phạm hành chính; là Đảng viên Đ3 bị khai trừ ra khỏi đảng. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 21/10/2023 đến ngày 11/12/2023 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cho bảo lĩnh đến nay, có mặt.
  6. Đường T, sinh ngày 07/11/1958, tại huyện T, tỉnh Lạng Sơn; Nơi thường trú (chỗ ở): thôn C, xã Đ, huyện T, tỉnh Lạng Sơn; Nghề nghiệp: Hưu trí; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; trình độ học vấn: 10/10; con ông Đường Duy T5 (đã chết) và bà Hoàng Thị C1; có vợ là Lương Thị B và 03 người con; tiền án, tiền sự: Không; về nhân thân: Chưa bị xử lý trách nhiệm hình sự, chưa bị xử lý vi phạm hành chính; là Đảng viên Đ3 bị khai trừ ra khỏi đảng. Hiện bị cáo tại ngoại, có mặt.
  7. Bế Như T6, sinh ngày 06/09/1960, tại huyện T, tỉnh Lạng Sơn. Nơi thường trú (chỗ ở): thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Lạng Sơn. Nghề nghiệp: Hưu trí; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; trình độ học vấn: 10/10; con ông Bế Văn N và bà Vi Thị Đ (đều đã chết); có vợ là Nguyễn Thị P2 và có 03 người con; tiền án, tiền sự: Không; về nhân thân: Chưa bị xử lý trách nhiệm hình sự, chưa bị xử lý vi phạm hành chính; là Đảng viên Đ3 bị khai trừ ra khỏi đảng. Hiện bị cáo tại ngoại, có mặt.
  8. Bế Thị T7, sinh ngày 21/04/1989, tại huyện T, tỉnh Lạng Sơn; Nơi thường trú (chỗ ở): Thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Lạng Sơn. Chỗ ở: thôn N, xã C, huyện T, tỉnh Lạng Sơn. Nghề nghiệp: Viên chức; dân tộc: Tày; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; trình độ học vấn: 12/12; con ông Bế Như T6 và bà Nguyễn Thị P2; có chồng là Lý Văn M2 và 02 người con; tiền án, tiền sự: không; về nhân thân: Chưa bị xử lý trách nhiệm hình sự, chưa bị xử lý vi phạm hành chính; là Đảng viên Đ3 bị đình chỉ sinh hoạt đảng. Hiện bị cáo tại ngoại, có mặt.
  9. Chu Thị T8, sinh ngày 11/9/1984, tại huyện T, tỉnh Lạng Sơn. Nơi thường trú (chỗ ở): Thôn P, xã Đ, huyện T, tỉnh Lạng Sơn. Nghề nghiệp: Viên chức; dân tộc: Nùng; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; trình độ học vấn: 12/12; con ông Chu Hải T9 và bà Hoàng Thị S; có chồng Đặng Khải H2 và 03 người con; tiền án, tiền sự: không; về nhân thân: Chưa bị xử lý trách nhiệm hình sự, chưa bị xử lý vi phạm hành chính; là Đảng viên Đ3 bị khai trừ ra khỏi đảng. Hiện bị cáo tại ngoại, có mặt.
  10. Dương Thị L, sinh ngày 16/12/1983, tại huyện T, tỉnh Lạng Sơn. Nơi thường trú: Thôn L - Khu Ổ, xã C, huyện T, tỉnh Lạng Sơn; chỗ ở: Thôn H, xã C, huyện T, tỉnh Lạng Sơn. Nghề nghiệp: Viên chức; dân tộc: Dao; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; trình độ học vấn: 12/12; con ông Dương Văn N1 và bà Bàn Thị L1; có chồng là Nông Văn C2 và 02 người con; tiền án, tiền sự: Không; về nhân thân: Chưa bị xử lý trách nhiệm hình sự, chưa bị xử lý vi phạm hành chính; là Đảng viên Đ3 bị khai trừ ra khỏi đảng. Hiện bị cáo tại ngoại, có mặt.
  11. Hoàng Thị H3, sinh ngày 07/12/1982, tại huyện H, tỉnh Cao Bằng. Nơi thường trú (chỗ ở): Khu E, thị trấn T, huyện T, tỉnh Lạng Sơn. Nghề nghiệp: Kinh doanh; dân tộc: Nùng; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; trình độ học vấn 12/12; con ông Hoàng Văn C3, và bà Hoàng Thị N2 (đều đã chết); có chồng là Trương Văn N3 và 03 người con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Chưa bị xử lý trách nhiệm hình sự, chưa bị xử lý vi phạm hành chính. Bị cáo tại ngoại, có mặt.
  12. Lê Văn P3, sinh ngày 10/10/1995, tại huyện H, thành phố Hà Nội. Nơi thường trú (chỗ ở): thôn B, xã Y, huyện H, thành phố Hà Nội. Nghề nghiệp: Tự do; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; trình độ học vấn: 12/12; con ông Lê Văn C4 và bà Nguyễn Thị H4; vợ, con chưa có; tiền án, tiền sự: Không; Chưa bị xử lý trách nhiệm hình sự, chưa bị xử lý vi phạm hành chính. Bị cáo Lê Văn P3 bị bắt tạm giam kể từ ngày 24/10/2023 đến ngày 11/12/2023 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cho bảo lĩnh đến nay, có mặt.
  13. Hoàng Thị L2, sinh ngày 14/11/1982, tại huyện T, tỉnh Lạng Sơn. Nơi thường trú (chỗ ở): thôn B, xã C, huyện T, tỉnh Lạng Sơn. Nghề nghiệp: Viên chức; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; trình độ học vấn 12/12; con ông Hoàng Thế Đ1 và bà Nông Thị H5; có chồng là Hứa Viết B1 (đã ly hôn) và 01 con; tiền án, tiền sự: Không; Chưa bị xử lý trách nhiệm hình sự, chưa bị xử lý vi phạm hành chính. Bị cáo tại ngoại, có mặt.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Hoàng Tuấn T10, sinh năm 1989. Địa chỉ: Thôn P, xã Đ, huyện T, tỉnh Lạng Sơn. Có mặt.
  2. Nông Văn C2, sinh năm 1983. Địa chỉ: Thôn H, xã C, huyện T, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.
  3. Lục Thanh T11, sinh năm 1983. Địa chỉ: Thôn C, xã Đ, huyện T, tỉnh Lạng Sơn. Có mặt.
  4. Phạm Thị D1, sinh năm 1972. Địa chỉ: Thôn K, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Vắng mặt.
  5. Nguyễn Thị N4, sinh năm 1957. Địa chỉ: Số B đường H, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.
  6. Nông Đức C5, sinh năm 1977. Địa chỉ: Khu B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.
  7. Lại Minh H6, sinh năm 1989. Địa chỉ: Thôn H, xã C, huyện T, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.
  8. Phan Thị T12, sinh năm 1988. Địa chỉ: H, xã C, huyện T, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.
  9. Lại Thị Minh T13, sinh năm 1966. Địa chỉ: Khu A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.
  10. Nguyễn Thị Thu C6, sinh năm 1986. Địa chỉ: Thôn Đ, xã M, huyện H, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.
  11. Trương Văn N3, sinh năm 1982. Địa chỉ: Khu E, thị trấn T, huyện T, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.
  12. Ma Chí M3, sinh năm 1981. Chủ tịch UBND Địa chỉ: Thôn N, xã H, huyện T, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.
  13. Triệu Tiến Q, sinh năm 1975. Địa chỉ: Thôn K, xã K, huyện T, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.
  14. Trần Thị G, sinh năm 1968. Địa chỉ: N, xã T, huyện T, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.
  15. Lý Văn T14, sinh năm 1984. Địa chỉ: Thôn K, xã V, huyện T, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.
  16. Nông Văn H7, sinh năm 1982. Địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.
  17. Hoàng Văn T15, sinh năm 1987. Địa chỉ: Thôn N, xã Đ, huyện T, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.
  18. Chu Văn H8, sinh năm 1986. Địa chỉ: Thôn N, xã Q, huyện T, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.
  19. Nguyễn Trung H9, sinh năm 1983. Địa chỉ: Thôn N, xã Đ, huyện T, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.
  20. Nông Văn Đ2, sinh năm 1971. Địa chỉ: Thôn C, xã Q, huyện T, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.
  21. Lương Hồng M4, sinh năm 1971. Địa chỉ: Thôn H, xã H, huyện T, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.
  22. Ngọc Mạnh T16, sinh năm 1991. Địa chỉ: Thôn T, xã Q, huyện T, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.
  23. Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên huyện T, tỉnh Lạng Sơn. Đại diện theo pháp luật: Ông Trịnh Như T17 – chức vụ Giám đốc, có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo Dương Thị L: Bà Lương Thị H10 – Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý – Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh L. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trung tâm G (GDNN - GDTX) huyện T do bị cáo Hoàng Văn C làm giám đốc, bị cáo Hứa Văn  giữ chức vụ Tổ trưởng tổ nghề tại Trung tâm G và bị cáo Nguyễn Thị Kim D là Kế toán của Trung tâm.

Ngày 31/8/2022, UBND huyện T ban hành Quyết định số 2427/QĐ-UBND về việc phân bổ kế hoạch vốn ngân sách Trung ương thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia huyện T năm 2022 cho đơn vị sử dụng ngân sách là Trung tâm GDNN– GDTX huyện T với tổng kinh phí là 4.493.000.000 đồng. Trong đó: Nguồn vốn ngân sách Trung ương thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi năm 2022 (mã 00515) số tiền 3.190.000.000 đồng; Vốn thực hiện chương trình mục tiêu Quốc gia (MTQG) giảm nghèo bền vững huyện T năm 2022 (mã 00474) số tiền 983.000.000 đồng; Kinh phí sự nghiệp thực hiện chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới 2022 (mã 00493) số tiền 320.000.000 đồng. Theo Hướng dẫn số 1669/HD-SLĐTBXH, ngày 14/9/2022 của Sở Lao động thương binh xã hội tỉnh L về thực hiện đào tạo nghề cho lao động nông thôn Chương trình MTQG giai đoạn 2021 – 2025 trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn (gọi tắt là Hướng dẫn số 1669) và Hướng dẫn số 2205/HD-SLĐTBXH, ngày 14/11/2022 của Sở Lao động thương binh xã hội tỉnh L về thực hiện đào tạo nghề cho lao động nông thôn thuộc nguồn vốn các Chương trình MTQG giai đoạn 2021 2025 trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn (gọi tắt là Hướng dẫn số 2205) thì tổng số kinh phí Trung tâm được cấp là 1.307.443.152 đồng.

Theo nhiệm vụ năm học 2022 – 2023, Hoàng Văn C được phân công lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý điều hành chung các lĩnh vực công tác của Trung tâm; Hứa Văn  là tổ trưởng tổ nghề và được giao lĩnh vực phụ trách công tác dạy nghề; Nguyễn Thị Kim D được giao nhiệm vụ phụ trách công tác kế toán và các lĩnh vực liên quan đến công tác thu, chi tài chính của đơn vị; Hoàng T18 Thìn có nhiệm vụ xây dựng dự thảo kế hoạch, báo cáo (khi được giao), điều hành các giờ sinh hoạt chung, ghi chép biên bản các cuộc họp, dạy môn Vật lý toàn Trung tâm, theo dõi chấm công giáo viên dạy nghề, học viên học nghề, thanh toán kinh phí cho học viên (hỗ trợ tiền ăn), phát chứng chỉ cho học viên.

Sau khi được phân bổ kinh phí, từ tháng 09/2022 đến tháng 01/2023, Hoàng Văn C và Hứa Văn  lên chương trình, kế hoạch và liên hệ với Chủ tịch UBND các xã trên địa bàn huyện T để mở 15 lớp dạy nghề cho đồng bào dân tộc thiểu số, các hộ nghèo, cận nghèo, lao động nông thôn tại các xã: Đ, Hùng V1, Quốc V2, Tri P4, H, T, K, Đoàn K2, V, Kháng C7, T. Hứa Văn  là người trực tiếp trao đổi với Chủ tịch UBND các xã để tiến hành tuyển sinh, tổ chức khai giảng, bế giảng và cho thuê hội trường để làm địa điểm học tập; sau khi hoàn thành các lớp học thì Trung tâm sẽ quyết toán kinh phí để thanh toán lại cho các xã.

Sau khi đủ điều kiện mở các lớp nghề, Hoàng Văn C ký ban hành 15 Quyết định mở lớp đào tạo nghề (trong các Quyết định đều phân công Hứa Văn Á, Tổ trưởng tổ dạy nghề chịu trách nhiệm quản lý các lớp học) và 15 Quyết định thành lập Ban quản lý các lớp học nghề đều do Hứa Văn Â, Tổ trưởng tổ dạy nghề phụ trách lớp; Hoàng Tuấn T10 – cán bộ đào tạo và Nguyễn Thị Kim D – kế toán và 01 cán bộ xã là công chức văn hóa xã hoặc phụ nữ xã – là thành viên.

Hứa Văn  ký hợp đồng với 03 giáo viên là viên chức Trường Cao đẳng C9 gồm: Bùi Thọ T4 trực tiếp dạy 03 lớp; Vũ Văn M1 trực tiếp dạy 01 lớp; Lê Văn P3 trực tiếp dạy 01 lớp; 03 viên chức Trung tâm dịch vụ nông nghiệp huyện T gồm: Hoàng Thị L2 trực tiếp dạy 02 lớp; Chu Thị T8 trực tiếp dạy 01 lớp; Bế Thị T7 trực tiếp dạy 02 lớp; Bế Như Thuần trực tiếp dạy 02 lớp; Đường T trực tiếp dạy 02 lớp; Dương Thị L là giáo viên của Trung tâm trực tiếp giảng dạy 01 lớp.

Theo kế hoạch đào tạo và thời khóa biểu của Trung tâm GDNN-GDTX đã ban hành và các giáo viên đều nắm rõ thì thời gian đào tạo mỗi lớp nghề là 37 ngày/280 tiết. Trước khi giảng dạy, các giáo viên được Hoàng Tuấn T10 đưa cho sổ lên lớp, sổ ghi chép giáo viên và bảng theo dõi ngày học tập của học viên, tài liệu dạy học.

Tuy nhiên, trong quá trình giảng dạy các giáo viên không dạy đủ 280 tiết học mà chỉ dạy mỗi lớp từ 06 đến 27 ngày thực học và thực hiện việc chấm công đi học của các học viên đúng với số ngày học thực tế. Hứa Văn  sau khi kiểm tra hồ sơ giảng dạy thấy thực tế các giáo viên dạy không đủ số tiết và số ngày thực học quá ít nên  yêu cầu các giáo viên phải hoàn thiện hồ sơ giảng dạy (bảng theo dõi ngày học tập của học viên, sổ lên lớp, sổ ghi chép,...) đủ 37 ngày/280 tiết học theo như kế hoạch đào tạo và thời khóa biểu của Trung tâm. Mục đích để bản thân  và các giáo viên sẽ được vụ lợi số tiền thanh toán giảng dạy các tiết học khống, còn học viên sẽ nhận đủ tiền hỗ trợ 37 ngày học và để đủ điều kiện cấp chứng chỉ nghề. Cùng với đó, Hứa Văn  yêu cầu từng giáo viên sau khi được thanh toán tiền giảng dạy thì trích lại cho  từ 20% đến 30% trên tổng số tiền mình nhận được từ việc kê khống giờ giảng. Các giáo viên mặc dù không dạy đủ ngày và số tiết học như kế hoạch nhưng đã nhất trí với Hứa Văn  rồi tự mình thực hiện việc nâng khống hồ sơ giảng dạy của các lớp nghề lên đủ 37 ngày/280 tiết học bằng việc chấm lại bảng chấm ngày đi học của học viên, hoàn thiện kế hoạch giảng dạy, giáo án đầy đủ sau đó nộp cho Hoàng Tuấn T10 – Tổ phó tổ nghề để hoàn thiện hồ sơ rồi chuyển cho Kế toán hoàn tất thủ tục rút tiền từ ngân sách để thanh toán, chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng của từng cá nhân các bị cáo. Cụ thể, các bị cáo Bế Như T6, Bế Thị T7, Bùi Thọ T4, Đường T, Hoàng Thị L2, Chu Thị T8, Lê Văn P3, Vũ Văn M1, Dương Thị L đã thực hiện hành vi phạm tội như sau:

  • Bế Như Thuần dạy 02 lớp nghề, gồm: Lớp kỹ thuật chăn nuôi Gà mở tại thôn Bản Nằm, xã K: Chỉ đúng 5.568.000 đồng, chi khống 7.868.700 đồng. Chi sai tiền hỗ trợ cho 35 học viên là 10.260.000 đồng; Lớp kỹ thuật chăn nuôi Lợn mở tại Thôn B, xã Đ: Chi đúng 6.808.000 đồng, chi khống 15.748.700 đồng. Chi sai tiền hỗ trợ học viên là 16.590.000 đồng. Tổng số tiền giảng dạy khống 02 lớp nghề được chuyển khoản vào tài khoản ngân hàng của bị cáo Bế Như T6 là 23.617.400 đồng. Thuần trích lại cho Hứa Văn  số tiền 8.000.000 đồng theo thỏa thuận, còn lại số tiền 15.617.400 đồng hưởng lợi bất chính; gây thiệt hại cho ngân sách Nhà nước số tiền 26.850.000 đồng là khoản chi sai cho các học viên.
  • Bế Thị T7 dạy 02 lớp nghề, gồm: Lớp kỹ thuật trồng và chăm sóc cây Hồi mở tại thôn Bản Đoỏng, xã T: Chi đúng 2.304.000 đồng, chi khống 11.132.700 đồng. Chi sai tiền hỗ trợ học viên là 25.920.000 đồng; Lớp trồng rừng kinh tế mở tại thôn B, xã H: Chi đúng 3.784.000 đồng, chi khống 20.292.700 đồng. Chi sai tiền hỗ trợ học viên 26.850.000 đồng. Tổng số tiền giảng dạy khống 02 lớp nghề được chuyển khoản vào tài khoản ngân hàng của Bế Thị T7 là 31.425.400 đồng. Bị cáo T7 trích lại cho Hứa Văn  số tiền 7.500.000 đồng theo thỏa thuận, còn lại số tiền 23.925.400 đồng hưởng lợi bất chính; gây thiệt hại cho ngân sách Nhà nước số tiền 52.770.000 đồng là khoản chi sai cho các học viên.
  • Bùi Thọ T4 giảng dạy 03 lớp nghề (dạy lý thuyết và thực hành), gồm: Lớp kỹ thuật trồng và chăm sóc cây Hồi mở tại thôn M, xã T: Chi đúng 3.264.000 đồng, chi khống 10.172.700 đồng. Chi sai tiền hỗ trợ học viên 19.560.000 đồng; Lớp kỹ thuật trồng và chăm sóc Quế mở tại xã Đ: Chỉ đúng 2.064.000 đồng, chi khống 22.012.700 đồng. Chi sai tiền hỗ trợ học viên 18.000.000 đồng; Lớp kỹ thuật trồng và chăm sóc Q1 mở tại xã V (hợp đồng giảng dạy đứng tên Lê Văn P3): Chi đúng 3.440.000 đồng, chi khống 20.636.000 đồng. Chi sai tiền hỗ trợ học viên 18.930.000 đồng. Tổng số tiền giảng dạy khống 03 lớp nghề được chuyển khoản vào tài khoản ngân hàng của Bùi Thọ T4 là 52.821.400 đồng. Bị cáo T4 trích lại cho Hứa Văn  số tiền 17.000.000 đồng theo thỏa thuận, còn lại số tiền 35.821.400 đồng hưởng lợi bất chính; gây thiệt hại cho ngân sách Nhà nước số tiền 56.490.000 đồng là khoản chi sai cho các học viên.
  • Đường T giảng dạy 02 lớp nghề, gồm: Lớp kỹ thuật chăn nuôi Lợn mở tại thôn B, xã Q: Chi đúng 4.032.000 đồng, chi khống 9.404.700 đồng. Chi sai tiền hỗ trợ học viên 14.970.000 đồng; Lớp kỹ thuật chăn nuôi Trâu Bò mở tại xã H: Chi đúng 7.915.300 đồng, chi khống 16.164.700 đồng. Chi sai tiền hỗ trợ học viên 11.340.000 đồng. Tổng số tiền giảng dạy khống 02 lớp nghề được chuyển khoản vào tài khoản ngân hàng của bị cáo Đường T là 25.569.400 đồng, N5 trích lại cho Hứa Văn  số tiền 9.600.000 đồng theo thỏa thuận, còn lại số tiền 15.969.400 đồng hưởng lợi bất chính; gây thiệt hại cho ngân sách Nhà nước số tiền 26.310.000 đồng là khoản chi sai cho các học viên.
  • Hoàng Thị L2 dạy 02 lớp nghề, gồm: Lớp kỹ thuật trồng và chăm sóc cây Hồi mở tại thôn Á, xã T: Chi đúng 2.496.000 đồng, chi khống 10.940.700 đồng. Chi sai tiền hỗ trợ học viên 24.900.000 đồng; Lớp kỹ thuật trồng và chăm sóc cây Hồi mở tại hội trường UBND xã T: Chi đúng 4.472.000 đồng, chi khống 19.604.700 đồng. Chi sai tiền hỗ trợ học viên 24.810.000 đồng. Tổng số tiền giảng dạy khống 02 lớp nghề được chuyển khoản vào tài khoản ngân hàng của bị cáo Hoàng Thị L2 là 30.545.400 đồng, L2 trích lại cho Hứa Văn  số tiền 7.700.000 đồng theo thỏa thuận, còn lại số tiền 22.845.400 đồng hưởng lợi bất chính; gây thiệt hại cho ngân sách Nhà nước số tiền 49.710.000 đồng là khoản chi sai cho các học viên.
  • Chu Thị T8 dạy 01 lớp trồng rừng kinh tế mở tại thôn P, xã T: Chi đúng: 8.832.000 đồng, chi khống 14.484.700 đồng. Chu Thị T8 trích lại cho Hứa Văn  số tiền 5.000.000 đồng, còn lại số tiền 9.484.700 đồng hưởng lợi bất chính. Chi sai tiền hỗ trợ học viên 15.030.000 đồng.
  • Lê Văn P3 dạy 01 lớp trồng rừng kinh tế tại thôn N, xã H: Chi đúng 1.728.000 đồng, chi khống 11.708.700 đồng. P3 trích lại cho Hứa Văn  số tiền 2.700.000 đồng, còn lại số tiền 9.008.700 đồng hưởng lợi bất chính. Chi sai tiền hỗ trợ học viên 27.840.000 đồng.
  • Vũ Văn M1 dạy 01 lớp kỹ thuật trồng và chăm sóc cây Quế mở tại xã K: Chi đúng: 6.536.000 đồng, chi khống 17.540.700 đồng. M1 trích lại cho Hứa Văn  số tiền 4.800.000 đồng, còn lại số tiền 12.740.700 đồng hưởng lợi bất chính. Chi sai tiền hỗ trợ học viên 14.280.000 đồng.
  • Dương Thị L dạy lớp kỹ thuật trồng và chăm sóc cây Hồi mở tại thôn P, xã T: Chi đúng 3.440.000 đồng, chi khống hưởng lợi bất chính số tiền 20.636.700 đồng. Chi sai tiền hỗ trợ học viên 27.960.000 đồng.

Sau khi nhận được tổng số tiền 62.300.000 đồng trích lại từ các giáo viên ngày 26/01/2023, Hứa Văn A lên phòng làm việc của Hoàng Văn C chỉ báo cáo việc các giáo viên có trích lại tiền để cảm ơn Trung tâm tổng 50.000.000 đồng rồi  đưa cho C 15.000.000 đồng, còn 20.000.000 đồng  nói sẽ đem chi vào những khoản khác nhưng thực tế số tiền còn lại  tự chiếm đoạt là 47.300.000 đồng.

Trong quá trình mở 15 lớp nghề, Hứa Văn  là người khởi xướng, đã bàn bạc thống nhất với Hoàng Văn C và Nguyễn Thị Kim D thực hiện tham ô tài sản thông qua quyết toán khống tiền ngân sách Nhà nước cấp cho Trung tâm, cụ thể như sau:

  • Chi mua giáo trình, văn phòng phẩm, tài liệu: Số tiền chi theo 15 hóa đơn là 87.057.500 đồng, nâng giá trong 15 hóa đơn là 29.789.000 đồng tại cửa hàng của Lại Thị Minh T13 (Â nhận tròn đủ số tiền 30.000.000 đồng từ T13 và Â cũng tự chiếm đoạt khoản tiền này), số tiền còn lại 57.268.500 đồng là tiền hàng hóa thật mà cửa hàng đã bán để phục vụ giảng dạy đối với 15 lớp nghề.
  • Chi market, chè nước, khai giảng, bế giảng, phục vụ...: Số tiền rút từ 15 hóa đơn khống là 56.250.000 đồng thông qua cửa hàng của bị cáo Hoàng Thị H3, H3 trừ đi số tiền 1.203.705 đồng nộp thuế và lấy tiền công 5.546.205 đồng từ việc mua bán trái phép hóa đơn khống, còn lại đưa cho Duyên số tiền 49.500.000 đồng.
  • Chi vật tư thực hành:
    • Vật tư thực hành mua với hộ kinh doanh Nguyễn Thị N4: Trung tâm đã mua vật tư thực hành thực tế cho 04 lớp với tổng số tiền thực là 11.475.000 đồng. Ân, D mua 05 hóa đơn điện tử khống, C ký duyệt chi trả 04 hóa đơn điện tử, chuyển khoản cho N4 số tiền 20.820.000 đồng (còn 01 hóa đơn của N4 không được thanh toán). Cửa hàng Hoàng Thị N6 lấy 5% trên tổng số tiền 25.680.000 đồng của 05 hóa đơn khống để nộp thuế là 385.200 đồng và lấy tiền công 898.800 đồng. Số tiền N6 phải chuyển lại N5 là 19.536.000 đồng nhưng vì lí do cá nhân nên N6 chưa chuyển cho N5. Nguyễn Thị Kim D đã làm thủ tục rút số tiền 4.860.000 đồng vào tài khoản của N5, trong đó: 3.240.000 đồng là tiền mua hàng hóa thật, còn 1.620.000 đồng là tiền nâng khống. Tuy nhiên do Trung tâm còn nợ tiền vật tư thú y lấy tại cửa hàng của bị cáo Đường T đối với các lớp nghề mở tại các xã Q, Hùng V, Kháng C7, Đào V3 với tổng số tiền 8.235.000 đồng, nên bị cáo N5 đã giữ lại số tiền này để trừ số tiền vật tư mà Trung tâm còn nợ. Sau khi trừ xong Trung tâm vẫn còn nợ N5 số tiền 3.375.000 đồng tiền vật tư thú y. Như vậy, tổng số tiền bị thất thoát tại cửa hàng Nguyễn Thị N4 là 20.434.800 đồng (trong đó 19.536.000 đồng N4 chưa chuyển cho Trung tâm và số tiền thu lợi bất chính là 898.800 đồng).
    • Vật tư thực hành mua với hộ kinh doanh Phạm Thị D1: Trong quá trình học, các giáo viên của 04 lớp tự mua vật tư thực hành thực tế với tổng số tiền là 7.923.000 đồng (không có hóa đơn). Hứa Văn  thông qua D1, C6, T4 mua 4 hóa đơn khống bán vật tư thực hành cho 04 lớp nghề nêu trên và chuyển số tiền 27.618.652 đồng. Trừ đi các khoản thì Hứa Văn  nhận lại số tiền 22.557.535 đồng ( cũng tự chiếm đoạt khoản tiền này). Như vậy, số tiền thất thoát chỗ D1, C6, T4 là 4.361.355 đồng và tiền do nộp thuế hóa đơn khống là 359.762 đồng.
  • Chiếm đoạt tiền chi thuê phục vụ vệ sinh lớp học và chi mô hình thực hành: Sau khi tiến hành các thủ tục rút khống được số tiền 96.405.000 đồng từ việc chi mô hình thực hành, thuê vệ sinh khống, thiến Gà. Bị cáo Hứa Văn  đã chi trả đi các khoản thực tế là 32.618.000 đồng và tự chiếm đoạt số tiền 18.787.000 đồng. Ngày 14/02/2023, Hứa Văn A nói với Nguyễn Thị Kim D còn thừa 45.000.000 đồng là tiền từ thuê vệ sinh khống của 15 lớp nghề. Sau đó D báo cáo C thì C chỉ đạo D chia theo danh sách, cụ thể: C lấy 5.000.000 đồng và cầm 20.000.000 để dự kiến làm quà khi có đoàn kiểm tra; Nông Văn C2, Phó giám đốc trung tâm Đ4 3.000.000 đồng; Hoàng Tuấn T10, Tổ phó tổ nghề được chia 2.000.000 đồng; Lục Thanh T11, Thủ quỹ trung tâm được chia 2.000.000 đồng và cầm thêm lấy 5.700.000 đồng (trong đó 2.700.000 đồng làm quà tết cho một số cơ quan, 3.000.000 đồng tiền kiểm tra đầu năm); Hứa Văn  được chia 3.800.000 đồng; D được chia 3.500.000 đồng (nhưng thực tế  chưa đưa số tiền này cho D).
  • Vật tư thực hành mua với hộ kinh doanh Lại Minh H6: Hoàng Văn C chỉ đạo Nguyễn Thị Kim D liên hệ với hộ kinh doanh L3 mua vật tư thực hành cho 07 lớp nghề với tổng số tiền đã mua thực tế là 20.590.000 đồng. Ân lập bảng kê vật tư khống gửi cho D để mua 03 hóa đơn điện tử khống với số tiền 109.292.000 đồng, H6 trừ đi tiền vật tư thật mà các lớp nghề đã mua tại cửa hàng là 20.590.000 đồng và tiền nộp thuế là 1.285.530 đồng, đưa cho D 84.400.000 đồng, giữ lại số tiền 16.470 đồng. Tổng số tiền thực tế D nhận từ Hoàng Thị H3 và Lại Minh H6 là 133.900.000 đồng (nhưng D chỉ báo C là được 116.500.000 đồng, D2 tự chiếm đoạt số tiền 17.400.000 đồng).
  • Chương chỉ đạo chia số tiền 116.500.000 đồng này như sau: Chương được 33.000.000 đồng;  được chia trên giấy 33.000.000 đồng nhưng thực tế chỉ được 10.000.000 đồng (vì Á còn giữ số tiền 20.000.000 đồng tiền giảng dạy của các giáo viên trích lại); D được chia 30.000.000 đồng và được chia thêm 3.500.000 đồng là tiền chia lần thuê vệ sinh, mô hình thiến gà (do trước trong lần chia số tiền 45.000.000 đồng từ tiền khống từ thuê vệ sinh lớp học, D được chia 3.500.000 đồng nhưng  chưa đưa số tiền này cho D). Hoàng Tuấn T10 được chia 20.000.000 đồng (T10 không biết là tiền do các bị cáo tham ô mà có, chỉ nghĩ tiền công khi đi quản lý, phát chứng chỉ các lớp nghề cho các học viên). Ngoài ra, trong lần chia này, bị cáo D cầm thêm 20.000.000 đồng để lo liệu thanh tra.
  • Chi thuê xe vận chuyển vật tư: Ân liên hệ với hộ kinh doanh N9 mua 01 hóa đơn thuê xe vận chuyển vật tư khống với số tiền 12.400.000 đồng. Nhận được tiền, C5 trừ đi 558.000 đồng nộp thuế, giữ lại 1.842.000 đồng tiền công và đưa cho  10.000.000 đồng (bị cáo  cũng tự chiếm đoạt khoản tiền này). Tổng số tiền các bị cáo đã chiếm đoạt và gây thiệt hại là 819.684.900 đồng.

Trong quá trình điều tra, 13 bị cáo và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án là Phạm Thị D1, Nguyễn Thị N4, Nông Đức C5, Nguyễn Thị Thu C6, Lục Thanh T11, Nông Văn C2, Hoàng Tuấn T10 đã nộp trả lại và khắc phục hậu quả số tiền chiếm đoạt, thu lợi bất chính và thất thoát là 764.985.500 đồng. Hiện số tiền đã nộp khắc phục hậu quả được gửi tại tài khoản của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tràng Định mở tại Kho bạc Nhà nước huyện T, tỉnh Lạng Sơn. Các bị cáo trong vụ án và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã nộp đầy đủ số tiền hưởng lợi từ việc tham ô và tiền thất thoát từ hành vi tham ô, tiền thu lợi bất chính từ việc lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ và tiền thất thoát từ tội này. Tuy nhiên còn số tiền hưởng lợi và tiền thất thoát chưa thu hồi được là 54.699.400 đồng, gồm: số tiền 27.840.000 là tiền chi sai cho các học viên do lớp của bị cáo Lê Văn P3 dạy và số tiền 352.400 đồng hưởng lợi bất chính từ việc kê khống số tiết dạy và số tiền 26.490.000 đồng là tiền chi sai cho các học viên các lớp nghề do bị cáo Bùi Thọ T4 dạy và 17.000 đồng của Lại Minh H6.

Tại bản Cáo trạng số 13/CT-VKSTĐ ngày 15/02/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo: Hứa Văn  về các tội Tham ô tài sản, quy định tại điểm d, đ khoản 2 Điều 353 Bộ luật Hình sự và tội Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ, quy định tại điểm c khoản 2 Điều 356 Bộ luật hình sự. Các bị cáo Hoàng Văn C và Nguyễn Thị Kim D về tội Tham ô tài sản, quy định tại điểm d, đ khoản 2 Điều 353 Bộ luật Hình sự; các bị cáo Vũ Văn M1, Bùi Thọ T4, Lê Văn P3, Hoàng Thị L2, Chu Thị T8, Bế Thị T7, Đường T, Bế Như T6, Dương Thị L về tội Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ, quy định tại khoản 1 Điều 356 Bộ luật hình sự; bị cáo Hoàng Thị H3 về tội Mua bán trái phép hóa đơn, quy định tại khoản 1 Điều 203 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố là đúng và khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã nêu, thừa nhận sử dụng điện thoại vào việc phạm tội. Ngoài ra, các bị cáo thừa nhận:

Vì lòng tham mà bị cáo Hứa Văn  nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của ngân sách nhà nước cấp cho các lớp dạy nghề nông thôn nên đã yêu cầu các giáo viên chấm công đúng với kế hoạch là đủ 37 ngày/280 tiết với mục đích là để bảo đảm việc cấp chứng chỉ theo đúng kế hoạch giảng dạy, khớp với các chứng từ khác, được hưởng lợi từ việc các giáo viên trích % trong số tiền giảng dạy. Ngoài ra, bị cáo Hứa Văn  thừa nhận cấu kết với bị cáo Hoàng Văn C và Nguyễn Thị Kim D tham ô với tổng số tiền 187.544.535 đồng, gây thiệt hại tổng số tiền 104.900.000 đồng. Các bị cáo Hoàng Văn C, Nguyễn Thị Kim D thừa nhận lời khai của bị cáo Hứa Văn  là đúng. Ngoài ra, bị cáo C thừa nhận được bị cáo  đưa số tiền 15.000.000 đồng chỉ biết là tiền các giáo viên cảm ơn.

Các bị cáo là các giáo viên gồm: Bùi Thọ T4, Bế Thị T7, Hoàng Thị L2, Dương Thị L, Đường T, Bế Như T6, Vũ Văn M1, Lê Văn P3, Chu Thị T8 đều thừa nhận lời khai của bị cáo  là đúng và thừa nhận bị cáo  có yêu trích lại từ 20% đến 30%/số tiền nhận được và đã chuyển cho bị cáo Â.

Trước và trong quá trình xét xử, bị cáo Lê Văn P3 tự nguyện nộp khắc phục hậu quả số tiền 15.000.000 đồng; các bị cáo Hứa Văn  và Nguyễn Thị Kim D mỗi người đã tự nguyện nộp thêm số tiền 18.000.000 đồng, bị cáo Hoàng Văn C đã tự nguyện nộp thêm số tiền 20.000.000 đồng để cùng các bị cáo khác là giáo viên để khắc phục thiệt hại đối với việc chi sai cho các học viên còn thiếu cũng như số tiền 16.470 đồng (làm tròn số 17.000 đồng) là của Lại Minh H6 thu lợi bất chính từ việc mua bán 03 hóa đơn điện tử khống. Tổng số tiền khắc phục hậu quả được nộp thêm là 71.000.000 đồng. Các bị cáo Hứa Văn Â, Hoàng Văn C, Nguyễn Thị Kim D trình bày nếu số tiền 3 bị cáo tự nguyện nộp cho người khác còn thừa thì đề nghị trả đều cho 3 bị cáo.

Đối với bị cáo Hoàng Thị H3 tại phiên tòa thừa nhận được ghi hộ, giúp 15 hóa đơn khống cho Trung tâm vì Trung tâm là đơn vị thường xuyên lấy vật tư nhiều năm tại cửa hàng của bị cáo. Bị cáo chỉ thừa nhận được xuất khống hộ hóa đơn và có lấy tiền công chứ không bán hóa đơn. Bị cáo biết hành vi của mình là sai trái và tự nguyện nộp trả lại số tiền công từ việc ghi hộ hóa đơn khống và nộp thêm số tiền 20.000.000 đồng để khắc phục hậu quả.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là Nông Văn C2, Hoàng Tuấn T10, Lục Thanh T11 thừa nhận được chia số tiền từ các bị cáo Hứa Văn Â, Hoàng Văn C, Nguyễn Thị Kim D nhưng không biết tiền do các bị cáo phạm tội mà có và đã nộp đầy đủ cho Cơ quan điều tra.

Công bố lời khai của những người liên quan: Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa là đại diện các hộ kinh doanh Phạm Thị D1, Lại Minh H6, Nguyễn Thị Thu C6, Nguyễn Đức C8, Nguyễn Thị N4 thừa nhận đã nhận được tiền công do xuất hóa đơn khống và đã nộp lại tiền hưởng lợi bất chính cho Cơ quan điều tra.

Phần luận tội, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tràng Định vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các quy định của pháp luật xử phạt đối với từng bị cáo như sau:

Về tội danh: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hứa Văn  phạm các tội “Tham ô tài sản”, quy định tại điểm d, đ khoản 2 Điều 353 của Bộ luật hình sự và “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ”, quy định tại điểm c khoản 2 Điều 356 của Bộ luật hình sự; các bị cáo Hoàng Văn C và Nguyễn Thị Kim D phạm tội “Tham ô tài sản”, quy định tại điểm d, đ khoản 2 Điều 353 của Bộ luật hình sự; các bị cáo Vũ Văn M1, Bùi Thọ T4, Chu Thị T8, Bế Thị T7, Đường T, Bế Như T6, Dương Thị L, Lê Văn P3, Hoàng Thị L2 phạm tội “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ”, quy định tại khoản 1 Điều 356 của Bộ luật Hình sự; bị cáo Hoàng Thị H3 phạm tội Mua bán trái phép hóa đơn, quy định tại khoản 1 Điều 203 của Bộ luật hình sự.

Về hình phạt: Áp dụng điểm d, đ khoản 2 Điều 353 và điểm c khoản 2 Điều 356, Điều 17, điểm b, s, v khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50, Điều 54, 55, Điều 58 Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Hứa Văn  mức án từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm về tội “Tham ô tài sản” và mức án từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù về tội “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ”. Tổng hợp chung hình phạt của 02 tội là từ 05 năm đến 06 năm tù. Áp dụng điểm d, đ khoản 2 Điều 353, Điều 17, 38, 50, điểm b, s, v khoản 1, 2 Điều 51, Điều 54, 58 của Bộ luật hình sự đề nghị xử phạt các bị cáo Hoàng Văn C và Nguyễn Thị Kim D, mỗi bị cáo mức án từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù. Áp dụng khoản 1 Điều 356, Điều 17, Điều 38, Điều 50, điểm b, s khoản 1 Điều 51 (áp dụng thêm điểm v khoản 1 Điều 51 đối với các bị cáo T4, N5, T6); áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 đối với bị cáo N5, L2, T7, T8, L), Điều 58, Điều 65 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Bùi Thọ T4, Vũ Văn M1, Lê Văn P3, Đường T, Bế Như T6, Hoàng Thị L2, Bế Thị T7, Chu Thị T8, Dương Thị L, xử phạt mỗi bị cáo mức án từ 01 năm đến 02 năm tù cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách từ 02 năm đến 04 năm. Áp dụng khoản 1 Điều 203, Điều 50, điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 58, Điều 65 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Hoàng Thị H3 mức án từ 09 tháng đến 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 BLHS và Điều 106 BLTTHS, đề nghị tịch thu toàn bộ số tiền thu lợi bất chính và số tiền nộp của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã nộp để khắc phục hậu quả để sung vào Ngân sách Nhà nước; trả lại cho các bị cáo những tài sản không dùng vào việc phạm tội, đối với tài sản dùng vào việc phạm tội thì tịch thu hóa giá sung vào ngân sách Nhà nước. Trả lại cho các bị cáo và Trung tâm GDTX-GDNN những tài sản không dùng vào việc phạm tội và không liên quan đến việc phạm tội. Đối với số tiền còn thừa của 03 bị cáo Hứa Văn Â, Hoàng Văn C, Nguyễn Thị Kim D đã tự nguyện nộp chung để khắc phục hậu quả. Sau khi trừ đi các khoản để khắc phục toàn bộ hậu quả (gồm tiền chi sai cho các học viên còn lại và số tiền 17.000 đồng của Lại Minh H6) thì số tiền thừa, đề nghị tuyên trả lại đều cho các bị cáo Â, C, D theo đề nghị của các bị cáo này.

Phần tranh luận, Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo Dương Thị L nhất trí với đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng. Tuy nhiên, về phần hình phạt, đề nghị HĐXX xem xét áp dụng khoản 1 Điều 54 của BLHS, xác định bị cáo có vai trò thứ yếu và đủ điều kiện áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo. Đại diện viện kiểm sát vẫn giữ nguyên mức đề nghị hình phạt đối với bị cáo trên cơ sở căn cứ vào tính chất, mức độ do hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra, đại diện Viện kiểm sát không tranh luận thêm.

Các bị cáo Hoàng Văn C, Hoàng Văn Â1, Nguyễn Thị Kim D không tranh luận mà đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Các bị cáo Bùi Thọ T4, Bế Thị T7, Hoàng Thị L2, Dương Thị L, Đường T, Bế Như T6, Vũ Văn M1, Lê Văn P3, Chu Thị T8 không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, vì các bị cáo đã nhận thấy hành vi của mình là sai phạm và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình.

Bị cáo Hoàng Thị H3 thừa nhận hành vi sai trái nhưng bị cáo chỉ là người viết hộ hóa đơn khống lấy tiền công, không phải mua bán. Bị cáo cho rằng mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo như vậy là cao, bị cáo cho rằng trước đó tại các bản án đã có người bị truy tố khoản 2 cùng tội danh với bị cáo mà vẫn được hưởng án treo. Đáp lại ý kiến của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát cho rằng căn cứ vào tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, đại diện Viện kiểm sát thấy việc đề nghị mức hình phạt như vậy là phù hợp với quy định của pháp luật và bị cáo không tranh luận gì thêm.

Lời nói sau cùng, các bị cáo đều đã nhận thức được hành vi của bản thân là sai, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên huyện T trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Xét thấy việc vắng mặt những người này không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, mặt khác họ đã có đơn đề nghị xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự tiếp tục xét xử vụ án.

[3] Về hành vi thực hiện tội phạm: Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố, lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với nhau và phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập một cách hợp pháp có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở khẳng định: Trong thời gian từ tháng 9/2022 đến tháng 01/2023, các bị cáo Hoàng Văn C, Hứa Văn Â, Nguyễn Thị Kim D đã tham ô tiền ngân sách Trung ương thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia huyện T năm 2022 với tổng số tiền 187.545.000 đồng, gây thiệt hại về tài sản của nhà nước với số tiền 104.900.000 đồng. Bị cáo Hứa Văn Â, Bùi Thọ T4, Vũ Văn M1, Lê Văn P3, Hoàng Thị L2, Chu Thị T8, Bế Thị T7, Bế Như T6, Đường T, Dương Thị L gây thiệt hại về tài sản của nhà nước, cụ thể như sau: Bị cáo Hứa Văn  gây thiệt hại về tài sản của nhà nước tổng số tiền 525.589.000 đồng, trong đó bị cáo được hưởng lợi bất chính số tiền 47.300.000 đồng; bị cáo Bùi Thọ T4 gây thiệt hại về tài sản của nhà nước tổng số tiền 109.311.400 đồng, trong đó bị cáo được hưởng lợi bất chính số tiền 35.821.400 đồng; bị cáo Bế Thị T7 gây thiệt hại về tài sản của nhà nước tổng số tiền 84.195.400 đồng, trong đó bị cáo được hưởng lợi bất chính số tiền 23.925.400 đồng; bị cáo Hoàng Thị L2 gây thiệt hại về tài sản của nhà nước tổng số tiền 80.255.400 đồng, trong đó bị cáo được hưởng lợi bất chính số tiền 22.845.400 đồng; bị cáo Bế Như T6 gây thiệt hại về tài sản của nhà nước tổng số tiền 50.467.400 đồng, trong đó bị cáo được hưởng lợi bất chính số tiền 15.617.400 đồng; bị cáo Đường T gây thiệt hại về tài sản của nhà nước tổng số tiền 51.879.400 đồng, trong đó bị cáo được hưởng lợi bất chính số tiền 15.969.000 đồng; bị cáo Lê Văn P3 gây thiệt hại về tài sản của nhà nước tổng số tiền 39.548.700 đồng, trong đó bị cáo được hưởng lợi bất chính số tiền 9.009.400 đồng; bị cáo Vũ Văn M1 gây thiệt hại về tài sản của nhà nước tổng số tiền 31.820.700 đồng, trong đó bị cáo được hưởng lợi bất chính số tiền 12.740.700 đồng; bị cáo Dương Thị L gây thiệt hại về tài sản của nhà nước và hưởng lợi bất chính tổng số tiền 48.596.700 đồng; bị cáo Chu Thị T8 gây thiệt hại về tài sản của nhà nước tổng số tiền 29.514.700 đồng, trong đó bị cáo được hưởng lợi bất chính số tiền 9.484.700 đồng; bị cáo Hoàng Thị H3 đã xuất khống 15 hóa đơn bán hàng (hóa đơn điện tử) với tổng số tiền thanh toán là 56.250.000 đồng, hưởng lợi bất chính số tiền 5.546.205 đồng. Do đó, Cáo trạng truy tố đối với các bị cáo: Hứa Văn Â, Hoàng Văn C, Nguyễn Thị Kim D phạm tội Tham ô tài sản theo điểm d, đ khoản 2 Điều 353 của Bộ luật Hình sự; bị cáo Hứa Văn  phạm thêm tội Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ theo điểm c khoản 2 Điều 356 của Bộ luật Hình sự; bị cáo Hoàng Thị H3 về tội Mua bán trái phép hóa đơn theo điểm e khoản 1 Điều 203 của Bộ luật Hình sự; các bị cáo Vũ Văn M1, Bùi Thọ T4, Chu Thị T8, Bế Thị T7, Đường T, Bế Như T6, Dương Thị L, Lê Văn P3, Hoàng Thị L2 về tội Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ, quy định tại khoản 1 Điều 356 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, không có chứng cứ ngoại phạm đối với các bị cáo.

[4] Xét đề nghị của Viện kiểm sát tại phiên tòa, lời bào chữa của trợ giúp viên pháp lý, ý kiến của các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa và để có mức án phù hợp với hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử thấy rằng: Đây là vụ án có đồng phạm, các bị cáo là người đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, đủ điều kiện nhận thức và điều khiển hành vi, được trang bị kiến thức về kế toán, quản lý nhà nước, nhưng các bị cáo đã thực hiện hành vi xâm phạm đến hoạt động đúng đắn của cơ quan Nhà nước, cũng như trật tự quản lý của Nhà nước trong lĩnh tài chính, đồng thời ảnh hưởng đến uy tín của các cơ quan Nhà nước nói chung, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Do vậy, hành vi của các bị cáo phải bị tuyên là có tội và chịu hình phạt tương ứng với từng hành vi của từng bị cáo. Để đánh giá một cách khách quan, toàn diện và cá thể hóa hành vi và hình phạt, Hội đồng xét xử đánh giá tính chất hành vi, vai trò của từng bị cáo cũng như các tình tiết về nhân thân, tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của từng bị cáo, thấy rằng:

[5] Về tính chất hành vi: Bị cáo Hứa Văn  là tổ trưởng tổ nghề, trực tiếp quản lý các lớp nghề nhưng lại lợi dụng việc quản lý này để khởi sướng, đề xuất với bị cáo C là thủ trưởng đơn vị nâng khống và hợp thức hóa đơn chứng từ nhằm tham ô tiền của Nhà nước. Ngoài ra, bị cáo  là người chiếm đoạt số tiền nhiều nhất, ngoài số tiền chia chung, bị cáo còn tự chiếm đoạt số tiền riêng. Do đó bị cáo Hứa Văn  có vai trò cao nhất. Đối với bị cáo Hoàng Văn C là thủ trưởng đơn vị, có ý kiến quyết định việc quyết toán, trực tiếp đồng ý với ý kiến, đề xuất của bị cáo  nhưng lại không nắm được cụ thể các khoản chi khống, nâng khống và không kiểm soát được hành vi cũng như tổng số tiền bị cáo  và bị cáo D chiếm đoạt, bị cáo là được hưởng lợi ít nhất từ hành vi tham ô tài sản của nhà nước. Từ mối quan hệ Thủ trưởng và kế toán nên vai trò của bị cáo C và bị cáo D tương đương nhau. Bị cáo D mặc dù là kế toán của Trung tâm, nắm được chính sách tài chính nhưng không tham mưu cho Thủ trưởng đơn vị thực hiện đúng các quy tắc về kế toán, khi bị cáo  khởi sướng, bị cáo C nhất trí thì bị cáo D tích cực và trực tiếp thu thập, xây dựng chứng từ của 09 lớp, tiếp nhận số lượng vật tư nâng khống của bị cáo  chuyển qua và phát hành chứng từ theo khối lượng vật tư khống của bị cáo  đưa ra. Ngoài số tiền được chia nhiều thứ 2 sau bị cáo Â, thì bị cáo còn tự chiếm đoạt một khoản tiền riêng. Mặc dù vai trò phụ thuộc nhưng bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội tích cực, chiếm đoạt tiền chủ động, do đó bị cáo có vai trò tương đương với bị cáo C.

[6] Về hành vi lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ giữa bị cáo Hứa Văn  và các bị cáo là giáo viên, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo  là người khởi sướng và có vai trò cao nhất, chủ động thỏa thuận với các bị cáo là giáo viên, tính tỉ lệ ăn chia và là người nhận lại tiền từ các giáo viên, chiếm đoạt phần lớn số tiền từ các giáo viên chuyển lại. Đối với các bị cáo Bùi Thọ T4, Bế Thị T7, Hoàng Thị L2, Dương Thị L, Đường T, Bế Như T6, Vũ Văn M1, Lê Văn P3, Chu Thị T8 có vai trò không đáng kể, thứ yếu bởi các bị cáo này cũng chủ động chấm công đúng thực tế. Tuy nhiên trước đề nghị, yêu cầu của bị cáo Â, các bị cáo đã đồng ý giúp sức bằng việc kê khống số tiết dạy/số ngày dạy để được chi tiền cao hơn so với thực tế để cùng bị cáo  chiếm đoạt một phần chi phí và gây thất thoát tiền của của Nhà nước, các bị cáo là các giáo viên thực hiện hành vi phạm tội độc lập và đều đồng phạm với bị cáo Â. Do đó, các bị cáo này chịu mức hình phạt thấp hơn bị cáo  mới thể hiện đúng vai trò thứ yếu và số tiền chiếm đoạt tiền thấp hơn bị cáo Â.

[7] Ngoài xem xét đánh giá vai trò của các bị cáo trong vụ án, Hội đồng xét xử xem xét, cân nhắc về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với các bị cáo, thấy rằng: Về nhân thân: Các bị cáo trong vụ án bản chất thì đều có nhân thân tốt, chưa từng bị kết án, chưa bị xử lý hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật. Về tình tiết tăng nặng, ngoài tình tiết tăng nặng định khung, các bị cáo không có tình tiết tặng nặng nào khác; về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều phạm tội lần đầu, thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải và trong quá trình điều tra các bị cáo đã nộp tiền để khắc phục 100% hậu quả thiệt hại do hành vi phạm tội của mình gây ra, không những vậy, các bị cáo còn khắc phục cả những phần thiệt hại không phải do mình trực tiếp gây ra, giúp khắc phục 100% thiệt hại, thu hồi toàn bộ tiền cho ngân sách Nhà nước. Chính vì lẽ đó 13 bị cáo đều được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, mỗi bị cáo được hưởng thêm các tình tiết giảm nhẹ sau:

[8] Bị cáo Hoàng Văn C được UBND tỉnh L tặng bằng khen đã có nhiều thành tích trong công tác giáo dục – đào tạo giai đoạn 1996-2001; năm 2010 đạt chiến sỹ thi đua cơ sở; được tặng kỷ niệm chương vì sự nghiệp giáo dục năm 2011, các năm 2001, 2002, 2004, 2005, 2007, 2021 được Sở giáo dục và Đào tạo tỉnh L tặng giấy khen; bố bị cáo là ông Hoàng Văn T2 là người có công với cách mạng và mẹ là Hoàng Thị P5 (Pẻn) được nhà nước tặng huân chương kháng chiến hạng ba. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm v khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo Hứa Văn Â, năm 2012 được Liên đoàn lao động tỉnh L tặng bằng khen đã có thành tích xuất sắc trong phong trào thi đua lao động giỏi và xây dựng tổ chức công đoàn vững mạnh nhiệm kỳ 2008-2013; có bố đẻ là ông Hứa Viết T được nhà nước tặng huân chương kháng chiến hạng Nhì. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm v khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo Nguyễn Thị Kim D, được Ban tặng Bằng khen có thành tích xuất sắc trong triển khai chiến dịch kỳ nghỉ hồng năm 2017; có mẹ là Hoàng Thị H được Chủ tịch UBND tỉnh L tặng giấy khen do có thành tích xuất sắc trong phong trào thi đua yêu nước; bị cáo đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm v khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo Bùi Thọ T4, năm 2023 đạt danh hiệu chiến sỹ thi đua cơ sở và đạt danh hiệu nhà giáo dạy giỏi cấp cơ sở năm học 2022 - 2023; được tặng giấy khen do có thành tích xuất sắc trong công tác năm học 2021 – 2022, được công nhận kết quả thực hiện, nghiệm thu sáng kiến, đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở năm học 2022–2023 và đạt nhiều giấy khen trong quá trình công tác. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm v khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo Hoàng Thị L2, trong quá trình công tác bị cáo được Giám đốc sở nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh L và Chủ tịch UBND huyện T tặng nhiều giấy khen vì đã có thành tích trong thời gian công tác và bố đẻ là ông Hoàng Thế Đ1 được UBND tỉnh L tặng Bằng khen, được Huy hiệu 30 năm tuổi Đảng và được Nhà nước thưởng Huân chương chiến công hạng nhất, hạng nhì, hạng ba. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo Bế Thị T7, có bố đẻ là Bế Như T6 được Bộ trưởng bộ N10 tặng kỷ niệm chương vì sự nghiệp và phát triển nông thôn; năm 1983, ông T6 được Bộ trưởng Bộ Q3 tặng Bằng khen đã hoàn thành tốt nhiệm vụ trong thời gian tại ngũ, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp bảo vệ và xây dựng tổ quốc; bản thân bị cáo T7 trong quá trình công tác được Giám đốc sở nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh L tặng nhiều giấy khen. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo Chu Thị T8, năm 2021 được Chủ tịch UBND huyện T tặng giấy khen đã có thành tích xuất sắc trong dịp sơ kết 05 năm thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ C10 về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí M5 và bị cáo có bố đẻ là ông Chu Hải T9 được nhà nước tặng Huân chương chiến sỹ vẻ vang vào năm 1980. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo Đường T, năm 1979 được Bộ chỉ huy quân sự thống nhất tỉnh Bắc Thái chứng nhận đã hoàn thành nhiệm vụ xây dựng công trình quốc phòng, góp phần đánh thắng quân Trung Quốc xâm lược, bảo vệ Tổ Q2; năm 2010 được Bộ trưởng Bộ N10 tặng kỷ niệm chương vì sự nghiệp và phát triển nông thôn; năm 2004 được Chủ tịch UBND tỉnh L tặng Bằng khen đã có nhiều thành tích trong công tác phòng chống dịch cúm gia cầm cùng nhiều giấy khen khác trong quá trình công tác; có bố đẻ là ông Đường D được Ban Chấp hành Trung ương Đảng tặng huy hiệu 50 năm tuổi Đảng và huân chương kháng chiến chống mỹ cứu nước hạng nhất. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm v khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo Bế Như T6, ngày 05/10/2015 được Bộ trưởng Bộ N11 và PTNT tặng kỷ niệm chương vì sự nghiệp và phát triển nông thôn; năm 1983 được tặng Bằng khen của Bộ trưởng Bộ Q3 đã hoàn thành tốt nhiệm vụ trong thời gian tại ngũ, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp bảo vệ và xây dựng Tổ Q2 cùng nhiều giấy khen trong thời gian công tác. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm v khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo Dương Thị L, được Chủ tịch UBND huyện T tặng giấy khen đã có thành tích xuất sắc trong thực hiện nhiệm vụ năm học 2020 – 2021 và bị cáo có chồng là Nông Văn C2 được Giám đốc sở giáo dục và đào tạo tỉnh L tặng danh hiệu Chiến sỹ thi đua cơ sở từ năm 2012 đến năm 2016. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, các bị cáo Hoàng Văn C, Dương Thị L, Hứa Văn  và Nguyễn Thị Kim D được cơ quan Chủ quản là Trung tâm GDNN-GDTX có văn bản đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Do đó, các bị cáo này được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo Hoàng Thị H3, có bố đẻ là ông Hoàng Văn C3 được nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến chống mỹ cứu nước hạng N7 và là người đã có thành tích giúp đỡ cách mạng tháng 8/1945, được Ban chấp hành Trung ương Đảng tặng huy hiệu 50 năm tuổi Đảng. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng theo điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo. Đối với các bị cáo đủ điều kiện đều được áp dụng khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự.

[9] Từ các tình tiết giảm nhẹ, có thể thấy, bị cáo Bùi Thọ T4 là người chiếm đoạt số tiền nhiều hơn nhóm các bị cáo Bế Thị T7, Hoàng Thị L2 Dương Thị L nhưng có nhiều hơn tình tiết giảm nhẹ hơn so với các bị cáo này nên mức hình phạt các bị cáo này bằng nhau. Đối với nhóm các bị cáo Đường T, Bế Như T6, Vũ Văn M1, Lê Văn P3, Chu Thị T8, mặc dù các bị cáo Đường T, B Thuần số tiền chiếm đoạt nhiều hơn các bị cáo này nhưng lại nhiều tình tiết giảm nhẹ hơn nên mức hình phạt tương đương nhau.

[10] Đối với bị cáo Hoàng Thị H3, mặc dù nhận thức chưa đầy đủ, cho rằng chỉ nhận ghi hộ hóa đơn khống chứ không phải mua bán, nhưng lời nói sau cùng vẫn nhận thức được hành vi đó là sai trái. Do đó thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, cần áp dụng khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự để xử dưới khung hình phạt đối với bị cáo so với mức đề nghị của đại diện VKS cũng đủ tính răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[11] Về hình phạt bổ sung: Đối với người giữ chức vụ, quyền hạn nhất định và người làm việc liên quan đến lĩnh vực tài chính, kế toán có thể ảnh hưởng đến việc sau cải tạo, giáo dục, nhất là công tác liên quan đến lĩnh vực tài chính. Do đó, cần áp dụng hình phạt bổ sung cấm đảm nhiệm chức vụ hoặc làm công việc nhất định trong một thời gian kể từ khi chấp hành xong hình phạt tù.; cần áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo đủ điều kiện. Đối với các bị cáo có hoàn cảnh khó khăn như bị cáo Bùi Thọ T4 có bố bị bệnh ung thư, có em gái ở cùng bị bệnh tâm thần và vợ không có nghề nghiệp, con còn nhỏ; bị cáo L2 hiện đang ở nhờ nhà mẹ đẻ, một mình nuôi con nhỏ, có thể miễn áp dụng hình phạt bổ sung.

[12] Về xử lý vật chứng và số tiền khắc phục hậu quả, áp dụng Điều 46, Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, cần tịch thu toàn bộ số tiền các bị cáo chiếm đoạt và đã tự nguyện nộp trước đó để khắc phục hậu quả sung vào ngân sách Nhà nước. Đối với vật chứng là tài sản dùng vào việc phạm tội cần tịch thu hóa giá sung vào ngân sách Nhà nước; tài sản của Trung tâm GDNN-GDTX cần trả lại. Đối với tài sản không dùng vào việc phạm tội cần trả lại cho các bị cáo.

[13] Đối với số tiền chưa khắc phục là 54.699.400 đồng, thì tại phiên tòa bị cáo Lê Văn P3 đã tự nguyện khắc phục 15.000.000 đồng cần tịch tịch thu nộp ngân sách nhà nước. Còn lại số tiền chưa khắc phục là 39.699.400 đồng đã được ba bị cáo C, Â, D nộp 56.000.000 đồng để khắc phục. Số tiền còn thừa của các bị cáo Hứa Văn Â, Hoàng Văn C, Nguyễn Thị Kim D là 16.300.600 đồng, cần trả lại cho mỗi bị cáo 5.433.000 (làm tròn) nhưng tạm giữ để bảo đảm thi hành án.

[14] Đối với Hoàng Tuấn T10, được giao theo dõi, chấm công giáo viên dạy nghề, học viên học nghề, ngày 25/9/2023, đã làm báo cáo đề xuất từ chối theo dõi giám sát chấm công giáo viên, học viên lớp nghề và được Hoàng Văn C phê duyệt đồng ý sử dụng bảng chấm công học viên đi học của các giáo viên để lập lại bảng chấm công. Do đó, hành vi của Hoàng Tuấn T10 không cấu thành tội Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng.

[15] Đối với Nông Văn C2 được chia số tiền 3.000.000 đồng, Lục Thanh T11 được chia số tiền 2.000.000 đồng, Hoàng Tuấn T10 được chia số tiền 22.000.000 đồng nhưng không biết đây là tiền do phạm tội có, đã tự nguyện giao nộp lại, do đó hành vi này không cấu thành tội phạm.

[16] Đối với Phạm Thị D1, Nguyễn Thị N4, Nông Đức C5, Lại Minh H6, Phan Thị T12 (vợ của H6) có hành vi xuất bán hóa đơn điện tử khống và hộ kinh doanh Lại Thị Minh T13 có hành vi nâng giá trong hóa đơn điện tử chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã chuyển các tài liệu đến cơ quan Thuế có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính để xử lý theo quy định.

[17] Đối với Đường T, Bùi Thọ T4, Nguyễn Thị Thu C6 có hành vi thu lợi bất chính từ việc môi giới cho Hứa Văn  mua hóa đơn khống với hộ kinh doanh Phạm Thị D1, Nguyễn Thị N4 không thuộc các trường hợp xử lý hành chính và chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự cơ quan điều tra đã yêu cầu nộp lại số tiền thu lợi bất hợp pháp.

[18] Đối với Chủ tịch UBND các xã Đ, T, Kháng C7, V, H, T, Quốc V2, T, H, Tri P4, K, Đoàn K2 được ký xác nhận, đóng dấu vào biên bản giao vật tư và biên bản thanh lý vật tư khống để bị cáo Hứa Văn  hoàn thiện thủ tục chi vật tư và không được hưởng lợi ích gì từ việc này nhưng đã thiếu trách nhiệm trong việc kiểm tra tính xác thực nội dung tại biên bản. Do đó, chưa đủ cơ sở xem xét.

[19] Đối với Trương Văn N3 (là chồng của bị cáo Hoàng Thị H3) là chủ hộ kinh doanh, được Nguyễn Thị Kim D chuyển tiền vào tài khoản của mình nhưng không biết việc trao đổi, thực hiện mua bán trái phép hóa đơn giữa D và H3, do đó không xem xét xử lý.

[20] Các bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.

[21] Những người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[22] Trên cơ sở đánh giá này, Hội đồng xét xử chấp nhận những ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, những ý kiến trái với nhận định của Hội xét xử thì không được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng điểm d, đ khoản 2, khoản 5 Điều 353 của Bộ luật Hình sự. Áp dụng thêm Điều 17, Điều 38, các điểm b, v, s khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Hứa Văn Â, Hoàng Văn C, Nguyễn Thị Kim D về tội “Tham ô tài sản”.

Áp dụng điểm c khoản 2, khoản 5 Điều 356 của Bộ luật Hình sự; áp dụng thêm Điều 17, Điều 38, điểm b, s, v khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 55 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Hứa Văn  về tội “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ”. Áp dụng thêm Điều 50, khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Hứa Văn Â, Hoàng Văn C, Nguyễn Thị Kim D.

Áp dụng khoản 1 Điều 356, Điều 50, điểm b, s khoản 1 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo: Vũ Văn M1, Bùi Thọ T4, Chu Thị T8, Bế Thị T7, Đường T, Bế Như T6, Dương Thị L, Lê Văn P3, Hoàng Thị L2. Áp dụng thêm điểm v khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo T6, N5, T4. Áp dụng thêm khoản 4 Điều 356 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo: Bế Thị T7, Dương Thị L, Vũ Văn M1, Chu Thị T8, Đường T, Bế Như T6, Lê Văn P3.

Áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với Hoàng Thị L2, Bế Thị T7, Chu Thị T8, Đường T, Dương Thị L.

Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 203 Bộ luật Hình sự, áp dụng thêm Điều 38, Điều 50, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự đối với Hoàng Thị H3.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46, điểm a, b khoản 1, 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 136; khoản 5 Điều 326; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

1. Về tội danh, tuyên bố:

  • Bị cáo Hứa Văn  phạm tội “Tham ô tài sản” và tội “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ”.
  • Các bị cáo Hoàng Văn C và Nguyễn Thị Kim D phạm tội “Tham ô tài sản".
  • Các bị cáo Vũ Văn M1, Bùi Thọ T4, Chu Thị T8, Bế Thị T7, Đường T, Bế Như T6, Dương Thị L, Lê Văn P3, Hoàng Thị L2 phạm tội “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi thành công vụ”.
  • Bị cáo Hoàng Thị H3 phạm tội “Mua bán trái phép hóa đơn”.

2. Về hình phạt chính:

  1. Xử phạt bị cáo Hứa Văn  03 năm tù về tội “Tham ô tài sản”; 02 năm 06 tháng về tội “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ”. Tổng hợp hình phạt chung của 02 tội, buộc bị cáo phải chấp hành là 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày thi hành án, được trừ thời gian tạm giam 06 tháng 24 ngày (từ ngày 11/5/2023 đến ngày 05/12/2023).
  2. Xử phạt bị cáo Hoàng Văn C 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày các bị cáo đi chấp hành án, được trừ thời gian tạm giam 01 tháng 26 ngày (từ ngày 11/5/2023 đến ngày 07/7/2023).
  3. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Kim D 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt đi chấp hành án.
  4. Xử phạt bị cáo Bùi Thọ T4 15 (mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 (ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Bùi Thọ T4 cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình phối hợp cùng gia đình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
  5. Xử phạt bị cáo Bế Thị T7 15 (mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 (ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Bế Thị T7 cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Lạng Sơn phối hợp cùng gia đình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
  6. Xử phạt bị cáo Hoàng Thị L2 15 (mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 (ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Hoàng Thị L2 cho Ủy ban nhân dân xã C, huyện T, tỉnh Lạng Sơn phối hợp cùng gia đình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
  7. Xử phạt bị cáo Dương Thị L 15 (mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 (ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao cho Ủy ban nhân dân xã C, huyện T, tỉnh Lạng Sơn phối hợp cùng gia đình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
  8. Xử phạt Vũ Văn M1 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Vũ Văn M1 cho Ủy ban nhân dân xã M, huyện H, tỉnh Lạng Sơn phối hợp cùng gia đình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
  9. Xử phạt bị cáo Chu Thị T8 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Chu Thị T8 cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện T, tỉnh Lạng Sơn phối hợp cùng gia đình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
  10. Xử phạt bị cáo Đường T (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Đường T cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện T, tỉnh Lạng Sơn phối hợp cùng gia đình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
  11. Xử phạt bị cáo Bế N8 Thuần 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Bế Như T6 cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Lạng Sơn phối hợp cùng gia đình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
  12. Xử phạt bị cáo Lê Văn P3 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Lê Văn P3 cho Ủy ban nhân dân xã Y, huyện H, thành phố Hà Nội phối hợp cùng gia đình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
  13. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố tình vi phạm nghĩa vụ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  14. Xử phạt bị cáo Hoàng Thị H3 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam tại phiên tòa để bảo đảm thi hành án. Áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng. Xác nhận bị cáo đã chấp hành xong hình phạt bổ sung theo biên lai số 0001859 ngày 06/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tràng Định.

3. Về hình phạt bổ sung:

  1. Cấm bị cáo Hoàng Văn C, Hứa Văn  đảm nhiệm chức vụ hoặc làm công việc quản lý tài chính trong thời hạn 02 năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt.
  2. Cấm bị cáo Nguyễn Thị Kim D đảm nhận nhiệm vụ kế toán trong thời hạn 01 năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù.
  3. Phạt tiền đối với các bị cáo Hứa Văn Â, Hoàng Văn C, Nguyễn Thị Kim D mỗi bị cáo 30.000.000 (ba mươi triệu) đồng về tội “Tham ô tài sản”.
  4. Phạt tiền đối với bị cáo Hứa Văn  10.000.000 (mười triệu) đồng về tội Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ.
  5. Phạt tiền đối với các bị cáo: Bế Thị T7, Dương Thị L, Vũ Văn M1, Chu Thị T8, Đường T, Bế Như T6, Lê Văn P3 mỗi bị cáo 10.000.000 (mười triệu) đồng.
  6. Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo: Bùi Thọ T4, Hoàng Thị L2.

4. Về trách nhiệm dân sự: Xác nhận các bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan hoàn trả và khắc phục xong toàn bộ số tiền thiệt hại và chiếm đoạt là 819.684.900 đồng (bao gồm 764.985.500 đồng nộp tại cơ quan điều tra và 54.699.400 đồng nộp trước và trong phiên tòa).

5. Về xử lý vật chứng:

  1. Tịch thu vào ngân sách Nhà nước các khoản tiền sau:
    • Số tiền 764.985.500 đồng theo giấy ủy nhiệm chi giữa đơn vị trả tiền là Công an huyện T và đơn vị nhận tiền là Chi cục thi hành án dân sự huyện T, tỉnh Lạng Sơn số tài khoản 3949.0.1054413.00000 tại Kho bạc Nhà nước huyện T lập ngày 20/02/2024.
    • Số tiền 15.000.000 (mười lăm triệu) đồng của bị cáo Lê Văn P3 theo biên lai số 0001877 ngày 02/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tràng Định.
    • Số tiền 12.567.000 đồng nằm trong số tiền 18.000.000 đồng của bị cáo Hứa Văn  nộp theo biên lai số 0001874 ngày 01/7/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tràng Định.
    • Số tiền 12.567.000 đồng nằm trong số tiền 18.000.000 đồng của bị cáo Nguyễn Thị Kim D nộp theo biên lai số 0001876 ngày 01/7/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tràng Định.
    • Số tiền 14.567.000 đồng nằm trong số tiền 20.000.000 đồng của bị cáo Hoàng Văn C nộp theo biên lai số 0001875 ngày 01/7/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tràng Định.
  2. Tịch thu hóa giá sung ngân sách nhà nước:
    • 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu Iphone 11 Pro màu vàng số IMEI 353236108187827 lắp 01 sim có số thuê bao 0989.183.435 Nguyễn Thị Kim D;
    • 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu XIAOMI màu đen số IMEI: 868144034558756 lắp 02 sim có số thuê bao 0353.658.560 và 0974.849.259 của bị cáo Hứa Văn Â;
    • 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy A10 có số IMEI 357966104103610/01, lắp 01 sim điện thoại số 0987.346.xxx của Đường T;
    • 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu SAMSUNG màu đen, số IMEI: 356161110171170/01 lắp 01 sim thuê bao số 0976.034.657, máy cũ đã qua sử dụng của Bùi Thọ T4;
    • 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu Iphone màu đen, số IMEI: 352988118532852 lắp 01 sim thuê bao số 0963.136.595, máy cũ đã qua sử dụng của Lê Văn P3;
    • 01 điện thoại di động cảm ứng nhãn hiệu Redmi màu xanh có số IMEI 567849060265685/78, lắp 01 sim số thuê bao 0848.510.410, máy cũ đã qua sử dụng của Chu Thị T8;
    • 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu Iphone màu đen, số IMEI: 355346083883007 lắp 01 sim thuê bao số 0978322341, máy cũ đã qua sử dụng của Vũ Văn M1;
    • 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy A10 màu xanh, có số IMEI: 357966105025689 lắp 01 sim số điện thoại 0979.238.xxx, máy cũ đã qua sử dụng của Bế Thị T7;
    • 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu OPPO màu hồng có số IMEI 863898035012197 lắp 01 (một) sim điện thoại số 0375.168.xxx máy cũ đã qua sử dụng của Hoàng Thị L2.
  3. Trả lại cho các bị cáo:
    • 01 quyển quy chế chi tiêu nội bộ năm 2022, 01 sổ ghi chép màu nâu, 01 sổ ghi chép màu đen, 01 quyển quỹ thu tiền mặt 2019-2020, 01 quyển quỹ thu tiền mặt chi tháng 7/2018 do không còn giá trị sử dụng của bị cáo Nguyễn Thị Kim D.
    • 01 quyển sổ quy chế phối hợp công tác giữa chi bộ, chính quyền và các đoàn thể; 01 quyển sổ quy chế làm việc nhiệm kỳ 2020-2025; 01 quyển sổ quy chế nội bộ năm 2022; 04 quyển sổ viết tay (03 màu đỏ, 01 màu đen) của bị cáo Hoàng Văn C.
    • Hoàng Văn C, Hứa Văn  và Nguyễn Thị Kim D mỗi bị cáo 5.433.000 đồng nhưng tạm giữ để đảm bảo việc thi hành án.
  4. Trả cho Trung tâm GDNN - GDTX huyện T các tài sản:
    • 01 USB chữ ký điện tử; 01 đầu máy vi tính (CPU) màu đen trên vỏ có dòng chữ ORIENT đã qua sử dụng, 01 máy vi tính (laptop) nhãn hiệu DELL màu đen đã qua sử dụng; 01 đầu máy vi tính (CPU) màu đen trên vỏ có dòng chữ ORIENT đã qua sử dụng; 01 USB màu đen chứa dữ liệu chữ ký điện tử; 01 đầu máy vi tính (CPU) màu đỏ đen trên vỏ có chữ ORIENT đã qua sử dụng;
    • 03 sổ báo giảng năm học 2022-2023 thu giữ của Hoàng Tuấn T10;
    • 15 bộ hồ sơ giảng dạy của 09 giáo viện dạy nghề thu giữ của Lục Thanh T11.

    (Vật chứng được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tràng Định, tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/02/2024 giữa Chi cục Thi hành án dân sự và Công an huyện T).

6. Về án phí: Buộc các bị cáo: Hứa Văn Â, Hoàng Văn C, Nguyễn Thị Kim D,Vũ Văn M1, Bùi Thọ T4, Chu Thị T8, Bế Thị T7, Đường T, Bế Như T6, Dương Thị L, Lê Văn P3, Hoàng Thị L2, Hoàng Thị H3, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung vào Ngân sách Nhà nước.

7. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt, có quyền kháng cáo bản trong hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • TAND tỉnh Lạng Sơn;
  • Sở Tư pháp tỉnh Lạng Sơn;
  • VKSND tỉnh Lạng Sơn;
  • VKSND huyện Tràng Định;
  • Công an huyện Tràng Định;
  • Chi cục THADS huyện Tràng Định;
  • Bị cáo tại ngoại (theo địa chỉ)
  • Những người có QLNVLQ ( theo địa chỉ);
  • Trung tâm GDNN - GDTX;
  • UBND xã (theo quy định);
  • Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Bẩy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 33/2024/HS-ST ngày 08/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀNG ĐỊNH, TỈNH LẠNG SƠN về vụ án hình sự sơ thẩm về tội tham ô tài sản và lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ

  • Số bản án: 33/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự sơ thẩm về tội Tham ô tài sản và Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀNG ĐỊNH, TỈNH LẠNG SƠN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hoang Van Chuong va ĐP
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger