Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BẾN CẦU

TỈNH TÂY NINH

Bản án số: 33/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 08-7-2024

V/v tranh chấp “Ly hôn

và con chung”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vui.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Hồng Phúc;
  2. Ông Nguyễn Văn Hải.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trang Hoàng Mỹ – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thảo Nguyên - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 88/2024/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn và con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2024/QĐXXST-HN ngày 21 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lê Thị H, sinh năm 1981.

Địa chỉ: Tiểu khu P, thị trấn H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.

- Bị đơn: Anh Bùi Văn M, sinh năm 1978.

Địa chỉ: Tổ B, ấp X, xã T, huyện B, tỉnh Tây Ninh.

Tất cả vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Nguyên đơn chị Lê Thị H trình bày: Chị và anh Bùi Văn M tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2006, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Tây Ninh. Vợ chồng chung sống có 01 con chung tên Bùi Mỹ D, sinh ngày 06-3-2007, hiện chị đang nuôi dưỡng.

Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2011 phát sinh mâu thuẫn, do cả hai bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên cải vã nhau, mặc dù vợ chồng đã cố gắng nhường nhịn nhưng vẫn không hòa hợp được, từ đó cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc nên chị về nhà mẹ ruột ở và anh chị sống ly thân từ năm 2011 cho đến nay. Trong thời gian sống ly thân anh chị không gặp nhau để bàn bạc việc hàn gắn gia đình. Chị nhận thấy tình cảm vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu được ly hôn với anh M.

Về con chung: Chị yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, không yêu cầu anh M cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.

Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.

Do bận công việc nên chị H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

- Bị đơn anh Bùi Văn M trình bày: Tại biên bản lấy lời khai ngày 10-6-2024 anh thống nhất thời gian chung sống, có đăng ký kết, con chung, tài sản chung và nợ chung. Từ khi kết hôn anh chị thuê nhà trọ ở và làm việc ở tỉnh Bình Dương, trong thời gian chung sống, do anh chị bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên cải vã nhau cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, không ai quan tâm đến ai. Năm 2011 chị H nói với anh về tỉnh Thanh Hóa sinh sống và làm việc, anh không đồng ý tuy nhiên chị H cùng con gái vẫn bỏ đi để anh ở lại một mình ở tỉnh Bình Dương và vợ chồng sống ly thân cho đến nay. Trong thời gian sống ly thân cả hai không gặp nhau để bàn bạc việc hàn gắn gia đình. Nay chị H yêu cầu ly hôn, anh đồng ý ly hôn.

Về con chung: Anh đồng ý cho chị H được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, anh không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.

Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.

Do bận công việc nên anh M có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định pháp luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56, 58, 81, 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016:

Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lê Thị H đối với anh Bùi Văn M; Con chung, giao cho chị H được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục Bùi Mỹ D, sinh ngày 06-3-2007, anh M không phải cấp dưỡng nuôi con do chị H không yêu cầu; Tài sản, chị H và anh M không yêu cầu nên không xem xét giải quyết; Nợ chung, chị H và anh M khai không có nên không xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị H phải chịu án phí sơ thẩm hôn nhân và gia đình theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Chị Lê Thị H và anh Bùi Văn M có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt là phù hợp với Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về hôn nhân: Chị Lê Thị H và anh Bùi Văn M kết hôn trên cơ sở hôn nhân tự nguyện, có đăng ký kết hôn nên được pháp luật công nhận là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ.

[3] Xét tình trạng hôn nhân của anh chị thì thấy rằng: Anh chị chung sống vào năm 2006, trong thời gian sống chung anh chị phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, mặc dù anh chị đã có gắng nhường nhịn nhưng vẫn không hòa hợp và trong thời gian sống ly thân chị H và anh M không gặp nhau bàn bạc việc đoàn tụ, không ai quan tâm chăm sóc đến ai, hơn nữa tại biên bản lấy lời khai ngày 10-6-2024 anh M đồng ý ly hôn. Do đó, có đủ căn cứ cho rằng mâu thuẫn giữa chị H và anh M đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị H là phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

[4] Về con chung: Chị H yêu cầu được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục Bùi Mỹ D, sinh ngày 06-3-2007, anh M đồng ý. Xét thấy, từ ngày anh chị sống ly thân, cháu D được chị H nuôi dưỡng chăm sóc tốt, hơn nữa cháu D nguyện vọng sống với chị H nên Hội đồng xét xử cần giao con cho chị H được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp theo quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình. Riêng việc cấp dưỡng nuôi con, chị H không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

[5] Về tài sản chung: Chị Lê Thị H và anh Bùi Văn M không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

[6] Về nợ chung: Chị Lê Thị H và anh Bùi Văn M khai không có nên không xem xét giải quyết.

[7] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[8] Về án phí: Chị H phải chịu án phí theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 56, 81, 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Lê Thị H với anh Bùi Văn M. Chị H được ly hôn với anh M.
  2. Về con chung: Giao cho chị H được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Bùi Mỹ D, sinh ngày 06-3-2007. Anh M không phải cấp dưỡng nuôi con do chị H không yêu cầu.

    Anh M có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

  3. Về tài sản chung: Chị Lê Thị H và anh Bùi Văn M không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
  4. Về nợ chung: Chị Lê Thị H và anh Bùi Văn M khai không có nên không xem xét giải quyết.
  5. Về án phí: Chị H phải chịu 300.000 đồng tiền án phí sơ thẩm hôn nhân gia đình. Khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0012231 ngày 30-5-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bến Cầu. Ghi nhận chị H đã nộp đủ tiền án phí.

Các đương sự có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh theo trình tự phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Phòng KTNV&THA. TAND tỉnh;
  • - VKSND tỉnh Tây Ninh;
  • - VKSND huyện Bến Cầu;
  • - Chi cục THADS huyện Bến Cầu;
  • - UBND xã Tiên Thuận (Số 170/2006);
  • - Các đương sự;
  • - Lưu.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Vui

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 33/2024/HNGĐ-ST ngày 08/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU, TỈNH TÂY NINH về tranh chấp ly hôn và con chung

  • Số bản án: 33/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn và con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU, TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn và con chung
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger