Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2024/HS-ST

Ngày: 08-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Hiếu

Thẩm phán: Ông Phạm Trung Dũng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Công Sế

Bà Đỗ Thị Lài

Ông Nguyễn Ngọc Cang

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thanh Trúc - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cúc - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 5 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 06/2024/HSST ngày 15/01/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2024/HSST-QĐ ngày 20/3/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 29/2024/QĐ-HPT ngày 09/4/2024 đối với bị cáo:

Phạm Chí T, sinh năm 1996 tại tỉnh Cà Mau;

Nơi đăng ký thường trú: Ấp R, xã R, huyện P, tỉnh Cà Mau; Chỗ ở: Ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 01/12; Nghề nghiệp: Đánh bắt hải sản trên biển; Cha Phạm Văn H, sinh năm 1959 và mẹ Phù Thị H1, sinh năm 1975; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ hai; Vợ, con: Chưa.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị bắt ngày 17/9/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B (có mặt tại phiên tòa).

* Người bào chữa cho bị cáo:

Ông Nguyễn Văn C - Luật sư Công ty L1 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh B (có mặt).

* Bị hại:

Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1982; địa chỉ: Ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).

* Người làm chứng:

  • - Ông Nguyễn Văn H2, sinh năm 1973; địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (vắng mặt).
  • - Ông Trương Văn L, sinh năm 1984; địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (vắng mặt).
  • - Ông Đặng Văn T2, sinh năm 1960; địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (vắng mặt).
  • - Ông Dương Công D, sinh năm 1974; địa chỉ: A, ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 16/9/2023, tàu cá mang số hiệu BV92988TS do anh Nguyễn Văn H2 (sinh năm 1973, trú tại: ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu) làm thuyền trưởng cùng các thuyền viên (trong đó có các thuyền viên Phạm Chí T và Nguyễn Văn T1) đánh bắt hải sản trên vùng biển cách huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu khoảng 140 hải lý. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, trong lúc thả lưới, T và T1 xảy ra mâu thuẫn trong việc giữ dây lưới. Sau đó, cả hai đi đến phía sau tàu đánh nhau bằng tay không. Trong khi đánh nhau, T1 đấm trúng mũi T một cái (không gây thương tích). Do được mọi người trên tàu can ngăn nên cả hai trở lại làm việc. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, tức giận do bị T1 đánh nên T lấy 01 con dao (bằng kim loại dài 38cm, rộng 07cm, cán dao dài 10cm, lưỡi dao dài 28 cm) tại khu vực bếp của tàu cầm trên tay phải đi đến sau lưng T1 đang đứng ở khu vực Cabin tàu. T dùng dao chém T1 02 phát liên tiếp vào vùng đầu, vai của T1 rồi bỏ đi ra phía sau lái tàu. Trực được mọi người trên tàu sơ cứu vết thương rồi chuyển đi điều trị tại bệnh viện C1, TP Hồ Chí Minh.

Tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 6095, ngày 22/9/2023 của Phân viện KHHS tại thành phố Hồ Chí Minh đối với Nguyễn Văn T1 xác định:

“- Các kết quả chính:

  • + Vết thương phần mềm đỉnh chẩm trái (vết thương + vết phẫu thuật), kích thước trung bình.
  • + Vết thương phần mềm vai trái, bờ mép gọn, kích thước nhỏ.
  • + Tụ máu dưới màng cứng bán cầu trái, dọc liềm não, lều tiểu não hai bên.
  • + Dập não xuất huyết đính trái.
  • + Xuất huyết dưới nhện đính trái.
  • + Khuyết sọ đỉnh trái, đã vá màng cứng.

- Kết luận:

  • + Vết thương phần mềm đỉnh chẩm trái (vết thương + vết phẫu thuật), kích thước trung bình: 02%
  • + Vết thương phần mềm vai trái, kích thước nhỏ: 01%
  • + Tụ máu dưới màng cứng bán cầu trái, dọc liềm não, lều tiểu não hai bên: 11%
  • + Dập não xuất huyết đính trái: 21%
  • + Xuất huyết dưới nhện đính trái: 11%
  • + Khuyết sọ đỉnh trái, đã vá màng cứng: 16%

Áp dụng phương pháp cộng tại thông tư, xác định tổng tỉ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Văn T1 tại thời điểm giám định là: 49% (Bốn mươi chín phần trăm).

- Kết luận khác:

  • + Thương tích trên người Nguyễn Văn T1 có đặc điểm phù hợp do vật sắc tác động gây ra".

Qua đánh giá kết quả điều tra về diễn biến sự việc, kết quả giám định, xét thấy chỉ vì mâu thuẫn nhỏ trong công việc mà bị can T đã dùng dao là hung khí nguy hiểm chém liên tiếp 02 phát vào vùng đầu, vai là vùng trọng yếu trên cơ thể con người rồi bỏ mặc nạn nhân đã thể hiện tính chất côn đồ, ý thức tước đoạt mạng sống nạn nhân, việc anh T1 không chết là ngoài ý muốn của bị can. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với T để điều tra về tội “Giết người” quy định tại khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự là có căn cứ. Quá trình điều tra, bị can đã khai nhận hành vi của bản thân, công nhận kết quả giám định; lời khai của bị can Phạm Chí T3 phù hợp với lời khai của bị hại Nguyễn Văn T1, người làm chứng về nguyên nhân và diễn biến của sự việc, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

+ Vật chứng: Cơ quan điều tra thu giữ 01 con dao bằng kim loại đã bị rỉ sét, dài 38cm, rộng 07cm, cán dài 10 cm, lưỡi dài 28cm, đã chuyển đến Cục thi hành án dân sự tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu quản lý.

+ Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị hại Nguyễn Văn T1 yêu cầu Phạm Chí T3 bồi thường các khoản sau: 60 triệu đồng chi phí điều trị thương tích, 45 triệu đồng tiền ngày công lao động trong 3 tháng, 100 triệu đồng thiệt hại về tinh thần, 40 triệu đồng tiếp tục mổ gắn sọ não, 20 triệu đồng đi lại điều trị thương tích, 18 triệu đồng tiền công người chăm sóc trong 03 tháng. Tổng cộng số tiền bị hại yêu cầu bị can bồi thường là 283 triệu đồng. Bị can T3 chưa bồi thường.

2. Tại Cáo trạng số 12/CT-VKSBRVT-P2 ngày 10/01/2024, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu truy tố bị cáo Phạm Chí T3 về tội “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.

3. Tại phiên tòa sơ thẩm:

3.1. Bị cáo Phạm Chí T3 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

3.2. Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố:

Về tội danh: Bị cáo Phạm Chí T3 phạm tội “Giết người”.

Về hình phạt: Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 15; Điều 57; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Chí T3 từ 11 (mười một) đến 13 (mười ba) năm tù.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Văn T1 yêu cầu bị cáo bồi thường tổng cộng là 283.000.000 (hai trăm tám mươi ba triệu) đồng. Tại phiên toà bị cáo đồng ý bồi thường 283.000.000 (hai trăm tám mươi ba triệu) đồng trên nên ghi nhận.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.

3.3. Luật sư Nguyễn Văn C phát biểu quan điểm bào chữa cho bị cáo:

  • + Về tội danh: Không ý kiến về tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố;
  • + Về hình phạt: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo T3 thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị hại đánh bị cáo nên bị cáo bị kích động về tinh thần; bị cáo đồng ý bồi thường cho bị hại; bị cáo chưa có tiền án, tiền sự là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s,e khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo phạm tội chưa đạt nên đề nghị áp dụng Điều 15; Điều 57 Bộ luật hình sự cho bị cáo. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo dưới mức đề nghị của Viện kiểm sát.

3.4. Bị hại Nguyễn Văn T1 phát biểu quan điểm: Yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 283.000.000 (hai trăm tám mươi ba triệu) đồng.

3.5. Bị cáo nói lời sau cùng: bị cáo thể hiện thái độ ăn năn hối hận, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo có cơ hội sớm trở về làm công dân tốt có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an tỉnh B, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã tuân thủ nghiêm chỉnh theo thủ tục tố tụng trong việc thu thập chứng cứ theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử có căn cứ xác định nội dung vụ án như sau:

Ngày 16/9/2023, trong quá trình đánh bắt hải sản trên tàu cá BV92988TS do anh Nguyễn Văn H2 làm thuyền trưởng ở vùng biển cách huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu khoảng 140 hải lý, giữa thuyền viên Phạm Chí T3 và thuyền viên Nguyễn Văn T1 xảy ra mâu thuẫn trong công việc dẫn đến đánh nhau. Do bực tức vì bị anh T1 đánh trước đó (không gây thương tích) nên T3 dùng 01 con dao bằng kim loại, dài 38cm, rộng 07cm tại khu vực bếp của tàu chém Trực hai nhát vào vùng đầu, vai là vùng trọng yếu trên cơ thể anh T1 gây thương tích 49%.

Mặc dù bị cáo T3 thực hiện hành vi phạm tội thuộc trường hợp chưa đạt nhưng hành vi dùng dao là hung khí nguy hiểm chém liên tiếp 02 phát vào vùng đầu, vai là vùng trọng yếu trên cơ thể rồi bỏ mặc nạn nhân là có tính chất côn đồ, ý thức tước đoạt mạng sống nạn nhân T1. Việc anh T1 không chết là ngoài ý muốn của bị cáo.

Từ diễn biến hành vi của bị cáo và kết luận giám định, Hội đồng xét xử hoàn toàn có căn cứ quy kết bị cáo Phạm Chí T3 đã phạm tội “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu truy tố bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội:

Hành vi phạm tội của bị cáo Phạm Chí T3 là đặc biệt nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe, tính mạng của ông Nguyễn Văn T1. Hành vi của bị cáo thể hiện tính chất côn đồ, coi thường sức khỏe, tính mạng của người khác, coi thường pháp luật, gây mất trật tự trị an xã hội và gây tâm lý hoang mang lo sợ đối với quần chúng nhân dân nơi xảy ra sự việc. Do đó, cần có mức án phù hợp, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe giáo dục đồng thời góp phần đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tại phiên toà bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của bị hại nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên toà giữa bị cáo và bị hại thống nhất số tiền bồi thường là 283.000.000 đồng (hai trăm tám mươi ba triệu đồng), nên buộc bị cáo bồi thường cho bị hại là 283.000.000 đồng (hai trăm tám mươi ba triệu đồng).

[6] Về xử lý vật chứng:

Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự xử lý: Tịch thu tiêu hủy 01 con dao bằng kim loại đã bị rỉ sét, chiều dài 38cm, chiều rộng 07cm, cán dao dài 10cm, lưỡi dao dài 28cm.

[7] Về án phí sơ thẩm: Bị cáo Phạm Chí T3 phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và điều luật áp dụng:

Tuyên bố bị cáo Phạm Chí T3 phạm tội “Giết người”.

Áp dụng: điểm n khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 15; Điều 57; Điều 38 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt: Phạm Chí T3 11 (mười một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 17 tháng 9 năm 2023.

2. Về trách nhiệm dân sự:

Buộc bị cáo Phạm Chí T3 bồi thường cho bị hại Nguyễn Văn T1 số tiền 283.000.000₫ (hai trăm tám mươi ba triệu đồng).

Kể từ khi bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án nếu bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

3. Về xử lý vật chứng:

Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tiêu hủy 01 con dao bằng kim loại đã bị rỉ sét, dài 38cm, rộng 07cm, cán dài 10 cm, lưỡi dài 28cm.

(Hiện Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng số 34/BB-CTHADS ngày 19/01/2024).

4. Về án phí:

- Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Phạm Chí T3 phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng.

- Án phí dân sự sơ thẩm: Bị cáo Phạm Chí T3 phải chịu 14.150.000 (mười bốn triệu một trăm năm mươi ngàn) đồng.

5. Quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân Cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh để yêu cầu xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh BR-VT;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh BR-VT;
  • - Công an tỉnh BR-VT;
  • - Sở Tư pháp tỉnh BR-VT;
  • - Cục Thi hành án dân sự tỉnh BR-VT;
  • - THAHS tỉnh BR-VT;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu (3): Văn phòng, Tòa Hình sự, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thành Hiếu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 33/2024/HS-ST ngày 08/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU về giết người (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 33/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Giết người (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Chí T Giết người
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger