Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THANH CHƯƠNG

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2024/HSST

Ngày: 08/5/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH CHƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Trọng Sơn

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Ngân, ông Nguyễn Đức Lam.

- Thư ký phiên toà: Ông Trần Văn Thoả. Thư ký Toà án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Chương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Thuỳ - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 5 năm 2024. Tại: Trụ sở Trường Trung học phổ thông T3, huyện T, tỉnh Nghệ An.

Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 31/2024/HSST, ngày 24 tháng 4 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2024/QĐXXST-HS, ngày 25/02/2024, đối với:

  1. Bị cáo: Lê Văn Đ, sinh ngày 16/12/1995. Nơi cư trú: Xóm P, xã Đ, huyện T, tỉnh Nghệ An. Thẻ CCCD: [...]; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 11/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông: Lê Văn L ( chết ) và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1975; vợ con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 27/9/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương xử phạt 25 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong bản án vào ngày 21/4/2019.

    Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/01/2024 đến nay, có mặt tại phiên toà.

  2. Bị cáo: Đậu Đình T1, sinh ngày 01/01/1999. Nơi cư trú: Khối F, thị trấn T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Thẻ CCCD: [...]; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông: Đậu Đình H, sinh năm 1964 và bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1968; vợ con: Chưa có; tiền sự: Không. Tiền án: Ngày 5/5/2022 bị

Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương xử phạt 12 tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”. Chấp hành xong bản án vào ngày 20/01/2023.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/01/2024 đến nay, có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm như sau: Trên cơ sở kết quả điều tra đã xác định được như sau: Trên địa bàn huyện T, tỉnh Nghệ An, Lê Văn Đ đã có hành vi 02 lần bán ma túy cho các đối tượng nghiện vào các ngày 18/12/2023 và ngày 27/12/2023 cụ thể như sau:

Lần thứ nhất: Vào khoảng 11 giờ 00 phút ngày 18/12/2023, Lê Văn Đ đang ở nhà thì nhận được tin nhắn của Thái Văn Đ1 (sinh năm 1998, trú tại khối F, thị trấn T, huyện T, tỉnh Nghệ An) qua ứng dụng Messenger hỏi mua ma túy đá, thì Đ đồng ý bán cho Đ1 01 (một) gói ma túy đá với giá 300.000 đồng. Đ yêu cầu Đ1 chuyển tiền đến Ngân hàng T4, số tài khoản số 85894568888 đứng tên anh Thái Văn H1 (sinh năm 1992, trú tại khối E thị trấn T). Nhận được tiền, Đ cầm theo một gói ni lông màu trắng, bên trong có chứa ma túy đá và đi đến điểm hẹn ở khu vực gần Rú Động thuộc xóm P, xã Đ, huyện T. Tại đây, Đ vứt gói ma túy ở trên tay xuống đất để cho Đ1 lấy rồi Đ đi về nhà. Thái Văn Đ1 sau khi mua được ma túy của Đ đã đưa đến khu vực rú Động, thuộc xã Đ để tổ chức sử dụng cùng với một số đối tượng khác (Hiện vụ việc đang được Cơ quan Cảnh sát điều tra (CSĐT) Công an huyện T điều tra, xử lý).

Lần thứ hai: Khoảng 17 giờ ngày 27/12/2023, Võ Bá Q (sinh năm 1973, trú tại khối E, thị trấn T) gọi điện thoại cho Lê Văn Đ để hỏi mua 02 (hai) gói ma túy đá với giá 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) thì Đ đồng ý. Đ hẹn Q đến khu vực cổng chính trường THPT Nguyễn Cảnh C thuộc thị trấn T để giao dịch mua bán ma túy. Đến khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, Đ cầm một túi bóng chứa 02 (hai) gói ma túy xuống một bên đường rồi nhận số tiền 600.000 đồng (sáu trăm nghìn đồng) từ Q. Sau khi mua được ma túy, Q đã một mình sử dụng hết số ma túy vừa mua này.

Ngày 02/01/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện T tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lê Văn Đ, phát hiện thu giữ trong túi áo khoác để trên giường ngủ của Lê Văn Đ 02 (Hai) túi ni lông gồm:

  • + 01 (Một) túi ni lông màu trắng, bên trong có 17 (mười bảy) gói ni lông màu trắng, có hình dạng, đặc điểm tương đồng nhau, bên trong mỗi gói đều chứa chất tinh thể màu trắng (nghi là ma túy).

  • + 01 (Một) túi ni lông màu trắng, bên trong có 06 (sáu) gói ni lông màu trắng, có hình dạng, đặc điểm tương đồng nhau, bên trong mỗi gói đều chứa chất tinh thể màu trắng (nghi là ma túy).

Lê Văn Đ khai nhận, nguồn gốc số ma túy mà Đ bán cho Thái Văn Đ1Võ Bá Q là do vào tháng 12/2023, Đ mua của Đậu Đình T1 với giá 500.000 đồng. Sau khi mua được ma túy của T1, Đ đã về chia thành 04 (bốn) gói nhỏ, trong đó, Đ sử dụng một gói, còn ba gói còn lại Đ đã bán cho Đ1Q; nguồn gốc số ma túy mà Cơ quan điều tra thu giữ qua khám xét khẩn cấp là do vào ngày 10/12/2023, Đ mua của 01 người đàn ông tên Trần Văn L1 (sinh năm 1992, trú tại xã V hoặc xã T của huyện T) với giá 500.000 đồng với mục đích để bán.

Ngày 02/01/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện T tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Đậu Đình T1, phát hiện, thu giữ trong túi quần bò màu đen của Đậu Đình T1 ở khu vực phơi quần áo gần giếng các đồ vật sau:

  • - Trong túi quần bò bên trái 01 (một) gói ni lông màu trắng, viền đỏ, bên trong có 24 (hai mươi bốn) gói ni lông màu trắng, viền xanh, có hình dạng, đặc điểm tương đồng nhau, đều chứa chất tinh thể màu trắng (nghi là ma túy).

  • - Trong túi quần bò bên phải 01 (một) khẩu trang màu hồng, quai đen, bên trong có: 01 (một) gói ni lông màu trắng, viền đỏ, bên trong có 21 (hai mươi mốt) gói ni lông màu trắng, viền xanh, có hình dạng, đặc điểm tương đồng nhau, đều chứa chất tinh thể màu trắng; 01 (một) gói ni lông màu trắng, viền đỏ, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng (nghi là ma túy).

Đậu Đình T1 khai nhận, nguồn gốc số ma túy bị phát hiện thu giữ trên là do khoảng tháng 12/2023 T1 đã mua của người đàn ông tên H1 ở tỉnh Hưng Yên với giá 3.000.000 đồng để về bán kiếm lời. Sau đó, gói ma túy Ketamine Tài vẫn để nguyên, còn chia ma túy ra các gói nhỏ để bán kiếm lời. Ngoài ra, vào tháng 8/2023, T1 cũng mua của người đàn ông tên H1 này 01 gói ma túy đá với giá 3.000.000 đồng, số ma túy này sau khi T1 mua về đã chia nhỏ để bán và sử dụng hết, cụ thể:

Lần thứ nhất: Khoảng 22 giờ ngày 16/8/2023, Nguyễn Văn N (sinh năm 2005, trú tại khối D, thị trấn T) gọi điện cho Đậu Đình T1 qua ứng dụng Messenger Faebook, rồi chuyển khoản 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) vào số tài khoản Ngân hàng B 51110000730499 của T1 để mua ma túy đá. Sau đó, T1 hẹn N đến cầu treo thị trấn T rồi đưa cho N 01 gói ni lông, bên trong chứa ma tuý đá. N sau khi mua được ma túy của T1 đã tổ chức sử dụng cùng một số đối tượng nghiện khác (Hiện vụ việc đang được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T điều tra, xử lý).

Lần thứ hai: Vào khoảng 19 giờ ngày 10/9/2023, Lê Thanh Y (sinh năm 1997, trú tại khối F, thị trấn T) liên lạc với T1 qua ứng dụng Zalo để hỏi mua ma túy của T1. T1 đồng ý và hẹn Y đến gần sân bóng, sát nhà Y. Tại đây, T1 lấy ma túy đá bỏ vào trong túi ni lông nhỏ màu trắng rồi đưa cho Y rồi lấy từ Yên số tiền 300.000 đồng. Bán ma túy cho Y xong T1 đi về nhà còn Lê Thanh Y sau khi mua được ma túy đã tổ chức sử dụng cho các đối tượng nghiện khác (Hiện vụ việc đang được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T điều tra, xử lý).

Lần thứ ba: Vào khoảng giữa tháng 12/2023, Lê Văn Đ gọi điện thoại cho Đậu Đình T1 để mua ma túy dạng đá với giá 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng). T1 đồng ý nên hẹn Đ đến khu vực gần Trường mầm non thị trấn T để giao ma túy. Gặp Đ, T1 đưa cho Đ 01 (một) túi ni lông màu trắng, bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng rồi nhận từ Đ số tiền 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng). Sau khi mua được ma túy, Đ đã chia số ma túy vừa mua được thành 04 (bốn) gói nhỏ để sử dụng và bán kiếm lời.

Ngày 02/01/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện T, Nghệ An đã thành lập Hội đồng mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại vật chứng thu giữ khi khám xét chỗ ở của Lê Văn ĐĐậu Đình T1. Sau đó, Cơ quan điều tra tiến hành trưng cầu giám định chất ma tuý đối với tang vật thu giữ được của Lê Văn ĐĐậu Đình T1 tại Phòng K Công an tỉnh N. Tại Bản kết luận giám định số: 124/KL-PC09(Đ2-MT) ngày 10/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận:

  • “- 23 (Hai mươi ba) mẫu chất tinh thể màu trắng (Ký hiệu từ M1 đến M23) thu giữ khi khám xét chỗ ở của Lê Văn Đ gửi giám định đều là ma tuý; Loại Methamphetamine.

  • - Số chất tinh thể màu trắng thu giữ khi khám xét chỗ ở của Lê Văn Đ có tổng khối lượng là 2,245 g (Hai phẩy hai trăm bốn mươi lăm gam).”

Tại Bản kết luận giám định số: 123/KL-PC09(Đ2-MT) ngày 10/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận:

  • “- 45 (Bốn mươi lăm) mẫu chất tinh thể màu trắng (Ký hiệu từ M1 đến M45) thu giữ khi khám xét chỗ ở của Đậu Đình T1 gửi giám định đều là ma tuý; loại Methamphetamine.

  • - Số chất tinh thể màu trắng trong các gói ni lông màu trắng, ký hiệu từ M1 đến M45 thu giữ khi khám xét chỗ ở của Đậu Đình T1 có tổng khối lượng là 4,185g (Bốn phẩy một trăm tám mươi lăm gam).

  • - Mẫu chất tinh thể màu trắng (Ký hiệu M46A) thu giữ khi khám xét chỗ ở của Đậu Đình T1 gửi giám định là ma túy; loại Ketamine.

  • - Số chất tinh thể màu trắng trong gói ni lông màu trắng, ký hiệu M46 thu giữ khi khám xét chỗ ở của Đậu Đình T1 có khối lượng là 1,850g (Một phẩy tám trăm năm mươi gam.”

Tại bản Cáo trạng số 34/CT-VKS-TC ngày 22/4/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Chương đã truy tố Lê Văn ĐĐậu Đình T1, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2, Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Chương đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt Lê Văn Đ, từ 07 năm 02 tháng tù đến 07 năm 05 tháng tù. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, xử phạt Đậu Văn T2, từ 07 năm 03 tháng tù đến 07 năm 06 tháng tù. Áp dụng Điều 106; 136 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu huỷ: 1,715 gam ma tuý; toàn bộ vỏ phong bì niêm phong ban đầu.

Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại hiệu IPHONE 11 màu xanh và 01 điện thoại hiệu NOKIA 105 của Lê Văn Đ. 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE XS MAX màu đen của Đậu Đình T1. Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 800.000 đồng của Lê Văn Đ. Truy thu tại Lê Văn Đ số tiền 100.000 đồng do bán ma tuý ma có ( 02 lần bán với số tiền 900.000 đồng). Truy thu tại Đ số tiền 1.100.000.000 đồng do bán ma tuý mà có. Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Chương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay các bị cáo Lê Văn ĐĐậu Đình T1 đã hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố của Viện kiểm sát. Lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với nhau; phù hợp với lời khai của người làm chứng; phù hợp với vật chứng thu được; phù hợp với các kết luận giám định.

Xét về chứng cứ đã có đủ cơ sở để kết luận:

Trong các ngày 18/12/2023 và ngày 27/12/2023, trên địa bàn huyện T, tỉnh Nghệ An, Lê Văn Đ đã có hành vi 02 lần bán ma túy cho các đối tượng nghiện, cụ thể:

Lần thứ nhất: Vào khoảng 11 giờ 00 phút ngày 18/12/2023, tại khu vực gần R thuộc xóm P, xã Đ, huyện T, Lê Văn Đ đã có hành vi bán trái phép cho Thái Văn Đ1 (sinh năm 1998, trú tại khối F, thị trấn T, huyện T) 01 gói ma túy đá với giá 300.000 đồng.

Lần thứ hai: Khoảng 17 giờ ngày 27/12/2023, tại khu vực cổng chính trường THPT Nguyễn Cảnh C thuộc thị trấn T, Lê Văn Đ đã có hành vi bán trái phép cho Võ Bá Q (sinh năm 1973, trú tại khối E, thị trấn T) 02 gói ma túy đá với giá 600.000 đồng.

Ngoài ra, Lê Văn Đ còn có hành vi cất dấu 23 gói Methamphetamine có tổng khối lượng là 2,245 gam với mục đích để bán kiếm lời.

Trong các ngày 16/8/2023, 10/9/2023 và tháng 12/2023, trên địa bàn huyện T, Đậu Đình T1 đã có hành vi 03 lần bán ma túy cho các đối tượng nghiện cụ thể:

Lần thứ nhất: Khoảng 22 giờ ngày 16/8/2023, tại cầu treo thị trấn T, Đậu Đình T1 đã có hành vi bán trái phép cho Nguyễn Văn N (sinh năm 2005, trú tại khối D, thị trấn T) 01 gói ma túy đá với giá 300.000 đồng.

Lần thứ hai: Vào khoảng 19 giờ ngày 10/9/2023, tại khu vực sân bóng thị trấn T, Đậu Đình T1 đã có hành vi bán trái phép cho Lê Thanh Y (sinh năm 1997, trú tại khối F, thị trấn T) 01 gói ma túy đá với giá 300.000 đồng.

Lần thứ ba: Vào khoảng giữa tháng 12/2023, tại khu vực gần Trường mầm non thị trấn T, Đậu Đình T1 đã có hành vi bán trái phép cho Lê Văn Đ 01 gói ma túy đá với giá 500.000 đồng.

Ngoài ra, Đậu Đình T1 còn cất dấu 45 gói Methamphetamine có tổng khối lượng 4,185 gam; 01 gói Ketamine có khối lượng 1,850 gam với mục đích bán kiếm lời.

Như vậy đã có đủ cơ sở để khẳng định bị cáo Lê Văn ĐĐậu Đình T1, phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” như Viện kiểm sát truy tố là đúng.

[3] Xét các hành vi phạm tội của bị cáo Lê Văn ĐĐậu Đình T1 là nguy hiểm, hành vi phạm tội của các bị cáo đã gây ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự xã hội tại địa phương và xâm phạm đến trật tự quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý. Các bị cáo đều là người có nhân thân xấu, Lê Văn Đ đã 01 lần bị Toà án xét xử về tội mua bán trái phép chất ma tuý. Đậu Đình T1 cũng đã một lần bị Toà án xét xử về tội cưỡng đoạt tài sản (tái phạm). Cho nên cần xét xử nghiêm, mới có tác dụng giáo dục riêng, phòng ngừa chung và cần cách ly các bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục các bị cáo.

Tuy nhiên xét thấy quá trình điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải hành vi phạm tội của mình; bị cáo Đậu Đình T1, Lê Văn Đ có ông bà nội là người có công với nước đã được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhì; các Bằng khen. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Cho nên cũng cần xem xét giảm nhẹ phần nào về hình phạt cho các bị cáo, căn cứ vào tính chất hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của từng bị cáo, để thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.

[4] Về vật chứng:

Quá trình điều tra thu giữ của Lê Văn Đ: 01 (Một) túi ni lông màu trắng, bên trong có 17 (mười bảy) gói ni lông màu trắng chứa ma túy; 01 (Một) túi ni lông màu trắng, bên trong có 06 (sáu) gói ni lông màu trắng chứa ma túy. Toàn bộ số ma túy này đã sử dụng hết trong quá trình giám định; 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 11 màu xanh; 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 105, màu đen; số tiền 800.000 đồng (Tám trăm nghìn đồng); thu giữ của Đậu Đình T1: 01 (một) gói ni lông màu trắng, viền đỏ, bên trong có 24 (hai mươi bốn) gói ni lông màu trắng chứa ma túy; 01 (một) khẩu trang màu hồng, bên trong có 01 (một) gói ni lông màu trắng, viền đỏ, bên trong gói ni lông có 21 (hai mươi mốt) gói ni lông màu trắng chứa ma túy. Số ma túy này đã sử dụng 4,185 gam trong quá trình giám định, còn lại 1,715 gam; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE XS MAX, màu đen.

Số vật chứng còn lại thì cần xử lý như sau:

Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại hiệu IPHONE 11 màu xanh và 01 điện thoại hiệu NOKIA 105 của Lê Văn Đ. 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE XS MAX màu đen của Đậu Đình T1. Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 800.000 đồng của Lê Văn Đ. Truy thu tại Lê Văn Đ số tiền 100.000 đồng do bán ma tuý ma có ( 02 lần bán với số tiền 900.000 đồng). Truy thu tại Đ số tiền 1.100.000.000 đồng do bán ma tuý mà có.

[5] Đối với người đàn ông tên H1 đã bán ma túy cho Đậu Đình T1 và người đàn ông tên L1 đã bán ma túy cho Lê Văn Đ. Do người đàn ông tên H1 không có tên tuổi, địa chỉ cụ thể còn người đàn ông tên Lý qua xác minh không có ai ở xã V và xã T có tên như trên, nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý.

Đối với Thái Văn Đ1, Nguyễn Văn NLê Thanh Y, các đối tượng này đã bị khởi tố về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” ở những vụ án khác, nên không xem xét xử lý ở trong vụ án này.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Võ Bá Q. Do hành vi sử dụng không phải là tội phạm nên Cơ quan CSĐT chuyển hồ sơ đề nghị Trưởng Công an huyện T ra quyết định xử phạt hành chính.

[6] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điểm b khoản 2, Điều 251; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, đối với Lê Văn Đ. Áp dụng điểm b khoản 2, Điều 251; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, đối với Đậu Đình T1. Áp dụng Điều 106; 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, xử:

  1. Tuyên bố: Bị cáo; Lê Văn ĐĐậu Đình T1, phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

  2. Xử phạt bị cáo: Lê Văn Đ, 07 ( bảy ) năm, 02 ( hai ) tháng tù.

    Thời hạn tù tính từ ngày 02/01/2024.

  3. Xử phạt bị cáo: Đậu Đình T1, 07 ( bảy ) năm, 03 ( ba ) tháng tù.

    Thời hạn tù tính từ ngày 02/01/2024.

  4. Về vật chứng:

    4.1. Tịch thu tiêu hủy: 1,715 gam ma tuý; toàn bộ vỏ phong bì niêm phong ban đầu.

    4.2. Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại hiệu IPHONE 11 màu xanh và 01 điện thoại hiệu NOKIA 105 của Lê Văn Đ. 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE XS MAX màu đen của Đậu Đình T1. Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 800.000 đồng của Lê Văn Đ.

    4.3. Truy thu tại Lê Văn Đ số tiền 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng) để sung vào ngân sách Nhà nước.

    4.4. Truy thu tại Đậu Đình T1 số tiền 1.100.000 đồng (Một triệu, một trăm nghìn đồng) để sung vào ngân sách Nhà nước.

    ( Chi tiết có tại biên bản giao nhận tài sản ngày 24/01/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra và Kho bạc Nhà nước huyện T; Phiếu nhập kho ngày 24/01/2024 của Kho bạc Nhà nước huyện T, tỉnh Nghệ An. Biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/04/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra và Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An ).

  5. Về án phí: Bị cáo Lê Văn ĐĐậu Đình T1, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng ( Hai trăm nghìn đồng ) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

  6. Các bị cáo, có quyền kháng cáo lên Toà án cấp trên trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

- Sở tư pháp, TAND tỉnh Nghệ An

- CA, VKS huyện Thanh Chương

- THA hình sự

- Chi cục THA dân sự TC

- UBND xã Đồng Văn, UBND thị trấn

- Các đương sự

- Bị cáo, Lưu VP, lưu HS

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

( đã ký)

Nguyễn Trọng Sơn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 33/2024/HSST ngày 08/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH CHƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN về mua bán trái phép chất ma túy (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 33/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH CHƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đức T mua bán ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger