|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒNG NGỰ TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 33/2024/HS-ST Ngày 07-8-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒNG NGỰ,TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Thống.
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Ông Đào Ngọc Ứng;
- 2. Bà Nguyễn Thị Phương Trang.
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Kim Lài - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Hồ Long Hồ - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự (điểm cầu trung tâm) và Nhà tạm giữ Công an thành phố H, tỉnh Đồng Tháp (điểm cầu thành phần), tiến hành xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số: 41/2024/TLST-HS, ngày 18 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2024/QĐXXST-HS, ngày 25 tháng 7 năm 2024, đối với bị cáo:
Nguyễn Thành K, sinh ngày 01/01/1983 tại Long An; Nơi cư trú: Khu phố B, thị trấn V, huyện V, tỉnh Long An; nghề nghiệp: Thợ điện; trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1947 (chết) và bà Trần Thị N, sinh năm 1950; gia đình có 05 anh, chị, bị cáo là con thứ năm trong gia đình; vợ, con: Chưa có; tiền sự: Chưa có; tiền án: Chưa có; nhân thân: Ngày 28/7/2009, bị Công an huyện V, tỉnh Long An, xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”, đã nộp phạt xong; tạm giữ: Ngày 22/4/2024; tạm giam: Từ ngày 26/4/2024 đến nay. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố H, tỉnh Đồng Tháp (bị cáo có mặt tại phiền tòa).
- Bị hại:
1. Trương Văn L1, sinh năm 1991 (đơn xin vắng mặt);
Nơi cư trú: Khóm A, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.
2. Hồ Quốc T, sinh năm 1988 (có mặt);
Nơi cư trú: Khóm A, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.
3. Ngô Thanh G, sinh năm 1975 (có mặt);
Nơi cư trú: Khóm B, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Lê Thị Thu T1, sinh năm 1988 (có mặt);
Nơi cư trú: Khóm A, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.
2. Lê D, sinh năm 1990 (vắng mặt);
Nơi cư trú: Khóm A, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.
3. Trương Văn X, sinh năm 1992 (vắng mặt);
Nơi cư trú: Ấp C, xã T, huyện V, tỉnh Long An.
- Người chứng kiến: Nguyễn Văn A, sinh năm 1994 (vắng mặt).
Nơi cư trú: Ấp Thị, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Tại điểm cầu trung tâm, gồm có: Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên và Thư ký phiên tòa, bị hại Hồ Quốc T, Ngô Thanh G và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lê Thị Thu T1.
Tại điểm cầu thành phần, gồm có: Bị cáo Nguyễn Thành K; cán bộ hỗ trợ tư pháp: Đồng chí Lê Trung H và Đinh Văn C.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do muốn nhanh chóng có tiền tiêu xài nên vào khoảng 16 giờ 10 phút ngày 22/4/2024, Nguyễn Thành K đi bộ xung quanh phường A, thành phố H tìm tài sản để lấy trộm. Khi đến công viên Quảng trường V, K nhìn thấy 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA, màu xanh (xe không gắn biển số) của anh Trương Văn L1 đậu trên vỉa hè trên đường L thuộc khóm E, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp, xe không có người quản lý trông coi, chìa khoá xe cắm trên ổ khoá nên K lén lút lấy trộm và điều khiển xe về hướng đường N thuộc khóm E, phường A. Khi đi cách hiện trường khoảng 200m (mét) thì Nguyễn Thành K bị bắt quả tang.
Ngoài ra, Nguyễn Thành K còn khai nhận ngoài hành vi trộm cắp tài sản bị bắt quả tang vào ngày 22/4/2024 thì trước đó K còn 02 (hai) lần thực hiện hành vi trộm cắp sản trên địa bàn thành phố H, cụ thể như sau:
-Lần thứ nhất: Vào khoảng 16 giờ ngày 29/3/2024, Nguyễn Thành K đi bộ đến đường L thuộc khóm E, phường A, thành phố H tìm tài sản để trộm cắp. Kẻ phát hiện xe mô tô biển số 66V1-385.19, loại Wave màu xanh-bạc-đen của anh Hồ Quốc T dựng trên vỉa hè, chìa khoá xe cấm trên ổ khóa xe nên K mở khoá lấy trộm, điều khiển xe qua xã V, thị xã T, tỉnh An Giang, Kẻ làm thủ tục qua Casino bên Campuchia cầm xe với giá 6.000.000 đồng, sử dụng tiêu xài cá nhân và đánh bạc thua hết tiền.
-Lần thứ hai: Vào khoảng 09 giờ sáng ngày 12/4/2024, Nguyễn Thành K đi bộ vào Bệnh viện Đ, nhìn thấy xe mô tô hiệu HONDA, màu sơn tím-trắng, biển số 66H1-221.89 của anh Ngô Thanh G đậu tại khu vực nhà để xe nhân viên. Lúc này, K lấy chìa khoá xe mang sẵn theo trong người để mở khoá trộm xe rồi điều khiển xe qua xã V, thị xã T, tỉnh An Giang, tiếp tục Kẻ làm thủ tục qua Casino bên Campuchia cầm xe với giá 6.000.000 đồng, sử dụng tiêu xài cá nhân và đánh bạc thua hết tiền.
- Vật chứng vụ án, Cơ quan điều tra đã thu giữ: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA, màu xanh – đen, không gắn biển số. Số máy: JC35E0123028. Số khung: RLHJC35046Y032966; 01 (một) điện thoại di động hiệu NOKIA, màu đen, đã qua sử dụng; 02 (hai) chìa khoá xe mô tô, một cái loại YAMAHA, một cái loại HONDA. Đối với 01 (một) xe mô tô biển số 66V1-385.19 loại Wave màu xanh-bạc-đen và 01 (một) xe mô tô biển số 66H1-221.89, nhãn hiệu HONDA, loại Ware, màu trắng – tím không tìm được tài sản.
- Bản Kết luận định giá tài sản số: 26/KL-HĐĐG ngày 23/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự thành phố H, tỉnh Đồng Tháp, kết luận: Giá trị 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại Wave 125, màu xanh đen, không có biển số, đã qua sử dụng là 70.000.000 đồng.
- Bản kết luận định giá tài sản số: 32/KL-HĐĐG, ngày 24/5/2024, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố H, tỉnh Đồng Tháp, kết luận: Giá trị 01 (một) xe mô tô biển số 66H1-221.89, nhãn hiệu HONDA, loại Ware, màu trắng – tím là 5.340.000 đồng; Giá trị 01 (một) xe mô tô biển số 66V1-385.19, nhãn hiệu HONDA, loại Ware, màu xanh – đen – bạc là 3.800.000 đồng
Trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý: Trả lại cho bị hại Trương Văn L1 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại Wave 125, màu xanh đen, không gắn biển số, đã qua sử dụng. Đối với 02 xe mô tô mà
bị cáo chiếm đoạt của bị hại Hồ Quốc T và Ngô Thanh G thì không thu hồi được.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Trương Văn L1 không yêu cầu; bị hại Ngô Thanh G yêu cầu Nguyễn Thành K bồi thường 13.000.000 đồng; bị hại Hồ Quốc T yêu cầu Nguyễn Thành K bồi thường 5.000.000 đồng.
Trong quá trình điều tra, Nguyễn Thành K đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội đã thực hiện.
Tại Cáo trạng số: 36/CT-VKSTPHN, ngày 17 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp truy tố bị cáo Nguyễn Thành K về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồng Ngự thực hành quyền công tố khẳng định hành vi của bị cáo Nguyễn Thành K đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Thành K về tội “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173, điểm b, s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thành K mức hình phạt từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.
Đối với việc Nguyễn Thành K khai nhận tham gia đánh bạc thua hết số tiền đã cầm cố các xe mô tô đã lấy trộm. Qua điều tra, K tham gia đánh bạc ở Campuchia, không rõ số tiền và hình thức chơi, do đó không đủ căn cứ xem xét xử lý Nguyễn Thành K về hành vi “Đánh bạc” nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử lý.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo sống bằng nghề thợ điện, không có thu nhập ổn định nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
- Về vật chứng vụ án: Trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng, trả lại cho bị hại Trương Văn L1 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại Wave 125, màu xanh đen, không gắn biển số, đã qua sử dụng. Xét thấy, việc xử lý vật chứng của Cơ quan điều tra phù hợp với quy định tại Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử lý.
Căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên: Tịch thu tiêu hủy 02 (hai) chìa khoá xe mô tô, một
cái loại YAMAHA, một cái loại HONDA; tiếp tục giao cho Chi cục thi hành án Dân sự thành phố Hồng Ngự tạm giữ 01 (một) điện thoại di động hiệu NOKIA, màu đen, đã qua sử dụng và tiền Việt Nam 5.000.000 đồng mà bị cáo đã nộp khắc phục hậu quả để đảm bảo thi hành án đối với bị cáo Nguyễn Thành K.
- Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ các Điều 357, 468, 584, 585, 587 và Điều 589 Bộ luật Dân sựđề nghị Hội đồng xét xử:
Buộc bị cáo Nguyễn Thành K bồi thường cho bị hại Ngô Thanh G số tiền 11.000.000 đồng; buộc bị cáo Nguyễn Thành K bồi thường cho bị hại Hồ Quốc T số tiền 5.000.000 đồng.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thành K đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đã thực hiện như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai các bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Bị hại Hồ Quốc T yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại tài sản với số tiền 5.000.000 đồng; về trách nhiệm hình sự, yêu cầu Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị hại Ngô Thanh G yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại tài sản với số tiền 11.000.000 đồng; về hành vi phạm tội của bị cáo, yêu cầu xử lý theo quy định pháp luật.
Bị cáo thống nhất với nội dung luận tội của Kiểm sát viên, đồng ý bồi thường phần dân sự theo yêu cầu các bị hại và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người tiến hành trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thành K đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội mà mình đã thực hiện. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội. Do muốn nhanh có tiền để tiêu xài cá nhân mà bị cáo đã nhiều lần thực hiện hành vi lén lút lấy
trộm tài sản của người khác. Cụ thể: Kẻ đã lén lút lấy trộm 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA, màu xanh – đen, không gắn biển số của anh Trương Văn L1 với giá trị tài sản 70.000.000 đồng; 01 (một) xe mô tô biển số 66V1-385.19 loại Wave màu xanh-bạc-đen của anh Hồ Quốc T với giá trị tài sản là 3.800.000 đồng; 01 (một) xe mô tô biển số 66H1-221.89, nhãn hiệu HONDA, loại Ware, màu trắng – tím của anh Ngô Thanh G với giá trị tài sản 5.340.000 đồng nhằm mục đích đem bán để lấy tiền tiêu xài cá nhân. Tổng giá trị tài sản Nguyễn Thành K chiếm đoạt là 79.140.000 đồng.
Căn cứ kết luận định giá tài sản số: 26/KL-HĐĐG ngày 23/4/2024 và kết luận định giá tài sản số: 32/KL-HĐĐG, ngày 24/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố H
Căn cứ vào lời thừa nhận của bị cáo; lời khai của các bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Như vậy đã có đủ căn cứ để kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Thành K đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát.
Điều 173. Tội trộm cắp tài sản:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm...
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 02 năm đến 7 năm:
c). Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng...”
Tội phạm mà bị cáo gây ra đã xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của người khác, mặt khác còn làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an ở địa phương. Hiện nay tình hình trộm cắp trên cả nước nói chung và trên địa bàn thành phố H nói riêng xảy ra ngày càng nhiều với thủ đoạn hết sức tinh vi. Nhằm để ổn định trật tự trị an ở địa phương, góp phần vào công cuộc phòng, chống và ngăn ngừa tội phạm, Hội đồng xét xử xét thấy phải xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc để thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật.
[3] Về nhân thân của bị cáo: Bị cáo chưa có tiền sự, tiền án do không chí thú làm ăn, lại muốn nhanh có tiền tiêu xài, bị cáo đã nhiều lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác. Hành vi phạm tội của bị cáo thể hiện sự thiếu ý
thức trong tu dưỡng rèn luyện nhân cách, thể hiện bản chất xem thường pháp luật.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo hành vi phạm tội đã thực hiện, đã tác động gia đình khắc phục một phần hậu quả do hành vi phạm tội mình gây ra, bị cáo tự khai nhận hành vi phạm tội trước đó, bị hại Hồ Quốc T xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện tính nhân đạo của pháp luật xã hội chủ nghĩa.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội 02 lần trở lên, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử áp dụng khi lượng hình đối với bị cáo.
[5] Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ, tặng nặng trách nhiệm hình sự áp dụng đối với bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy, phải xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống cộng đồng một thời gian nhất định, để có đủ điều kiện cải tạo, giáo dục cho bị cáo thấy được lỗi lầm của mình, phấn đấu trở thành con người tốt có ích cho gia đình và xã hội. Có như thế mới thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời cũng nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho những ai có ý định phạm tội như bị cáo.
[6] Đối với việc Nguyễn Thành K khai nhận tham gia đánh bạc thua hết số tiền đã cầm cố các xe mô tô đã lấy trộm. Qua điều tra, K tham gia đánh bạc ở Campuchia, không rõ số tiền và hình thức chơi, do đó không đủ căn cứ xem xét xử lý Nguyễn Thành K về hành vi “Đánh bạc” nên Hội đồng xét xử không xem xét xử lý.
[7] Về vật chứng vụ án:
Trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng, trả lại cho bị hại Trương Văn L1 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại Wave 125, màu xanh đen, không gắn biển số, đã qua sử dụng. Xét thấy, việc xử lý vật chứng của Cơ quan điều tra phù hợp với quy định tại Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử lý.
Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu NOKIA, màu đen, đã qua sử dụng. Quá trình điều tra xác định là tài sản của Nguyễn Thành K không liên quan đến hành vi phạm tội, theo quy định pháp luật phải trả lại cho bị cáo. Tuy
nhiên, do bị cáo K chưa thực hiện xong nghĩa vụ bồi thường nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự giao cho Chi cục thi hành án Dân sự thành phố Hồng Ngự tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Đối với 02 (hai) chìa khoá xe mô tô, một cái loại YAMAHA, một cái loại HONDA. Quá trình điều tra, xác định là công cụ Nguyễn Thành K dùng thực hiện phạm tội, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy là phù hợp với quy định pháp luật.
[8] Về trách nhiệm dân sự:
Trong quá trình điều tra, bị hại Trương Văn L1 đã nhận lại 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại Wave 125, màu xanh đen, không gắn biển số, đã qua sử dụng và không yêu cầu bồi thường thêm, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Đối với 02 xe mô tô mà bị cáo Nguyễn Thành K lấy trộm của anh Hồ Quốc T và anh Ngô Thanh G. Trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra không thu hồi được, anh G yêu cầu bị cáo bồi thường 11.000.000 đồng, anh T yêu cầu bị cáo bồi thường 5.000.000 đồng, bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của các bị hại. Xét thấy, đây là sự tự nguyện thỏa thuận giữa bị cáo với các bị hại và phù hợp pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Đồi với số tiền 5.000.000 đồng mà anh Trương Văn X nộp thay bị cáo khắc phục hậu quả, anh X không yêu cầu bị cáo trả lại, đây là sự tự nguyện và phù hợp của pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự giao cho Chi cục thi hành án Dân sự thành phố Hồng Ngự tiếp tục quản lý để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án đối với Nguyễn Thành K.
[9] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo sống bằng nghề thợ điện, không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Từ các phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử nhận thấy nội dung luận tội của Kiểm sát viên là có căn cứ và phù hợp pháp luật.
[10] Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án để buộc bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173, điểm b, s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành K 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ: Ngày 22/4/2024.
2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
Tịch thu tiêu hủy 02 (hai) chìa khoá xe mô tô, một cái loại YAMAHA, một cái loại HONDA.
Giao cho Chi cục thi hành án Dân sự thành phố Hồng Ngự tiếp tục tạm giữ 01 (một) điện thoại di động hiệu NOKIA, màu đen, đã qua sử dụng và tiền Việt Nam 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án đối với bị cáo Nguyễn Thành K.
(Vật chứng trên hiện Chi cục thi hành án Dân sự thành phố Hồng Ngự đang quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/7/2024).
3. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ các Điều 584, 585, 586 và Điều 589 Bộ luật Dân sự
Buộc bị cáo Nguyễn Thành K bồi thường cho bị hại Ngô Thanh G số tiền là 11.000.000 đồng (mười một triệu đồng) và bồi thường cho bị hại Hồ Quốc T số tiền là 5.000.000 đồng (năm triệu đồng).
4. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Nguyễn Thành K phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và 550.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm, tổng cộng là 750.000 đồng (Bảy trăm năm mươi nghìn đồng).
5. Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm thi hành án cho đến khi thi hành án xong.
6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 07/8/2024). Riêng bị hại, người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Minh Thống |
Bản án số 33/2024/HS-ST ngày 07/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 33/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: BẢN ÁN
