Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH QUẢNG NINH


Bản án số: 33/2024/HNGĐ-ST

Ngày 07/6/2024

“Vv Ly hôn, nuôi con chung”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trí Chinh;
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đoàn Xuân Hòa và ông Vũ Xuân Kiều.
  • Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Thanh Mai - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 6 năm 2024, tại Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 20/2024/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 3 năm 2024 về việc: “Ly hôn, nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 24/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 23/2024/QĐST-HNGĐ ngày 21 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

  • Nguyên đơn: chị Dương Thị L; sinh năm 1998; nơi cư trú: Khu H, phường P, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt (có đơn xin vắng mặt).
  • Bị đơn: anh Phùng Văn H; sinh năm 1996; nơi cư trú cuối cùng: Khu E, phường P, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh; nơi ở hiện nay: Hàn Quốc; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Dương Thị L trình bày:

Chị và anh Phùng Văn H đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện ngày 22/3/2018 tại UBND phường P, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Sau khi kết hôn, vợ chồng sinh sống tại Khu E, phường P, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Quá trình chung sống đến nay thì thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do quan niệm sống và cách nhìn nhận cuộc sống không phù hợp. Mặc dù hai bên đã rất cố gắng, hai gia đình cũng đã can thiệp nhưng chúng tôi vẫn không thể tiếp tục chung sống trong cùng nhà. Ngày 13/9/2018, anh H đi xuất khẩu lao động ở Hàn Quốc. Sau khi đi Hàn Quốc thì anh H không liên lạc với chị mà chỉ liên lạc với bố mẹ đẻ là ông Phùng Văn H1 và bà Vũ Thị Q. Đến nay chị L nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh giải quyết cho chị được ly hôn anh H.

Về con chung: chị L và anh H có một con chung là Phùng Duy H2, sinh ngày 26/5/2019, hiện nay cháu H2 đang ở với chị L nên chị L đề nghị Tòa án giao cháu Phùng Duy H2 cho chị L được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi. Về cấp dưỡng: chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: vợ chồng không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại Công văn số: 7148/QLXNC-P3 ngày 09/4/2024, của Cục Q1 - Bộ C cung cấp thông tin xuất nhập cảnh của anh Phùng Văn H như sau: từ tháng 9/2018 đến nay, trường hợp anh Phùng Văn H; sinh ngày 23/12/1996; Căn cước công dân số: [...], địa chỉ: P, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh;, xuất cảnh ngày 13/9/2018, hiện chưa có thông tin nhập cảnh.

* Tại Biên bản lấy lời khai ngày 19/4/2024 và tại Đơn trình bày ngày 29/5/2024, bà Vũ Thị Q và ông Phùng Văn H1 khai: anh Phùng Văn H đi Hàn Quốc từ khoảng tháng 9/2018 và vẫn liên lạc với gia đình. Bà Q và ông H1 chỉ biết anh H đi xuất khẩu Hàn Quốc, còn địa chỉ cụ thể như thế nào thì bà Q và ông H1 không biết nên không thể cung cấp địa chỉ chính xác của anh H cho Tòa án được. Bà Q và ông H1 đã thông báo cho anh H biết hiện nay Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã thụ lý đơn khởi kiện của chị Dương Thị L và cam kết nhận tài liệu giấy tờ của Tòa án thay cho anh H.

* Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

  • - Về tố tụng: kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán; Hội đồng xét xử và Thư ký Tòa án, đã tiến hành các thủ tục tố tụng để giải quyết vụ án theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • - Về nội dung: đối với các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Dương Thị L như nêu trên. Căn cứ hồ sơ vụ án, các tài liệu, chứng cứ đã được Hội đồng xét xử xem xét và kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh nhận thấy có căn cứ chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Dương Thị L đối với anh Phùng Văn H; giao con chung là Phùng Duy H2, sinh ngày 26/5/2019 cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng đến khi 18 tuổi.

Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, quyết định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: căn cứ đơn khởi kiện, các tài liệu chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện và tài liệu chứng cứ thu thập được trong quá trình tố tụng, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là: “Ly hôn, nuôi con chung”; bị đơn anh Phùng Văn H hiện đang sinh sống, làm việc tại Hàn Quốc. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37 và điểm a khoản 2 Điều 38 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh.

Nguyên đơn chị Dương Thị L vắng mặt tại phiên tòa, có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt; bị đơn anh Phùng Văn H vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án, đã được Tòa án tống đạt hợp lệ, niêm yết các văn bản tố tụng tại chính quyền địa phương. Căn cứ Điều 227; Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; hướng dẫn tại Công văn số: 253/TANDTC-PC ngày 26 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân tối cao, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn; bị đơn và công bố các tài liệu, chứng cứ do Tòa án xác minh, thu thập.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: chị Dương Thị L và anh Phùng Văn H đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện ngày 22/3/2018 tại UBND phường P, thị xã Q, là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ.

Sau khi kết hôn, vợ chồng sinh sống tại Khu E, phường P, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Quá trình chung sống đến nay thì thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do quan niệm sống và cách nhìn nhận cuộc sống không phù hợp. Mặc dù hai bên đã rất cố gắng, hai gia đình cũng đã can thiệp nhưng vợ chồng vẫn không thể tiếp tục chung sống trong cùng nhà. Ngày 13/9/2018, anh H đi xuất khẩu lao động ở Hàn Quốc. Sau khi đi Hàn Quốc thì anh H không liên lạc với chị mà chỉ liên lạc với bố mẹ đẻ là ông Phùng Văn H1 và bà Vũ Thị Q. Tòa án đã lấy lời khai của bà Vũ Thị Q thể hiện: anh Phùng Văn H đi Hàn Quốc từ khoảng tháng 9/2018 và vẫn liên lạc với gia đình. Bà Q chỉ biết anh H đi xuất khẩu Hàn Quốc, còn địa chỉ cụ thể như thế nào thì bà Q đều không biết nên không thể cung cấp địa chỉ chính xác của anh H cho Tòa án được. Bà Q đã thông báo cho anh H biết hiện nay Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã thụ lý đơn khởi kiện của chị Dương Thị L và cam kết nhận tài liệu giấy tờ của Tòa án thay cho anh H.

Căn cứ vào Điều 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử xét thấy: chị L và anh H không còn tồn tại thực tế đời sống chung vợ chồng; vợ chồng không thực hiện nghĩa vụ thương yêu, tôn trọng, chăm sóc, quan tâm giúp đỡ nhau cả về vật chất và tinh thần, không còn cùng nhau chia sẻ công việc trong gia đình theo quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và Gia đình, nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị L đối với anh H.

[2.2] Về con chung: chị L và anh H có một con chung là Phùng Duy H2, sinh ngày 26/5/2019, hiện nay cháu H2 đang ở với chị L nên chị L đề nghị Tòa án giao cháu Phùng Duy H2 cho chị L được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi. Xét thấy yêu cầu, quan điểm, điều kiện của chị L về việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung khi ly hôn như nêu trên là phù hợp với quy định tại Điều 81; Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử, chấp nhận giao cho chị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Phùng Duy H2. Anh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

[2.3] Về nghĩa vụ cấp dưỡng cho con: chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

[2.4] Về tài sản chung, nợ chung: chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

[3] Về án phí: căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326 /2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị Dương Thị L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

[4] Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271; Điều 273 và Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[5] Chấp nhận quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh về nội dung giải quyết vụ án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 5; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 2 Điều 38; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 244; Điều 271; Điều 273 và Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ các Điều 51; Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 và khoản 2 Điều 123 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Dương Thị L.

[1] Về quan hệ hôn nhân: chị Dương Thị L được ly hôn với anh Phùng Văn H.

[2] Về con chung: giao cho chị Dương Thị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Phùng Duy H2, sinh ngày 26/5/2019 cho đến khi con chung thành niên (đủ 18 tuổi).

Sau khi ly hôn, anh Phùng Văn H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở; nếu anh Phùng Văn H lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị Dương Thị L có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con. Hoặc nhận thấy chị Dương Thị L không đủ điều kiện bảo đảm quyền lợi ích của con thì anh Phùng Văn H có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

[3] Về tài sản chung, nợ chung: chị Dương Thị L không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[4] Về án phí: chị Dương Thị L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0005787 ngày 28/3/2024 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ninh.

Án xử công khai: chị Dương Thị L có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết theo quy định của pháp luật; anh Phùng Văn H có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ninh;
  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - Cục THADS tỉnh Quảng Ninh;
  • - UBND phường Phong Cốc, Tx. Quảng Yên, tỉnh Quangr Ninh;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Nguyễn Trí Chinh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 33/2024/HNGĐ-ST ngày 07/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH về ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 33/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Dương Thị L - Phùng Văn H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger