|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ TỈNH SÓC TRĂNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 33/2024/DS-ST
Ngày: 07–6–2024
V/v tranh chấp “ Hợp đồng góp hụi"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỂ, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Huy Tùng.
- Bà Hà Ngân Kim Tới.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Quốc Dũng, Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Lý Út Hoài - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 78/2024/TLST-DS ngày 03 tháng 4 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng góp hụi”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2024/QĐXXST-DS ngày 06 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Liễu Thị T, sinh năm 1966 (Có mặt).
Địa chỉ: Ấp N, thị trấn T, huyện T, tỉnh S.
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1976 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp T, xã Đ, huyện T, tỉnh S.
NHẬN THẤY:
Theo đơn khởi kiện ngày 18/3/2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn trình bày như sau:
Vào năm 2022, bà Nguyễn Thị L có tham gia chơi hụi do bà Liễu Thị T làm chủ hụi. Bà L hốt hụi nhưng không đóng hụi chết với tổng số tiền nợ hụi chết mà bà L nợ là 1.210.000.000 đồng (Một tỷ, hai trăm mười triệu đồng). Sau khi mãn hụi, bà T với bà L có gặp nhau để xác nhận số tiền nợ hụi và bà L hứa sẽ trả tiền hụi cho bà T sau khi thế chấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Ngân hàng.
Do bà L không trả nợ như đã hứa nên vào ngày 19/9/2023 âl (nhằm ngày 02/11/2023 dl) bà L có viết giấy thừa nhận nợ cho bà T làm niềm tin với số tiền bà L nợ là 1.210.000.000 đồng (Một tỷ, hai trăm mười triệu đồng) có chữ ký xác nhận của bà L.
Đến nay, bà T đã nhiều lần đến nhà để yêu cầu bà L trả số tiền còn nợ hụi 1.210.000.000 đồng (Một tỷ, hai trăm mười triệu đồng) nhưng bà L chỉ hứa hẹn cho qua lề chứ không thực hiện việc trả nợ và hiện tại bà L trốn tránh không gặp mặt nên hai bên không thỏa thuận với nhau được nữa.
Nay bà Liễu Thị T yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:
Yêu cầu bà Nguyễn Thị L hoàn trả cho bà T số tiền nợ hụi 1.210.000.000 đồng (Một tỷ, hai trăm mười triệu đồng) và không yêu cầu tính lãi.
Bà Nguyễn Thị L vắng mặt:
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã ban hành thông báo về việc thụ lý vụ án số 78/TB-TLVA ngày 03 tháng 4 năm 2024, tống đạt hợp lệ cho bị đơn bà Nguyễn Thị L nhưng bà L không có văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ hai lần đối với bà L để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bà L đều vắng mặt không có lý do. Tòa án đã lập biên bản về việc vắng mặt của bà L, không tiến hành hòa giải được và bà L cũng không có lời khai trong hồ sơ vụ án. Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa nêu quan điểm:
Về việc tuân thủ pháp luật: Tòa án thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, xác định chính xác quan hệ pháp luật tranh chấp; thu thập chứng cứ đầy đủ, đúng pháp luật; Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và qua lời trình bày của các đương sự tại phiên tòa đã có đầy đủ cơ sở để khẳng định việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền nợ hụi 1.210.000.000 đồng (Một tỷ, hai trăm mười triệu đồng) là có căn cứ pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
XÉT THẤY:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
- - Quan hệ pháp luật: Tòa án xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp Hợp đồng góp hụi”.
- - Tại phiên tòa hôm nay bị đơn, bà Nguyễn Thị L vắng mặt lần thứ hai không rõ lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về nội dung:
Qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và lời trình bày của đương sự đã xác định được như sau: Bà Liễu Thị T với bà Nguyễn Thị L thỏa thuận góp hụi với số tiền là 1.210.000.000 đồng (Một tỷ, hai trăm mười triệu đồng).
[3] Xét về hợp đồng góp hụi giữa bà T với bà L là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với các quy định của pháp luật cả về nội dung và hình thức. Quá trình thực hiện hợp đồng, Hội đồng xét xử nhận thấy: Bà T đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của chủ hụi được quy định tại Điều 18 của Nghị định 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ quy định về họ, hụi, biêu, phường. Ngược lại bà L sau khi hốt hụi và nhận tiền hụi đã không đóng hụi đúng theo những gì mà hai bên đã thỏa thuận. Như vậy bà L là người vi phạm hợp đồng được quy định tại Điều 16 của Nghị định 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ quy định về họ, hụi, biêu, phường.
[4] Tài liệu, chứng cứ chứng minh: Do bị đơn bà L vắng mặt tại phiên tòa nên không thể đối chất giữa hai bên. Tuy nhiên trong quá trình giải quyết vụ án mặc dù bà L cố tình vắng mặt nhưng Tòa án đã cấp, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và thông báo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ theo luật định (Giấy nhận nợ do chính tay bà L viết) và phía bà L không phản đối những tài liệu, chứng cứ do bà T đưa ra do đó bà T không phải chứng minh những tài liệu, chứng cứ đã cung cấp cho Tòa án được quy định tại Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự.
[5] Về lãi suất: Do nguyên đơn không yêu cầu nên không cần đặt ra xem xét, giải quyết.
[6] Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí theo khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ: Điều 471 và Điều 357 của Bộ luật dân sự năm 2015. Điều 16 và Điều 18 Nghị định 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ quy định về họ, hụi, biêu, phường. Khoản 2 điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
- - Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Liễu Thị T.
- - Buộc bà Nguyễn Thị L có nghĩa vụ thanh toán cho bà Liễu Thị T số tiền nợ hụi là 1.210.000.000 đồng (Một tỷ, hai trăm mười triệu đồng).
- Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của bà Liễu Thị T cho đến khi thi hành án xong mà bà Nguyễn Thị L chậm trả tiền thì bà L phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- -Về án phí dân sự sơ thẩm:
- + Bà Nguyễn Thị L phải nộp 48.300.000₫ (Bốn mươi tám triệu, ba trăm nghìn đồng).
- + Bà Liễu Thị T không phải chịu án phí. Bà T được nhận lại 24.150.000₫ (Hai mươi bốn triệu, một trăm năm mươi nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0004125 ngày 29/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng.
Báo cho các đương sự biết, được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng người vắng mặt được tính từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 26 và 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Nguyễn Hoàng |
Bản án số 33/2024/DS-ST ngày 07/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ, TỈNH SÓC TRĂNG về tranh chấp hợp đồng góp hụi
- Số bản án: 33/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng góp hụi
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ, TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà L yêu cầu bà T hoàn trả số tiền hụi 1.210.000.000 đồng
