Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHỤNG HIỆP

TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2024/DS-ST

Ngày: 07/6/2024

Về việc: “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHỤNG HIỆP, TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Tiến Dũng

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Dương
  2. Ông Nguyễn Thế Tự

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Mỹ Chi – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang.

Ngày 07 tháng 6 năm 2024 Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số 16/2024/TLST-DS ngày 09/01/2024, về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2024/QĐXXST-DS ngày 17 tháng 4 năm 2024 giữa:

Nguyên đơn: Ông Nguyễn Nhứt T năm: 1971; Địa chỉ: ấp Đ, xã Đ, huyện C, tỉnh Hậu Giang (vắng mặt)

Bị đơn: Ông Trần Thanh H năm: 1971; Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện P, tỉnh Hậu Giang (vắng mặt)

Người làm chứng: Ông Võ Văn P; Địa chỉ: đường N, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 30/12/2023, các lời khai có trong hồ sơ vụ án nguyên đơn ông Nguyễn Nhứt T1 trình bày:

Vào ngày 23/7/2020 ông Nguyễn Nhứt T1 có làm hợp đồng đặt cọc để mua phần đất của ông Trần Thanh H1, cụ thể phần đất thuộc thửa 117, tờ bản đồ số 03, ngang 07m, dài 10m nở hậu ngang 14m và dài 50m, với tổng diện tích 620 m², loại đất T và V, đất tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện P, tỉnh Hậu Giangvới giá thỏa thuận mua bán là 275.000.000 đồng. Ông T đã đặt cọc trước 50.000.000 đồng, có lập giấy tay và có người làm chứng là ông Võ Văn P; thỏa thuận số tiền còn lại khi làm thủ tục sang tên nhà đất cho ông T xong thì ông T sẽ thanh toán đủ. Thỏa thuận phạt cọc nếu bên bán sai thì tiền cọc 1 thường 2, còn bên mua sai thì mất cọc. Tuy nhiên từ khi giao kết hợp cho đến cuối năm 2023 ông H2 tình không thực hiện hợp đồng, dù ông T2 nhắc nhở nhiều lần. Qua đó cho thấy ông H có hành vi lừa dối nhận tiền cọc của ông T nhưng không thực hiện đúng theo thỏa thuận.

Nay ông Nguyễn Nhứt T1 khởi kiện ông Trần Thanh H1 yêu cầu tuyên bố vô hiệu hợp đồng đặt cọc mua bán nhà (đất) giữa ông T3 ông H3 23/7/2020. Buộc ông Trần Thanh H1 trả lại số tiền đã nhận cọc 50.000.000 đồng và bồi thường sối tiền phạt cọc tương đương là 50.000.000 đồng.

Bị đơn ông Trần Thanh H1 trong quá trình tố tụng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt, không lý do.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Nguyên đơn ông Nguyễn Nhứt T4 đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bị đơn ông Trần Thanh H4 được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa xét xử lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2] Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc tranh chấp hợp đồng đặt cọc thấy rằng: Kèm theo đơn khởi kiện nguyên đơn cung cấp được hợp đồng đặt cọc bản chính ngày 23/7/2020 nội dung “ông H5 cho ông T5 đất thuộc thửa 117, tờ bản đồ số 3, ngang 07m, vô 10m nở ngang 14m và dài 50m với tổng diện tích 620 m², loại đất T và V, đất tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện P, tỉnh Hậu Giangvới giá thỏa thuận mua bán là 275.000.000 đồng, có đưa tiền cọc 50.000.000 đồng. Hợp đồng trên có chữ ký của ông H6 có xác nhận của người làm chứng ông Võ Văn P1 Do đó có cơ sở xác định các chứng cứ do nguyên đơn cung cấp là có thật để xác định số tổng tiền cọc ông H đã nhận của ông T

[3] Về việc xác định lỗi, hợp đồng đặt cọc thể hiện phí công chứng để thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất do bên A (tức bên ông Trần Thanh H7) còn lệ phí trước bạ, thuế thì bên B (tức bên ông Nguyễn Nhứt T6), hợp đồng được ký kết ngày 23/7/2020 nhưng ông H8 cùng với ông T7 công chứng để thực hiện hợp đồng để hoàn thành các thủ tục chuyển nhượng sang tên quyền sử dụng đất cho ông T theo thỏa thuận, mặc dù ông T4 nhắc nhở nhiều lần không được nên vào tháng 12/2023 (là hơn 03 năm sau khi ký hợp đồng đặt cọc) ông T2 khởi kiện ông H9 Tòa án. Quá trình Tòa án giải quyết vụ án ông H10 ông T8 kiện nhưng vẫn không đến Tòa án để trình bày ý kiến, cũng như tham gia hòa giải để thỏa thuận với ông T liên quan đến hợp đồng đặt cọc, do đó có cơ sở xác định lỗi dẫn đến hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất không thực hiện được từ hợp đồng đặt cọc ngày 23/7/2020 thuộc về ông H11 Như vậy ông T yêu cầu ông H trả tiền cọc 50.000.000 đồng và khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc 50.000.000 đồng là có căn cứ nên được chấp nhận

[4] Từ những nhận định nêu trên, nên Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 328 Bộ luật dân sự năm 2015; các Điều 26, 35, 39, 147, 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Nhứt T1 đối với bị đơn ông Trần Thanh H1 về việc tranh chấp hợp đồng đặt cọc.

Tuyên bố hủy hợp đồng đặt cọc mua bán nhà (đất) giữa ông Nguyễn Nhứt T9 ông Trần Thanh H1 ngày 23/7/2020.

Buộc ông Trần Thanh H1 phải trả cho ông Nguyễn Nhứt T10 tiền 100.000.000 đồng, trong đó tiền đặt cọc 50.000.000 đồng và khoản tiền phạt cọc tương đương giá trị tài sản đặt cọc 50.000.000 đồng

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự.

Án phí dân sự sơ thẩm: ông Trần Thanh H1 phải chịu là 5.000.000 đồng. Hoàn trả cho ông Nguyễn Nhứt T1 2.800.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0006331 ngày 09/01/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang.

“Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án dân sự, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hậu Giang;
  • - VKSND H. Phụng Hiệp;
  • - THA.H Phụng H;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Tiến Dũng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 33/2024/DS-ST ngày 07/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHỤNG HIỆP, TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp hợp đồng đặt cọc

  • Số bản án: 33/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/06/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHỤNG HIỆP, TỈNH HẬU GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger