|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 33/2024/HNGĐ-ST
Ngày 05-7-2024
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Bích Phượng
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Phạm Thị Yến
Bà Mai Thị Duyên.
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu Trang - Thư ký Toà án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Thiệm - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 24/2024/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2023 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Đinh Thị Thanh B; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số B L, phường L, quận N, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện nay: Số A L, tổ dân phố L, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng; vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Nguyễn Anh D; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số B L, phường L, quận N, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện nay: Số A L, tổ dân phố L, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện đề ngày 10/3/2024 và bản tự khai của nguyên đơn chị Đinh Thị Thanh B trình bày:
Năm 2003, chị và anh Nguyễn Anh D kết hôn trên cơ sở tự nguyện, gia đình hai bên có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán Việt Nam. Có đăng ký kết hôn ngày 04 tháng 9 năm 2003, tại Ủy ban nhân dân phường L, quận N, thành phố Hải Phòng.
Quá trình chung sống, vợ chồng có thời gian đầu chung sống bình thường không có mâu thuẫn lớn. Thời gian về sau này vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng về quan điểm lối sống, không chia sẻ được cho nhau những áp lực công việc, cuộc sống vợ chồng thường xuyên xảy ra va chạm anh D thường nhắn tin bạo lực về ngôn từ với chị, từ đó tình cảm vợ chồng ngày càng rạn nứt. Tuy sống chung một nhà nhưng hai người không còn quan tâm, thông cảm luôn khó chịu, cằn nhằn tất cả các công việc. Cuộc sống ngày càng căng thẳng, nên từ tháng 2/2024 cho đến nay, chị B đã dọn ra ngoài sinh sống ở nơi khác và anh chị sống ly thân, không còn quan hệ về tình cảm cũng như kinh tế. Mâu thuẫn đã được hai bên gia đình phân tích hòa giải nhưng không có kết quả. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, chị B mong muốn Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Anh D để chị có được cuộc sống không bị căng thẳng về tình thần, và con cái không còn nhìn thấy cảnh bố mẹ thường xuyên cãi vã nhau.
- Về con chung: Chị xác nhận chị và anh D có hai con chung Nguyễn Phương A, sinh ngày 27/5/2005 và Nguyễn Đức H, sinh ngày 20/12/2011. Hiện con Nguyễn Phương A đã thành niên nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Khi ly hôn, nguyện vọng của chị B cũng muốn nuôi con Nguyễn Đức H. Nhưng do hiện nay con đang ở với anh D và anh D cũng muốn nuôi con, nên chị B đồng ý để anh D nuôi con. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, chị B và anh D tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết
- Về tài sản chung: Chị Đinh Thị Thanh B không yêu cầu Toà án giải quyết.
* Bị đơn anh Nguyễn Anh D đã có bản tự khai đề ngày 11/4/2024 thể hiện:
Về thời gian kết hôn đúng như chị B khai. Về quá trình chung sống anh D và chị B chung sống được một thời gian dài cuộc sống cũng có những va chạm, bất đồng do đời sống thường ngày, nhưng không lớn. Đến tháng 11 năm 2023 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn và kéo dài cho đến nay. Nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, lối sống, chị Bình thường x đi công tác xa nhà, không chăm sóc cho gia đình, bản thân anh không muốn chị B đi công tác quá nhiều nên vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn dẫn đến cãi vã. Anh cảm nhận chị B chỉ muốn ly hôn để có thể tự do đi công tác mà không bị ai kiểm soát. Không khí gia đình luôn nguội lạnh, không hạnh phúc. Từ tháng 2/2024 đến nay anh và chị B đã sống ly thân, anh vẫn ở cùng con trai tại nhà A L, còn chị B dọn ra ngoài ở và anh cũng không biết hiện chị B ở tại địa chỉ nào. Từ đó đến nay hai người sống ly thân không còn quan hệ về tình cũng như kinh tế. Tuy nhiên, chị B vẫn có trách nhiệm đóng góp tiền ăn học cho con. Mâu thuẫn của của anh và chị B đã được gia đình hòa giải nhưng không có kết quả. Đến nay, chị B có đơn xin ly hôn đơn phương anh, anh xác định tình cảm của anh vẫn còn với chị B, nên anh không đồng ý ly hôn và đề nghị Tòa án hòa giải đoàn tụ. Trường hợp không hòa giải được, chị B vẫn quyết tâm xin ly hôn, anh vẫn không đồng ý ly hôn và đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.
- Về việc nuôi con: Anh Nguyễn Anh D xác nhận anh và chị B có hai con chung Nguyễn Phương A, sinh ngày 27/5/2005 và Nguyễn Đức H, sinh ngày 20/12/2011. Hiện con Nguyễn Phương A đã thành niên nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Trường hợp chị B quyết tâm xin ly hôn, anh đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Nguyễn Đức H đến khi thành niên. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con anh và chị B tự thỏa thuận, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung: Anh Nguyễn Anh D và chị Đinh Thị Thanh B tự thỏa thuận, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Đinh Thị Thanh B vắng mặt nhưng đã có quan điểm giải quyết vụ án và có đơn đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt, Tòa án công bố lời khai của chị B.
* Bị đơn: Anh Nguyễn Anh D vẫn giữ quan điểm không đồng ý ly hôn mong muốn vợ chồng đoàn tụ để cùng nuôi dạy các con. Tuy nhiên, nếu chị B vẫn quyết tâm xin ly hôn anh vẫn không đồng ý ly hôn và đề nghị Tòa án giải quyết. Về con chung: Hiện con Nguyễn Phương A đã thành niên nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Trường hợp ly hôn, anh đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Nguyễn Đức H vì từ khi chị B dọn đi nơi khác ở con vẫn ở với anh và được anh chăm sóc đầy đủ. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con anh và chị B tự thỏa thuận, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án: Tòa án đã thu thập chứng cứ tại địa phương cũng như gia đình chị B, anh D thể hiện: Về quá trình chung sống, chị B và anh D cũng có thời gian dài vợ chồng sống hạnh phúc. Đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do hai bên bất đồng quan điểm, lối sống và do chị B vì lý do công việc thường xuyên xa nhà, vợ chồng không có thời gian gần gũi, chia sẻ nên từ đó tình cảm vợ chồng ngày rạn nứt không còn tiếng nói chung. Từ tháng 2/2024 đến nay anh D và chị B đã sống ly thân không còn quan hệ về tình cảm cũng như kinh tế. Nay chị B có đơn xin ly hôn địa phương cũng như gia đình đều đề nghị Tòa án hòa giải. Trường hợp hòa giải không thành đề nghị Tòa án căn cứ giải quyết theo quy định của pháp luật; về con chung: Chị B và anh D có hai con chung là Nguyễn Phương A, sinh ngày 27/5/2005 và Nguyễn Đức H, sinh ngày 20/12/2011. Hiện con Nguyễn Phương A đã thành niên nên không yêu cầu Tòa án giải quyết và đề nghị giao con chung Nguyễn Đức H cho anh D nuôi dưỡng. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết; về tài sản chung: Địa phương, cũng như gia đình không có ý kiến gì.
* Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng phát biểu quan điểm:
- Về tố tụng: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết từ giai đoạn thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã đảm bảo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, bị đơn đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật.
- Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu do đương sự cung cấp và chứng cứ do Tòa án thu thập trên cơ sở tranh tụng tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào các tài liệu do đương sự cung cấp và chứng cứ do Tòa án thu thập trên cơ sở tranh tụng tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; khoản 1 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự; căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56 và các điều 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị định số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đinh Thị Thanh B được ly hôn anh Nguyễn Anh D; về việc nuôi con: Giao con chung Nguyễn Đức H, sinh ngày 20/12/2011cho anh Nguyễn Anh D trực tiếp nuôi. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chị B và anh D tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết; về tài sản chung: Chị Đinh Thị Thanh B và anh Nguyễn Anh D tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết; về án phí: Chị Đinh Thị Thanh B phải nộp án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng dân sự:
+ Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết:
[1] Đây là quan hệ pháp luật về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn anh Nguyễn Anh D cư trú tại địa bàn quận H nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
+ Về sự vắng mặt của nguyên đơn:
[2] Nguyên đơn chị Đinh Thị Thanh B vắng mặt có đơn đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt, nên Hội đồng xét xử xử vắng mặt chị B theo quy định tại khoản 1 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự là đúng quy định của pháp luật.
- Về nội dung:
[3] Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Đinh Thị Thanh B và anh Nguyễn Anh D được xác lập từ ngày 04 tháng 9 năm 2003, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường L, quận N, thành phố Hải Phòng. Đây là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình.
[4] Quá trình chung sống chị Đinh Thị Thanh B và anh Nguyễn Anh D có thời gian đầu vợ chồng chung sống bình thường và có hai con chung. Đến tháng 11 năm 2023 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, lối sống. Mặt khác, do công việc chị Bình thường x phải đi công tác xa nhà nên vợ chồng không có thời gian gần gũi, chia sẻ và tình cảm vợ chồng ngày rạn nứt không có tiếng nói chung. Chính vì vậy, từ tháng 2/2024 cho đến nay chị B và anh D đã sống ly thân không còn quan hệ về tình cảm, kinh tế. Quá trình giải quyết tại Tòa án anh D không đồng ý ly hôn đề nghị Tòa án hòa giải đoàn tụ cho vợ chồng. Tuy nhiên, Tòa án đã tạo điều kiện để hòa giải nhưng chị B và anh D đều vắng mặt lần thứ hai, cho thấy cả chị B và anh D đều không mong muốn để vợ chồng đoàn tụ. Xét mâu thuẫn giữa chị Đinh Thị Thanh B và anh Nguyễn Anh D đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, cần áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Đinh Thị Thanh B.
[5] Về việc nuôi con: Chị Đinh Thị Thanh B và anh Nguyễn Anh D có hai con chung là Nguyễn Phương A, sinh ngày 27/5/2005 và Nguyễn Đức H, sinh ngày 20/12/2011. Hiện con Nguyễn Phương A đã thành niên nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Hội đồng xét xử xét: Việc nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con chung hai bên cha mẹ đều có tình cảm, quyền và trách nhiệm như sau. Tuy nhiên, từ thời điểm tháng 2/2024 ly thân cho đến nay cháu Nguyễn Đức H vẫn ở với anh D và được anh D nuôi dưỡng và chăm sóc tốt. Hơn nữa, chị B cũng đồng ý giao cháu H cho anh D nuôi, và bản thân cháu có nguyện vọng xin được ở với bố. Mặt khác, để đảm bảo sự ổn định về mặt tâm lý, sự phát triển về mọi mặt cũng như đảm bảo việc ổn định sự giáo dục, chăm sóc con. Vì vậy, áp dụng Điều 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình: Giao con Nguyễn Đức H cho anh Nguyễn Anh D nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật là phù hợp với điều kiện thực tế và phù hợp với quy định của pháp luật. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chị B, anh D không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[6] Về việc chia tài sản: Chị Đinh Thị Thanh B và anh Nguyễn Anh D không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về án phí:
[7] Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị Đinh Thị Thanh B phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Chị Đinh Thị Thanh B đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo:
[8] Chị Đinh Thị Thanh B và anh Nguyễn Anh D được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147; khoản 1 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, các điều 58, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Đinh Thị Thanh B.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Đinh Thị Thanh B được ly hôn anh Nguyễn Anh D.
- Về việc nuôi con: Giao con chung Nguyễn Đức H, sinh ngày 20/12/2011 cho anh Nguyễn Anh D trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chị Đinh Thị Thanh B và anh Nguyễn Anh D tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về việc chia tài sản: Chị Đinh Thị Thanh B và anh Nguyễn Anh D không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Chị Đinh Thị Thanh B phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005548 ngày 01 tháng 4 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải An, thành phố Hải Phòng. Chị Đinh Thị Thanh B đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo đối với bản án:
- Chị Đinh Thị Thanh B vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
- Anh Nguyễn Anh D được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Bích Phượng |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Bản án số 33/2024/HNGĐ-ST ngày 05/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 33/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Đinh Thị Thanh B và anh Nguyễn Anh D
