|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số:33 /2024/HNGĐ-ST Ngày: 05-7-2024 V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA, TỈNH BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thị Oanh
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1/ Ông Bùi Thế Hanh
- 2/ Ông Nguyễn Công Tân
Thư ký phiên toà: Ông Thân Văn Đông -Thư ký Toà án nhân dân huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa tham gia phiên tòa:ông Vi Đăng Khoa- Kiểm sát viên
Ngày 05 tháng 7 năm 2024, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân huyện Hiệp Hoà, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 77/2024/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 4 năm 2024 về việc tranh chấp“Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số:29/2024/QĐXX ST- HNGĐ ngày 10 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Kim C, sinh năm 2000 (có mặt)
Địa chỉ: Xóm T, thôn B, xã H, huyện H, tỉnh Bắc Giang
Bị đơn: Anh Đào Văn X, sinh năm 1997 (có mặt)
Địa chỉ: Thôn N, xã N, huyện H, tỉnh Bắc Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn xin ly hôn đề ngày 19/3/2024; bản tự khai và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn chị C trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Đào Văn X kết hôn với nhau ngày 13/01/2020 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện H, tỉnh Bắc Giang theo đúng quy định pháp luật. Sau khi kết hôn chị và anh X chung sống với nhau ngay. Vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc đến tháng 5 năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân ban đầu do mâu thuẫn mẹ chồng con dâu dẫn đến vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 5 năm 2023 đến nay, không còn quan tâm, chăm sóc đến nhau. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh X.
Về con chung: Chị và anh Đào Văn X có 01 con chung là cháu Đào Thị Huyền T, sinh ngày 15/10/2020, hiện nay con chung đang ở cùng chị. Khi ly hôn chị C có nguyện vọng được nuôi dưỡng con chung và chị không yêu cầu anh X cấp dưỡng nuôi con. Hiện chị đang làm công ty may thu nhập bình quân 8.000.000đồng/tháng.
Về tài sản chung: Chị và anh X không có tài sản chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn là anh Đào Văn X trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn như chị C trình bày là đúng. Sau khi kết hôn anh và chị C chung sống với nhau ngay. Vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc đến tháng 5 năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn giữa mẹ anh và chị C. Chị C bỏ về nhà đẻ ở anh có gọi nhưng chị không về. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 5 năm 2023 đến nay. Đến nay, anh xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn, chị C xin ly hôn thì anh không đồng ý ly hôn. Anh đề nghị Tòa án hòa giải vợ chồng về để nuôi dậy con.
Về con chung: Vợ chồng anh có 01 con chung là cháu Đào Thị Huyền T, sinh ngày 15/10/2020, hiện con chung đang ở cùng chị C. Trường hợp Tòa án giải quyết cho vợ chồng ly hôn thì anh cũng có nguyện vọng được nuôi con chung và anh không yêu cầu chị C cấp dưỡng nuôi con chung. Hiện anh làm công ty thu nhập khoảng 10.000.000đồng/tháng.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến và xác định về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là hoàn toàn đúng quy định của pháp luật; việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng,đối với nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng quy định.
Áp dụng: Các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân gia đình; Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Kim C. Xử:
Cho chị Nguyễn Thị C được ly hôn với anh Đào Văn X.
Giao chị C nuôi dưỡng con chung là Đào Thị Huyền T, sinh ngày 15/10/2020, cấp dưỡng nuôi con không đặt ra do chị C không yêu cầu
Về án phí: Chị Nguyễn Thị Kim C phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai án phí, lệ phí Tòa án số 0003898 ngày 23/4/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hiệp Hòa.
Đề nghị tuyên quyền kháng cáo cho các đương sự được biết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ và các chứng cứ được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết:
Xét đơn khởi kiện và yêu cầu khởi kiện tại phiên tòa của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim C xác định đây là quan hệ pháp luật tranh chấp ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sựAnh Xâm cư trú tại thôn N, xã N, huyện H, tỉnh Bắc Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang theo quy định khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, do đó Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa thụ lý và giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.
[2].Về quan hệ hôn nhân:
Chị Nguyễn Thị Kim C và anh Đào Văn X kết hôn với nhau ngày 13 tháng 01 năm 2020, có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện H, tỉnh Bắc Giang theo đúng quy định của pháp luật nên quan hệ hôn nhân là hợp pháp. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 5 năm 2023 đến nay. Từ khi vợ chồng ly thân thì không còn quan tâm, chăm sóc nhau nữa.
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Tòa án đã tiến hành hòa giải để hai vợ chồng về đoàn tụ với nhau nhưng chị C vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn. Xét thấy hôn nhân giữa mâu thuẫn vợ chồng giữa chị C và anh X đã trở lên trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần xử cho chị C được ly hôn với anh X.
[3] Về con chung:
Chị C và anh X có một con chung là Đào Thị Huyền T sinh ngày 15/10/2020, hiện chị C đang nuôi dưỡng. Xét nguyện vọng được nuôi con chung của chị C và anh X thì thấy đó là nguyện vọng chính đáng. Tuy nhiên, con chung hiện đang ở cùng chị C và còn nhỏ cần sự chăm sóc của người mẹ nên cần giao cho chị C tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp. Chị C không yêu cầu cấp dưỡng nên không xem xét.
[4]. Về tài sản chung, tài sản riêng, công sức, công nợ, nhà ở, quyền sử dụng đất, ruộng đất và các quan hệ khác: Chị C và anh X cùng xác định vợ chồng không có liên quan và không yêu cầu Tòa án giải quyết cho nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết trong vụ án này.
[5]. Về án phí: Chị C phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83,84 của Luật hôn nhân gia đình; Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị C.
Về quan hệ hôn nhân: cho chị Nguyễn Thị C được ly hôn với anh Đào Văn X.
Về con chung: Giao chị C trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Đào Thị Huyền T sinh ngày 15/10/2020. Anh X có quyền đi lại thăm nom con chung, không ai có quyền cản trở anh X thực hiện quyền này.
Vấn đề cấp dưỡng nuôi con không đặt ra xem xét.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị C phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai án phí, lệ phí Tòa án số 0003898 ngày 23/4/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hiệp Hòa.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Báo cho đương sự có mặt biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (Đã ký) Đào Thị Oanh |
Bản án số 33/2024/HNGĐ-ST ngày 05/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA, TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 33/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con giữa Nguyễn Thị Kim C - Đào Văn X
