Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHIÊM HÓA

TỈNH TUYÊN QUANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2024/HS-ST

Ngày 04-7-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHIÊM HÓA, TỈNH TUYÊN QUANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Tuấn Tú.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Mai Thanh Tùng;

2. Bà Lê Thị Thanh Tâm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lường Khánh Linh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Minh Tú - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 21/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Đỗ Thanh T (tên gọi khác: Không), sinh ngày 30/4/2006, tại huyện C, tỉnh Tuyên Quang (đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo được 17 tuổi 01 tháng 12 ngày); nơi đăng ký thường trú, chỗ ở: Thôn T, xã Y, huyện C, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Học sinh; trình độ học vấn: 12/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Cao lan; tôn giáo: Không; con ông Đỗ Quyết T1, sinh năm 1984 và bà Nông Thị T2, sinh năm 1984; vợ, con: Chưa có. Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không. Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).

- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Hoàng Văn V, Trợ giúp viên pháp lý - Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 12/3/2023, Đỗ Thanh T, sinh ngày 30/4/2006, trú tại thôn T, xã Y, huyện C, tỉnh Tuyên Quang sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A71, gắn số thuê bao 0344.835.306 (mạng V2) có kết nối Internet tải ứng dụng “Sun Pazuru” để đánh bạc thì hiện lên ứng dụng “Sunwin”. T tạo tài khoản cá nhân trên ứng dụng có tên là “tungbanhdz3004”, mật khẩu đăng nhập “badao2k6”, tên hiển thị trong trò chơi là “nsndthachotoi” và sử dụng tài khoản ngân hàng số 36930042006 mở tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Q của mình nạp tiền vào tài khoản ngân hàng hiển thị trong ứng dụng, tỷ lệ quy đổi 1:1 (1.000 đồng tương ứng với 1.000 điểm trong game).Hồi 23 giờ 50 phút 43 giây ngày 12/6/2023, Đỗ Thanh T chuyển 5.000.000 đồng đến số tài khoản ngân hàng Q, mang tên Nguyễn Hữu T3, mở tại ngân hàng Thương mại cổ phần Q để quy đổi thành 5.000.000 điểm để tham gia đánh bạc với hình thức chơi “T4 – Xỉu”, cách thức chơi được quy ước như sau: Khi mở giao diện trò chơi “T4 – Xỉu”, sẽ xuất hiện 03 quân xúc xắc ảo (Xí ngầu) trên màn hình, sáu mặt xúc xắc sẽ có số chấm khác nhau từ 01 chấm đến 06 chấm. Mỗi ván đặt cược có thời gian 50 giây, trong mỗi ván bạc, người chơi sẽ lựa chọn đặt cược vào “Tài” hoặc “Xỉu”, số tiền đặt cược tùy ý, không giới hạn mức thấp nhất và mức cao nhất. Hết thời gian 50 giây đặt cược, các viên xúc xắc sẽ xoay liên tục nhiều hướng và được che lại. Sau đó các viên xúc xắc sẽ được mở ra để xác định số chấm trên các mặt xúc xắc. Việc xác định “T4”, “Xỉu” sẽ căn cứ vào tổng số chấm trên ba mặt ngửa của ba quân xúc xắc. Nếu tổng số chấm là 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10 thì là “Xỉu”, người đặt cược “Xỉu” sẽ thắng, người đặt cửa “T4” sẽ thua và mất tiền cược. Nếu tổng số chấm là 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18 thì là “Tài”, người đặt cược “Tài” sẽ thắng, người đặt cửa “Xỉu” sẽ thua và mất số tiền đã cược. Trong các ngày 12 và 13/6/2023, T nhiều lần tham gia đánh bạc trái phép dưới hình thức chơi “T4 – Xỉu” thông qua ứng dụng đánh bạc trực tuyến nêu trên, cụ thể:- Lần 01: Tùng tham gia đặt cược 05 phiên, cụ thể: + Hồi 23 giờ 54 phút 52 giây, ngày 12/6/2023, T tham gia đặt cược 5.000.000 điểm vào “Xỉu” tại phiên 1786822. Kết quả bị hủy nên được hoàn trả 5.000.000 điểm. + Hồi 23 giờ 55 phút 33 giây ngày 12/6/2023, T tham gia đặt cược 5.000.000 điểm vào “Xỉu” tại phiên 1786823. Kết quả “Xỉu", thắng được 9.900.000 điểm. + Hồi 23 giờ 56 phút 59 giây ngày 12/6/2023, T tham gia đặt cược 5.900.000 điểm vào “Xỉu” tại phiên 1786824. Kết quả “Tài", bị thua 5.900.000 điểm, còn lại 4.000.000 điểm.+ Hồi 23 giờ 58 phút 19 giây, ngày 12/6/2023, T tham gia đặt cược 4.000.000 điểm vào “Xỉu” tại phiên 1786825. Kết quả “Xỉu” thắng được 7.920.000 điểm. + Hồi 23 giờ 59 phút 17 giây và hồi 23 giờ 59 phút 26 giây ngày 12/6/2023 T tham gia đặt cược 5.920.000 điểm vào “Tài” tại phiên 1786826. Kết quả “Tài” thắng được 11.721.600 điểm. Tổng đặt cược 05 phiên T được 13.721.600 điểm (tương đương 13.721.600 đồng), trong đó tiền gốc là 5.000.000 đồng, tiền thắng là 8.721.600 đồng. Hồi 00 giờ 00 phút 05 giây, ngày 13/6/2023, T đã tạo phiếu rút 10.000.000 đồng về tài khoản ngân hàng Q “36930042006” của mình (số tiền này chuyển đến từ tài khoản ngân hàng Thương mại cổ phần Q số “0862152430” mang tên Trần Khải V1); số điểm còn lại trong tài khoản là 3.721.600 điểm.

- Lần 02: Hồi 00 giờ 00 phút 30 giây ngày 13/6/2023, Đỗ Thanh T tiếp tục đăng nhập tài khoản “tungbanhdz3004” và sử sử dụng số tiền 3.721.600 đồng còn lại trong tài khoản game để tham gia đánh bạc bằng hình thức đánh “T4 – Xỉu” và tham gia đặt cược 02 phiên.

+ Vào hồi 00 giờ 00 phút 30 giây ngày 13/6/2023, T đặt cược 3.721.600 điểm vào “Tài” tại phiên 1786827. Kết quả “Tài", thắng được 7.368.768 điểm.

+ Hồi 00 giờ 01 phút 48 giây ngày 13/6/2023, T tham gia đặt cược 7.368.768 điểm vào “Tài” tại phiên 1786828. Kết quả “Tài” thắng được 14.590.161 điểm.

Hồi 00 giờ 03 phút 02 giây ngày 13/6/2023, T rút 14.500.000 đồng về tài khoản ngân hàng Q của mình (số tiền này được chuyển đến từ số tài khoản ngân hàng C, mang tên Lò Thị S, mở tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á). Số điểm còn lại trong tài khoản đánh bạc 90.161 điểm tương đương với 90.161 đồng T tiếp tục tham gia đánh bạc và thua hết.

Tổng số tiền quy kết đối với Đỗ Thanh T trong 02 lần đánh bạc là 24.500.000 đồng; số tiền thắng bạc T đã chi tiêu cá nhân hết.

Tại Cáo trạng số 24/CT-VKSCH ngày 04 tháng 5 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa đã truy tố bị cáo Đỗ Thanh T về tội “Đánh bạc” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo như nội dung cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đỗ Thanh T phạm tội “Đánh bạc”.
  • - Về hình phạt chính: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 90, 91, 101, Điều 65 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Đỗ Thanh T từ 02 năm tù đến 02 năm 06 tháng tù, cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách theo quy định của pháp luật, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Y, huyện C để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
  • - Về hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  • - Về vật chứng: Áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử:

Truy thu sung ngân sách nhà nước đối với số tiền 24.500.000 đồng do bị cáo phạm tội mà có. Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A71, vỏ màu xanh, điện thoại đã qua sử dụng gắn sim điện thoại mạng Viettel số thuê bao 0344.835.xxx. Trả lại cho bị cáo 01 thẻ ATM ngân hàng Thương mại cổ phần Q, mang tên Đỗ Thanh T, số thẻ 4089041042585562, số ID 93091064, số tài khoản 36930042006.

Ngoài ra đề nghị Hội đồng xét xử miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo và tuyên quyền kháng cáo Bản án đối với bị cáo.

Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo Đỗ Thanh T đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, gồm: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tại thời điểm phạm tội bị cáo chưa đủ 18 tuổi, chưa nhận thức được hết hành vi của mình, bị cáo thuộc diện hộ nghèo, là dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, có ông bà nội được tặng thưởng Huy chương kháng chiến và trong quá trình học tập bị cáo được tặng thưởng nhiều giấy khen. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 2 Điều 321; điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51, các Điều 90, 91, 101, Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo mức án thấp nhất và cho bị cáo được hưởng án treo; không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

Tại phiên tòa, bị cáo tiếp tục khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, nội dung khai báo của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, không có tình tiết mới; bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì, nhất trí với ý kiến của người bào chữa, không có ý kiến tranh luận và cũng không có ý kiến gì để bào chữa cho hành vi phạm tội của mình, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C, Điều tra viên; của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố; của Kiểm sát viên tại phiên tòa đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp, phù hợp theo quy định của pháp luật.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Đỗ Thanh T khai nhận hành vi phạm tội của mình; lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận:

Trong các ngày 12 và 13 tháng 6 năm 2023, Đỗ Thanh T (đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo được 17 tuổi 01 tháng 12 ngày) đã sử dụng điện thoại di động kết nối Internet để thực hiện hành vi đánh bạc trực tuyến. Tổng số tiền Đỗ Thanh T đã sử dụng vào mục đích đánh bạc là 24.500.000 đồng (Hai mươi tư triệu năm trăm nghìn đồng), cụ thể:

  • - Lần 01: Hồi 23 giờ 50 phút 43 giây ngày 12/6/2023, Đỗ Thanh T nạp 5.000.000 đồng vào tài khoản game “tungbanhdz3004” và tham gia đánh bạc bằng hình thức “T4 - Xỉu” (tham gia đặt cược 05 phiên, trong đó 04 phiên có số tiền đặt cược trên 5.000.000 đồng), T thắng bạc 13.721.600 đồng. Vào hồi 00 giờ 00 phút 05 giây, ngày 13/6/2023, Đỗ Thanh T tạo phiếu rút tiền từ tài khoản game về tài khoản ngân hàng S1 mở tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Q của T được số tiền là 10.000.000 đồng; còn lại trong tài khoản 3.721.600 đồng.
  • - Lần 02: Hồi 00 giờ 00 phút 30 giây ngày 13/6/2023, Đỗ Thanh T tiếp tục đăng nhập tài khoản 'tungbanhdz3004” và sử dụng số tiền 3.721.600 đồng còn lại trong tài khoản game để tham gia đánh bạc bằng hình thức đánh “T4 - Xỉu” thắng 14.590.161 đồng (tham gia đặt cược 02 phiên, trong đó 01 phiên có số tiền trên 5.000.000 đồng). Hồi 00 giờ 03 phút 02 giây cùng ngày, T tạo phiếu rút tiền từ tài khoản game về tài khoản ngân hàng Q của mình được số tiền là 14.500.000 đồng.

Như vậy, hành vi của bị cáo Đỗ Thanh T đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa truy tố bị cáo Đỗ Thanh T là có căn cứ.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội từ 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trước Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có ông nội, bà nội được tặng thưởng Huy chương kháng chiến, trong quá trình học tập bị cáo được tặng thưởng nhiều giấy khen, bị cáo là dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[4] Về hình phạt chính: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng, gây mất ổn định an ninh trật tự tại địa phương.

Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng, cố ý thực hiện hành vi phạm tội 02 lần. Tuy nhiên, bị cáo phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi, nhận thức pháp luật chưa đầy đủ, còn hạn chế, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 90, Điều 91, Điều 101 Bộ luật Hình sự xem xét, áp dụng mức hình phạt đối với bị cáo không quá 3/4 mức hình phạt tù mà điều luật quy định.

Bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, 03 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự (số tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo nhiều hơn số tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự 02 tình tiết, trong đó có 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự). Áp dụng nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi quy định tại Điều 91 Bộ luật Hình sự thấy rằng bị cáo có đủ căn cứ để được miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự, Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, mà cho bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo cũng đủ tác dụng răn đe, phòng ngừa tội phạm chung. Và nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ bị cáo sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội.

[5] Về hình phạt bổ sung: Khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự quy định người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Xét thấy khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo dưới 18 tuổi, áp dụng đoạn 3 khoản 6 Điều 91 Bộ luật Hình sự không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về vật chứng:

Truy thu sung ngân sách nhà nước đối với số tiền 24.500.000 đồng (Hai mươi tư triệu trăm nghìn đồng) do bị cáo phạm tội mà có.

Đối với 01 chiếc điện thoại di động, nhãn hiện OPPO, loại OPPO A71, vỏ màu xanh, điện thoại cũ, đã qua sử dụng gắn 01 sim điện thoại mạng Viettel số thuê bao 0344.835.xxx. Đây là phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội nên áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu sung ngân sách nhà nước theo quy định.

Đối với 01 thẻ ATM ngân hàng Thương mại cổ phần Q, mang tên Đỗ Thanh T, số thẻ 4089041042585562, số ID 93091064, số tài khoản 36930042006. Đây là giấy tờ liên quan đến tài khoản cá nhân của bị cáo nên cần trả lại cho bị cáo.

[7] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và nội dung bào chữa của trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo về tội danh, mức hình phạt, hình phạt bổ sung cũng như các vấn đề khác đối với bị cáo là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[8] Về vấn đề khác: Đối với tài khoản ngân hàng Thương mại cổ phần Q mang tên Nguyễn Hữu T3, sinh năm 1982, trú tại 183D, ấp A, xã M, thành phố B, tỉnh Bến Tre; Tài khoản ngân hàng số 33007017, mở tại ngân hàng Thương mại cổ phần Á mang tên Lò Thị S, sinh năm 1989, trú tại tổ dân phố S, thị trấn S, huyện V, tỉnh Yên Bái; Tài khoản ngân hàng số 0862152430, mở tại ngân hàng Thương mại cổ phần Quân đội mang tên Trần Khải V1, sinh năm 2001, trú tại tại S Â, phường A, quận T, thành phố Hồ Chí Minh. Quá trình điều tra xác định Nguyễn Hữu T3, Lò Thị S và Trần Khải V1 không được sử dụng các tài khoản ngân hàng trên, không xác định được ai hiện nay đang sử dụng số tài khoản ngân hàng này do đó không có căn cứ để xử lý.

[9] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo là dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, bị cáo có đơn xin miễn án phí nên Hội đồng xét xử miễn án phí sơ thẩm hình sự cho bị cáo theo quy định. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 321; các điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 90, Điều 91, Điều 101, Điều 65, Điều 46, Điều 47 của Bộ luật Hình sự; các Điều 106, 135, 136, 331, 332, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đỗ Thanh T phạm tội “Đánh bạc”.
  2. Về hình phạt: Xử phạt Đỗ Thanh T 02 (hai) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 (bốn) năm, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 04/7/2024.

    Giao bị cáo Đỗ Thanh T cho Ủy ban nhân dân xã Y, huyện C, tỉnh Tuyên Quang để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách; trường hợp thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  3. Về vật chứng:
    • + Truy thu sung ngân sách nhà nước đối với số tiền 24.500.000 đồng (Hai mươi tư triệu năm trăm nghìn đồng) do bị cáo thu lợi bất chính từ hành vi phạm tội mà có.
    • + Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A71, vỏ màu xanh, điện thoại cũ đã qua sử dụng, trên điện thoại lắp 01 sim điện thoại số 0344.835.xxx do sử dụng vào việc phạm tội.
    • + Trả lại cho bị cáo 01 thẻ ATM ngân hàng Thương mại cổ phần Q, mang tên Đỗ Thanh T, số thẻ 4089041042585562, số ID 93091064, số tài khoản 36930042006. Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện C với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chiêm Hóa ngày 14/5/2024.
  4. Về án phí: Miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Đỗ Thanh T.
  5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tuyên Quang;
  • - VKSND tỉnh Tuyên Quang;
  • - VKSND huyện Chiêm Hóa;
  • - Sở Tư pháp;
  • - Cơ quan Điều tra CA huyện Chiêm Hóa;
  • - Cơ quan THAHS CA huyện Chiêm Hóa;
  • - Chi cục THADS huyện Chiêm Hóa;
  • - Phòng HSNV, CA tỉnh Tuyên Quang;
  • - UBND xã Yên Lập;
  • - Bị cáo;
  • - Hồ sơ THAHS;
  • - Lưu hồ sơ, án văn.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Tuấn Tú

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 33/2024/HS-ST ngày 04/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHIÊM HÓA, TỈNH TUYÊN QUANG về tội "đánh bạc" (gambling)

  • Số bản án: 33/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tội "Đánh bạc" (Gambling)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHIÊM HÓA, TỈNH TUYÊN QUANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bị cáo Đỗ Thanh T phạm tội Đánh bạc
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger