Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG

TỈNH THÁI NGUYÊN

Bản án số: 33/2024/HS-ST

Ngày 03 -5 -2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Toản.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lưu Xuân Hiến và ông Nguyễn Văn Thân.

- Thư ký phiên tòa: Bà Bằng Thị Kim Dung - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Vi Thị Hà - Chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Ủy ban nhân dân phường C, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên, Tòa án nhân dân thành phố Sông Công xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 27/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2024/ QĐXXST-HS ngày 19 tháng 4 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Anh N - Sinh ngày 03/8/1992, tại thành phố S, tỉnh Thái Nguyên.

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Tổ dân phố E, phường M, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; dân tộc: Mường, giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam. Con ông: Nguyễn Khắc H (đã chết) và bà Trần Thị P - Sinh năm: 1966; gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình, có vợ là: Phạm Thị Hồng N1 - Sinh năm 1991 (đã ly hôn) và 02 con chung, con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2018. Tiền án, tiền sự: Không có.

Nhân thân:

- Ngày 12/01/2008, Công an phường M, thị xã S (nay là thành phố S) tỉnh Thái Nguyên xử phạt cảnh cáo về hành vi: Cố ý gây thương tích.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/12/2023 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố S, tỉnh Thái Nguyên.

(Có mặt tại phiên tòa)

2. Họ và tên: Lê Đức K - Sinh ngày 23/4/1984, tại thành phố S, tỉnh Thái Nguyên.

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Tổ dân phố K, phường P, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam. Con ông: Lê Đức C (đã chết) và bà Cổ Thị P1 – Sinh năm: 1956; gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; có vợ là: Vi Thị H1 - Sinh năm 1990 và 02 con chung, con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2021. Tiền án, tiền sự: Không có.

Nhân thân:

- Ngày 12/02/2009, Công an thị xã S (nay là thành phố S) tỉnh Thái Nguyên xử phạt vi phạm hành chính 200.000 đồng về hành vi: Sử dụng trái phép chất ma túy.

- Ngày 25/3/2015, Tòa án nhân dân thành phố Sông Công xử phạt 07 năm tù về tội: Mua bán trái phép chất ma túy. Chấp hành xong ngày 07/5/2020.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/12/2023 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố S, tỉnh Thái Nguyên.

(Có mặt tại phiên tòa)

- Người chứng kiến: Bà Mai Mộng V - Sinh năm 1962;

Nơi cư trú: Tổ dân phố E, phường M, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên.

(Vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 22 giờ 30 phút ngày 20/12/2023, Tổ công tác Công an thành phố S, tỉnh Thái Nguyên tuần tra kiểm soát tại khu vực đường T thuộc tổ dân phố E, phường M, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên phát hiện Nguyễn Anh Nam có biểu hiện nghi vấn vi phạm pháp luật. Tổ công tác yêu cầu kiểm tra thì N giao nộp cho tổ công tác 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Sài Gòn trong túi quần phía trước bên phải N đang mặc, bên trong vỏ bao thuốc là có 01 túi nilon chứa chất tinh thể màu trắng lẫn chất bột màu hồng (Niêm phong ký hiệu L1), N khai là ma túy của N. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong số vật chứng nêu trên. Ngoài ra còn tạm giữ của N 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 pro màu xám (đã qua sử dụng). Quá trình lập biên bản N tự khai nhận: Túi nilon chứa tinh thể màu trắng lẫn chất bột màu hồng là ma túy tổng hợp dạng ma túy đá Nam mua của Lê Đức K, sinh năm 1984, địa chỉ: tổ dân phố K, phường P, thành phố S ngày 20/12/2023. Mục đích N mua số ma túy nêu trên là để sử dụng cho bản thân.

Hồi 00 giờ ngày 21 tháng 12 năm 2023, Cơ quan CSĐT Công an thành phố S khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lê Đức K tại tổ dân phố K, phường P, thành phố S. Kết quả khám xét phát hiện, thu giữ: 01 chai nước bằng nhựa, phần nắp nhựa màu trắng có gắn 02 ống hút, trong đó có 01 ống hút gắn coóng thuỷ tinh, một ống hút màu trắng, dài 40cm; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 6S, màu bạc, bên trong gắn 01 thẻ sim điện thoại số 0876.597.xxx (Niêm phong ký hiệu K).

Hồi 9 giờ 30 phút ngày 21 tháng 12 năm 2023, Cơ quan CSĐT Công an thành phố S khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Anh N tại tổ dân phố E, phường M, thành phố S. Kết quả khám xét phát hiện, thu giữ: 01 (một) túi nilon chứa chất tinh thể màu trắng lẫn chất bột màu hồng (N khai nhận là ma túy “đá”) đưa vào bì niêm phong ký hiệu C; 01 (một) chai nhựa màu trắng tại nắp gắn hai ống hút bằng nhựa màu xanh và màu hồng; 01 (một) chiếc cóong thủy tinh dài 6,45cm; 01 (một) chiếc bật lửa màu đỏ.

Ngày 21/12/2023 Cơ quan CSĐT tiến hành mở kiểm tra điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 pro màu xám thu giữ của Nguyễn Anh N. Kết quả mở niêm phong và kiểm tra điện thoại của Nguyễn Anh N, tại mục ứng dụng V1 đăng nhập tài khoản “107006425514” chủ tài khoản “NGUYEN ANH NAM” phát hiện giao dịch lúc 12h28' ngày 20/12/2023 chuyển tiền 300.000 đồng đến số tài khoản 0981794088 chủ tài khoản “LE DUC KIEN”.

Cơ quan điều tra Công an thành phố S, tỉnh Thái Nguyên đã tiến hành mở niêm phong và cân số chất tinh thể màu trắng lẫn chất bột màu hồng thu giữ của N khi bắt quả tang và khám xét chỗ ở của N.

Kết quả mở bì niêm phong ký hiệu L1 cân chất tinh thể màu trắng lẫn chất bột màu hồng thu giữ của Nguyễn Anh N có khối lượng 0,192 gam. Mở bì niêm phong ký hiệu C cân chất tinh thể màu trắng lẫn chất bột màu hồng thu giữ tại nhà của Nguyễn Anh N có khối lượng 0,048 gam.

Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định số chất tinh thể màu trắng lẫn chất bột màu hồng thu giữ của N.

Tại Kết luận giám định số 80/KL-KTHS ngày 29/12/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh T, kết luận: Chất tinh thể màu trắng lẫn chất bột màu hồng trong bì niêm phong ký hiệu A gửi giám định là chất ma tuý, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,192 gam. Chất tinh thể màu trắng lẫn chất bột màu hồng trong bì niêm phong ký hiệu C1 gửi giám định là chất ma tuý, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,048 gam. H2 lại 0,102 gam mẫu A còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu niêm phong ký hiệu A. H2 lại vỏ bao gói mẫu C1 niêm phong ký hiệu C1 do mẫu C1 đã sử dụng hết trong quá trình giám định.

Quá trình điều tra xác định được như sau: Khoảng 10 giờ ngày 20/12/2023, Lê Đức K đang ngồi tại quán nước tại khu vực cổng Trường Cao đẳng Công nghiệp V, phường T, thành phố S thì nhận được điện thoại của Nguyễn Anh N gọi đến từ tài khoản mạng xã hội Facebook tên “Nam TN” đến tài khoản “Le Kien” của K qua ứng dụng Messenger. N hỏi “Anh còn đồ không, để lại cho em một ít”, K hiểu ý N hỏi mua ma túy, K trả lời “lấy bao nhiêu”, N nói “lấy ba trăm” thì K đồng ý bán ma túy cho N. Khoảng 10 phút sau, N điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 21B1-220.29 đến gặp K. Tại đây, K nói với N “hôm trước anh lấy về chơi còn thừa một ít trong túi”, K lấy gói ma túy đá đã sử dụng một phần đang cất giấu ở ngoài vườn nhà K và đi bộ ra ngoài cổng nhà K đưa cho N, N cầm túi nilon trên tay trái rồi đi về nhà. Sau khi về đến nhà, N lấy một phần ma túy vừa mua của K ra sử dụng, số ma túy còn lại N cất một phần vào 01 túi nilon màu trắng, giấu tại mặt bàn kính ở khu vực kho nhà N để sử dụng dần, phần ma tuý còn lại trong túi nilon Nam cất vào trong bao thuốc lá nhãn hiệu SàiGòn và để vào trong túi quần bên phải phía trước đang mặc. Khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày, N chuyển số tiền 300.000 đồng từ tài khoản V2 của N đến tài khoản ngân hàng M số 0981794088 của K để trả tiền mua ma túy. Đến khoảng 21h30' cùng ngày, N đang đi bộ tại hành lang đường T, thuộc tổ dân phố E, phường M thì bị Tổ công tác của Công an thành phố S phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng và các tài sản liên quan gồm: 01 túi nilon chứa chất tinh thể màu trắng lẫn chất bột màu hồng, N khai là chất ma tuý (Niêm phong ký hiệu L1); 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu SaiGon, màu bạc (Niêm phong ký hiệu L2) và 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 11 Pro, màu xám, đã qua sử dụng (Niêm phong ký hiệu N3). Về nguồn gốc số tiền mua ma túy, N khai đi làm thuê mà có.

Tại bản Cáo trạng số 31/ CT – VKS ngày 01/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Nguyễn Anh N về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c, khoản 1 điều 249 của Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Lê Đức K về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Các bị cáo Nguyễn Anh N và Lê Đức K đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra, thừa nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung bản Cáo trạng truy tố.

- Đại diện Viện kiểm sát luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng và đề nghị Hội đồng xét xử như sau:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Anh N phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; bị cáo Lê Đức K phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.

  • + Áp dụng điểm c khoản 1 điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo N từ 18 đến 24 tháng tù;
  • + Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo K từ 36 đến 42 tháng tù;
  • + Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự, phạt bổ sung bị cáo K 05 - 06 triệu đồng nộp vào ngân sách Nhà nước, không áp dụng phạt bổ sung đối với bị cáo N.
  • + Áp dụng điều 47 của Bộ luật Hình sự, buộc bị cáo Lê Đức K phải truy nộp số tiền 300.000 đồng là khoản tiền do thu lợi bất chính do phạm tội mà có nộp vào ngân sách nhà nước.
  • + Về xử lý vật chứng: Áp dụng điều 47 của BLHS và Điều 106 của BLTTHS:
  • - Tịch thu tiêu hủy các vật chứng cấm tàng trữ, lưu hành, vật chứng không có giá trị (Mẫu ma túy còn lại sau giám định, túi nilon, vỏ bao gói mẫu, chai nước bằng nhựa lọ nhựa, ống hút bằng nhựa ...);
  • - Tịch thu, nộp vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s màu bạc (của bị cáo K) và chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 màu xám (của bị cáo N), đều đã qua sử dụng.
  • + Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí HSST sung quỹ Nhà nước theo quy định pháp luật.

Các bị cáo Nguyễn Anh N và Lê Đức K không có ý kiến bào chữa, tranh luận gì về hành vi phạm tội của mình và thừa nhận việc điều tra, truy tố là không oan, đúng người, đúng tội. Khi được nói lời sau cùng các bị cáo chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Anh N và Lê Đức K đã khai nhận toàn bộ hành vi, diễn biến nội dung sự việc đúng như nội dung kết luận điều tra và cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của người chứng kiến và các tài liệu chứng cứ khác Cơ quan điều tra đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Do đó đã có đủ căn cứ để Hội đồng xét xử kết luận:

Bị cáo Lê Đức K là đối tượng nghiện chất ma túy, ngày 19/12/2023 bị cáo đã đi đến khu Công nghiệp Đ gặp và mua của một nam thanh niên không rõ tên, địa chỉ 500.000 đồng ma túy dạng đá, sau khi mua được ma túy bị cáo K đem về nhà sử dụng một phần, số ma túy còn lại bị cáo cất giấu ngoài vườn nhà. Ngày 20/12/2023, bị cáo Nguyễn Anh N hỏi mua ma túy, nên bị cáo K đã bán cho N gói ma túy còn lại với giá 300.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, bị cáo N sử dụng một phần ma túy, số ma túy còn lại, bị cáo cất giấu một phần tại nhà để sử dụng dần, một phần bị cáo mang trong người. Đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, bị cáo đang đi trên đường T thuộc Tổ dân phố E phường M, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên thì bị phát hiện thu giữ vật chứng; khám xét nhà ở còn thu giữ của bị cáo N 01 gói ma túy như đã nêu trên, qua giám định tổng số ma túy thu giữ của bị cáo N là Methamphetamine, có tổng khối lượng là 0,240 gam.

Xét hành vi mua chất ma túy về để bán lại cho người khác vì mục đích vụ lợi của bị cáo Lê Đức K đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”, hành vi cất giữ bất hợp pháp chất ma túy có tổng khối lượng như đã nêu trên của bị cáo Nguyễn Anh N với mục đích để sử dụng cho bản thân, đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt đối với bị cáo K được quy định tại khoản 1 Điều 251 của BLHS, tội phạm và hình phạt đối với bị cáo N được quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự. Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên truy tố các bị cáo về tội danh, điều luật viện dẫn trên là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.

Nội dung các điều luật quy định:

Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

c) ... Methamphetamine có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam.

Điều 251. Tội mua bán trái phép chất ma túy

1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

[3] Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, mức độ của tội phạm đối với các bị cáo là nghiêm trọng, đã xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước ta về các chất ma tuý, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự ở địa phương, đồng thời còn làm gia tăng tệ nạn liên quan đến ma tuý, ảnh hưởng nhất định đến công cuộc đấu tranh, bài trừ tệ nạn ma túy của Đảng và Nhà nước ta. Do đó, hành vi phạm tội của các bị cáo phải xử lý nghiêm minh bằng pháp luật hình sự nhằm tác dụng cải tạo, giáo dục các bị cáo, răn đe và phòng ngừa chung.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên các bị cáo đều được hưởng một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS. Bị cáo Lê Đức K có bố đẻ (Ông Lê Đức C) được Đảng và Nhà nước ta tặng thưởng nhiều H3, Huy chương, nên bị cáo K còn được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khác quy định tại khoản 2 Điều 51 của BLHS

- Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 của BLHS.

Xét nhân thân thấy, các bị cáo tuy không có tiền án tiền sự, nhưng đều là những đối tượng nghiện chất ma túy, bị cáo K đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính và xử phạt tù về các hành vi liên quan đến ma túy, bị cáo N cũng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi cố ý gây thương tích, nhưng các bị cáo không lấy đó làm bài học rút kinh nghiệm cho bản thân mà lại tiếp tục lao vào con đường phạm tội, điều đó thể hiện các bị cáo là người có nhân thân xấu. Vì vậy, dù có giảm nhẹ phần nào về hình phạt, cũng cần nên một mức án tương xứng với hành vi phạm tội và cách các ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian phù hợp để cho các bị cáo có điều kiện cai nghiện ma túy cũng như cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành người công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội.

[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249, khoản 5 Điều 251 của BLHS thì người phạm tội còn có thể phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền...Đối với bị cáo K phạm tội nhằm mục đích thu lời bất chính, do đó cần áp dụng khoản 5 Điều 251 của BLHS phạt bổ sung bị cáo K một khoản tiền nộp vào ngân sách nhà nước. Đối với bị cáo N theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa thấy bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy, phạm tội không nhằm mục đích thu lời bất chính và không có tài sản riêng. Do đó, Hội đồng xét xử thấy không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo N.

[5] Về số tiền bị cáo Lê Đức K bán trái phép chất ma túy cho bị cáo Nguyễn Anh N thu được là 300.000 đồng, xét thấy đây là khoản tiền thu lợi bất chính, cần truy thu nộp vào ngân sách nhà nước theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 47 của BLHS.

[6] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của BLHS và Điều 106 BLTTHS, xử lý vật chứng vụ án như sau:

  • - Các bì niêm phong còn có các ký hiệu khác nhau: bì niêm phong ký hiệu A, B, C1, C2, L2; chai nước lọc bằng nhựa gắn ống hut, bật lửa ga... xét thấy đây là vật chứng cấm tàng trữ, lưu hànhvà không có giá trị cần tịch thu tiêu hủy theo quy định điểm a, c khoản 2 Điều 106 của BLTTHS.
  • - Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s màu bạc, đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo K và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 pro màu xám, đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo N; xét thấy các bị cáo sử dụng những điện thoại để trao đổi mua bán trái phép chất ma túy, nên cần tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước.

[7] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát trong lời luận tội đối với các bị cáo, như đề nghị về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt chính, xử lý vật chứng vụ án là phù hợp với quy định của pháp luật cần chấp nhận.

[8] Cần áp dụng Điều 329 của BLTTHS ra quyết định tạm giam các bị cáo với thời hạn 45 ngày để đảm bảo thi hành án theo quy định.

[9] Đối với nam thanh niên bị cáo K khai đã mua của người này, do không xác định được tên, tuổi, địa chỉ cụ thể, nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S không có căn cứ để xác minh, làm rõ.

[10] Về án phí: Các bị cáo phải chịu một khoản án phí HSST nộp vào ngân sách Nhà nước theo quy định của pháp luật.

[11] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Điều 47, điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của BLHS đối với Nguyễn Anh N;
  • - Điều 47, khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của BLHS đối với bị cáo Lê Đức K.
  • - Các Điều 106, Điều 136, các Điều 329, 331 và 333 của BLTTHS;
  • - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Anh N phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, bị cáo Lê Đức K phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt chính:

  • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh N 18 (Mười tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 20/12/2023.
  • - Xử phạt bị cáo Lê Đức K 36 (Ba mươi sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 27/12/2023.

3. Về hình phạt bổ sung:

  • - Phạt bổ sung bị cáo Lê Đức K 05 (Năm) triệu đồng nộp vào ngân sách Nhà nước.
  • - Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Anh N.

4. Buộc bị cáo Lê Đức K phải truy nộp số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nộp vào ngân sách nhà nước.

5.Về áp dụng biện pháp ngăn chặn: Ra Quyết định tạm giam bị cáo Nguyễn Anh NLê Đức K mỗi bị cáo với thời hạn 45 (Bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

6. Về xử lý vật chứng của vụ án như sau:

6.1. Tịch thu tiêu hủy những vật chứng sau đây:

  • - 01 (một) bì niêm phong ký hiệu A bên trong có 0,102 gam mẫu còn lại sau giám định và 01 vỏ gói mẫu A;
  • - 01 (một) bì niêm phong ký hiệu B bên trong có vỏ bì niêm phong ký hiệu L1 và 01 túi nilon màu trắng;
  • - 01 (một) bì niêm phong ký hiệu C1 bên trong có vỏ gói mẫu C1;
  • - 01 (một) bì niêm phong ký hiệu C2 bên trong chứa vỏ bì niêm phong ký hiệu C và 01 túi nilon;
  • - 01 (một) bì niêm phong ký hiệu L2 bên trong có 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Sài Gòn, màu bạc;
  • - 01 (một) chai nước bằng nhựa, bên ngoài bọc vỏ màu xanh trắng, nắp nhựa màu trắng gắn hai ống hút trong đó một ống hút gắn cóng thủy tinh;
  • - 01 (một) chai nước bằng nhựa màu trắng, tại nắp chai có gắn hai ống hút bằng nhựa màu xanh và hồng và chiếc 01 bật lửa màu đỏ.

6.2. Tịch thu, nộp vào ngân sách nhà những chiếc điện thoại sau đây:

  • + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 pro màu xám, đã qua sử dụng, được niêm phong bì niêm phong ký hiệu N3;
  • + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s màu bạc, đã qua sử dụng, được niêm phong bì niêm phong ký hiệu “Kiên”;

(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 03/4/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra của Công an thành phố S và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên).

7. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Anh N, Lê Đức K mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm nộp vào ngân sách nhà nước.

8. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo Nguyễn Anh N, Lê Đức K có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • -TAND, VKSND tỉnh Thỏi nguyờn;
  • - VKSND TP. Sụng Cụng;
  • - THADS TP. Sụng Cụng;
  • - Cụng an TP. Sụng Cụng;
  • - Cỏc bị cỏo
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Minh Toản

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 33/2024/HS-ST ngày 03/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG, TỈNH THÁI NGUYÊN về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy và mua bán trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 33/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy và Mua bán trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger