Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐẠI LỘC

TỈNH QUẢNG NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 33/2024/HSST.

Ngày: 01/7/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI LỘC, TỈNH QUẢNG NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

+ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng P

+ Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lương Đức H

Ông Nguyễn Thành T

Th ký phiên tòa: Bà Lê Thị Nguyệt S - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn P1- Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 09/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 02 năm 2024; theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2024/TLST-HS ngày 20 tháng 3 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Họ tên: Lê Hoài A - Giới tính: nam.

    Tên gọi khác: không; Sinh ngày: 30 tháng 10 năm 2006, tại: Đ, Quảng Nam; Sinh ngày: 30 tháng 10 năm 2006, tại: Đ, Quảng Nam; Nơi ĐKHKTT: khu N, thị trấn Á, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam; Chỗ ở hiện nay: khu N, thị trấn Á, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam; Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Con ông Lê B (sinh năm 1975) và bà Lê Thị T1 (sinh năm 1978) trú tại khu N, thị trấn Á, huyện Đ; Gia đình có 03 anh em, bị can là con thứ 02, chưa có vợ con.

    Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ 02, chưa có vợ con.

    Tiền án, tiền sự: không.

    Nhân thân: ngày 25/10/2021 bị Công an xã Đ, huyện Đ xử phạt hành chính “cảnh cáo” về hành vi đánh nhau.

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 08/6/2023 đến ngày 14/6/2023 thì áp dụng biện pháp ngăn chặn C đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên toà.

  2. Họ tên: Phạm Đình T2 - Giới tính: nam.

    Tên gọi khác: Ú; Sinh ngày: 21 tháng 10 năm 2006, tại: Đ, Quảng Nam; Nơi ĐKHKTT: khối phố T, phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam; Chỗ ở hiện nay: khối phố T, phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: không; Quốc tịch: Việt Nam;Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Con ông Phạm Đình T3 (sinh năm 1980) và bà Nguyễn Thị H1 (sinh năm 1979) cùng trú tại khối phố T, phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ 03, chưa có vợ con.

    Tiền án, tiền sự: không.

    Nhân thân: Ngày 17/5/2024 bị Toà án nhân dân thị xã Điện Bàn xử phạt 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, theo quy định tại khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự.

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 05/6/2023 đến 14/6/2023 thì áp dụng biện pháp ngăn chặn C đi khỏi nơi cư trú. Đến ngày 03/7/2023 bị cáo áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt bị cáo để tạm giam trong vụ án khác tại Nhà tạm giữ Công an thị xã Đ; có mặt tại phiên toà.

  3. Họ tên: Nguyễn Văn Trung K - Giới tính: nam.

    Tên gọi khác: không; Sinh ngày: 19 tháng 10 năm 2004, tại: Đ, Quảng Nam; Sinh ngày: 19 tháng 10 năm 2004, tại: Đ, Quảng Nam; Nơi ĐKHKTT: khu P, thị trấn Á, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam; Chỗ ở hiện nay: khu P, thị trấn Á, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Con ông Nguyễn Duy C1 (sinh năm 1980) và bà Trần Thị Lệ T4 (sinh năm 1982) cùng trú tại khu P, thị trấn Á, huyện Đ; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con đầu, chưa có vợ con.

    Tiền án: không.

    Tiền sự: ngày 01/10/2022, Công an huyện Đ xử phạt hành chính số tiền 3.250.000 đồng về hành vi “Cố ý gây thương tích”.

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 09/6/2023 đến ngày 14/6/2023 thì áp dụng biện pháp ngăn chặn C đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên toà.

  4. Họ tên: Vũ Đình T5 - Giới tính: nam.

    Tên gọi khác: không; Sinh ngày: 07 tháng 8 năm 2004, tại: Đ, Quảng Nam; Nơi ĐKHKTT: khối phố B, phường V, thị xã Đ tỉnh Quảng Nam; Chỗ ở hiện nay: khối phố B, phường V, thị xã Đ tỉnh Quảng Nam; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Con ông Vũ Đình H2 (sinh năm 1983) và bà Lê Thị Thiên K1 (sinh năm 1983) cùng trú tại khối phố B, phường V, thị xã Đ tỉnh Quảng Nam; Bị cáo là con một, chưa có vợ con.

    Tiền án, tiền sự: không.

    Nhân thân:

    Ngày 17/5/2024, bị Toà án nhân dân thị xã Điện Bàn xử phạt 02 (hai) năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, theo quy định tại khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự.

    Ngày 31/12/2021, bị Công an thị xã Đ xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.250.000 đồng với hành vi tàng trữ hung khí nhằm mục đích gây thương tích.

    Bị cáo hiện đang bị tạm giam trong vụ án khác tại Nhà tạm giữ Công an thị xã Đ; có mặt tại phiên toà.

  5. Họ tên: Lưu Thành T6 - Giới tính: nam.

    Tên gọi khác: không; Sinh ngày: 23 tháng 4 năm 2004, tại: Đ, Quảng Nam; Nơi ĐKHKTT: khối phố B, phường V, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam; Chỗ ở hiện nay: khối phố B, phường V, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Con ông Lưu Văn L (sinh năm 1970) và bà Huỳnh Thị L1 (sinh năm 1971) cùng trú tại khối phố B, phường V, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam; Gia đình có 04 chị em, bị cáo là con thứ 04, chưa có vợ con.

    Tiền án, tiền sự: không.

    Nhân thân: ngày 18/9/2023 bị TAND thị xã Điện Bàn tuyên phạt 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự.

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên toà.

  6. Họ tên: Lương Vĩnh B1 - Giới tính: nam.

    Tên gọi khác: Cu Lự; Sinh ngày: 17 tháng 04 năm 2007, tại: Đ, Quảng Nam; Nơi ĐKHKTT: khối phố B, phường V, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam; Chỗ ở hiện nay: khối phố B, phường V, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: không; Quốc tịch: Việt Nam;Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Con ông Lương Văn Đ (sinh năm 1973) và bà Trần Thị C2 (sinh năm 1976) trú tại khối phố B, phường V, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam; Gia đình có 02 anh em, bị can là con thứ 02, chưa có vợ con.

    Tiền án, tiền sự: không.

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 05/6/2023 đến 14/6/2023 thì áp dụng biện pháp ngăn chặn C đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên toà.

  7. Họ tên: Phạm Minh T7 - Giới tính: nam.

    Tên gọi khác: không; Sinh ngày: 08 tháng 09 năm 2006, tại: Đ, Quảng Nam; Nơi ĐKHKTT: khu N, thị trấn Á, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam; Chỗ ở hiện nay: khu N, thị trấn Á, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: không; Quốc tịch: Việt Nam;Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Con ông Phạm Đình V (sinh năm 1984) và bà Nguyễn Thị Mỹ H3 (sinh năm 1984) cùng trú tại khu N, thị trấn Á, huyện Đ; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con đầu, chưa có vợ con.

    Tiền án, tiền sự: không

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên toà.

  8. Họ tên: Bùi Xuân H4 - Giới tính: nam.

    Tên gọi khác: không; Sinh ngày: 12 tháng 01 năm 2006, tại: Đ, Quảng Nam; Sinh ngày: 12 tháng 01 năm 2006, tại: Đ, Quảng Nam; Nơi ĐKHKTT: thôn Ô, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam; Nơi ĐKHKTT: thôn Ô, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam; Chỗ ở hiện nay: thôn Ô, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam; Trình độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: không; Quốc tịch: Việt Nam;Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Con ông Bùi Q (sinh năm 1970) và bà Phạm Thị Kim Y (sinh năm 1973) cùng trú tại thôn Ô, xã Đ, huyện Đ; Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ 02, chưa có vợ con.

    Tiền án, tiền sự: không.

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 05/6/2023 đến 14/6/2023 thì áp dụng biện pháp ngăn chặn C đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên toà.

  9. Họ tên: Lê Ngọc T8 - Giới tính: nam.

    Tên gọi khác: không; Sinh ngày: 10 tháng 5 năm 2006, tại: Đ, Quảng Nam; Nơi ĐKHKTT: thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam; Chỗ ở hiện nay: thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Con ông Lê Ngọc P2 (sinh năm 1981) và bà Lê Thị H5 (sinh năm 1986) cùng trú tại thôn Đ, xã Đ, huyện Đ. Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con đầu, chưa có vợ con.

    Tiền án, tiền sự: không.

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên toà.

  10. Họ tên: Nguyễn Đức V1 - Giới tính: nam.

    Tên gọi khác: không; Sinh ngày: 26 tháng 7 năm 2004, tại: Đ, Quảng Nam; Nơi ĐKHKTT: thôn M, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam; Chỗ ở hiện nay: thôn M, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Con ông Nguyễn Đức T9 (sinh năm 1976) và bà Thái Thị H6 (sinh năm 1980) cùng trú tại thôn M, xã Đ, huyện Đ; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con đầu, chưa có vợ con;

    Tiền án, tiền sự: không.

    Nhân thân: ngày 03/01/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện N khởi tố bị can về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự.

    Bị cáo đang bị tạm giam trong vụ án khác tại Nhà tạm giữ Công an huyện N; có mặt tại phiên toà.

  11. Họ tên: Nguyễn Hoàng P3 - Giới tính: nam.

    Tên gọi khác: không; Sinh ngày: 18 tháng 10 năm 2006, tại: Đ, Quảng Nam; Nơi ĐKHKTT: thôn M, xã Đ, huyện Đ, Quảng Nam; Chỗ ở hiện nay: thôn M, xã Đ, huyện Đ, Quảng Nam; Trình độ học vấn: 11/12; Nghề nghiệp: không; Quốc tịch: Việt Nam;Dântộc: Kinh; Tôn giáo: không; Con ông Nguyễn V2 (sinh năm 1971) và bà Doãn Thị H7 (sinh năm 1980), cùng trú tại thôn P, xã Đ, Đ; Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ 02, chưa có vợ con.

    Tiền án, tiền sự: không.

    Nhân thân: ngày 23/6/2024, bị Toà án nhân dân huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam xử phạt 12 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự.

    Bị cáo đang bị tạm giam trong vụ án khác tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ; có mặt tại phiên toà.

  12. Họ tên: Trần Đình Tùy E - Giới tính: nam.

    Tên gọi khác: không, S1 ngày: 03 tháng 10 năm 2006, tại: Đ, Quảng Nam; Nơi ĐKHKTT: thôn Ô, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam; Chỗ ở hiện nay: thôn Ô, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: không; Quốc tịch: Việt Nam;Dântộc:Kinh; Tôn giáo: không; Con ông Trần Đình Ú1 (sinh năm 1971) và bà Đỗ Thị L2 (sinh năm 1978) cùng trú tại thôn Ô, xã Đ, huyện Đ; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ 03, chưa có vợ con.

    Tiền án, tiền sự: không

    Nhân thân: ngày 23/6/2024, bị Toà án nhân dân huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam xử phạt 09 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự.

    Bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ; có mặt tại phiên Toà.

  13. Họ tên: Lê Phước H8 - Giới tính: nam.

    Tên gọi khác: không; Sinh ngày: 11 tháng 3 năm 2006, tại: Đ, Quảng Nam; Nơi ĐKHKTT: thôn Q, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam; Chỗ ở hiện nay: thôn Q, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam; Trình độ học vấn: 11/12; Nghề nghiệp: không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Con ông Lê Phước T10 (sinh năm 1973) và bà Phạm Thị B2 (sinh năm 1973) cùng trú tại khu P, thị trấn Á, huyện Đ; Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ 03, chưa có vợ con.

    Tiền án, tiền sự: không.

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 05/6/2023 đến 14/6/2023 thì áp dụng biện pháp ngăn chặn C đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên Toà.

  14. Họ tên: Lê Văn H9 - Giới tính: nam.

    Tên gọi khác: Cu Cườm; Sinh ngày: 27 tháng 12 năm 2006, tại: Đ, Quảng Nam; Nơi ĐKHKTT: khối Phố N, phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam; Chỗ ở hiện nay: khối Phố N, phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Con ông Lê Văn D (sinh năm 1973) và bà Hà Thị Minh T11 (sinh năm 1971) cùng trú tại khối Phố N, phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ 03, chưa có vợ con.

    Tiền án, tiền sự: không.

    Nhân thân: Ngày 17/4/2024 bị TAND thị xã Điện Bàn xử phạt 01 (một) năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, theo quy định tại khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự.

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú; hiện đang chấp hành án trong vụ án khác và có đơn xin xét xử vắng mặt.

  15. Họ tên: Nguyễn Văn D1 - Giới tính: nam.

    Tên gọi khác: L3; Sinh ngày: 21 tháng 10 năm 2006, tại: Đ, Quảng Nam; Nơi ĐKHKTT: khối phố P, phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam; Chỗ ở hiện nay: khối phố P, phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: không; Quốc tịch: Việt Nam;Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Con ông Nguyễn Văn T12 (sinh năm 1976) và bà Lê Thị H5 (sinh năm 1978) cùng trú tại khối phố P, phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con đầu, chưa có vợ con.

    Tiền án, tiền sự: không.

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên Toà.

  16. Họ tên: Lê Tuấn T13 - Giới tính: nam.

    Tên gọi khác: không; Sinh ngày: 14 tháng 09 năm 2006, tại: Đ, Quảng Nam; Nơi ĐKHKTT: thôn M, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam; Chỗ ở hiện nay: thôn M, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam; Trình độ học vấn: 11/12; Nghề nghiệp: không; Quốc tịch: Việt Nam;Dântộc:Kinh;Tôn giáo: không; Con ông Lê R (sinh năm 1969) và bà Nguyễn Thị Q1 (sinh năm 1970) cùng trú tại thôn M, xã Đ, huyện Đ; Gia đình có 03 anh chị em, bị cáo là con thứ 03, chưa có vợ con.

    Tiền án, tiền sự: không.

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên Toà.

  17. Họ tên: Đỗ Văn H10 - Giới tính: nam.

    Tên gọi khác: không; Sinh ngày: 24 tháng 01 năm 2006, tại: Đ, Quảng Nam; Nơi ĐKHKTT: thôn Ô, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam; Chỗ ở hiện nay: thôn Ô, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: không; Quốc tịch: Việt Nam;Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Con ông Đỗ Văn C3 (sinh năm 1970) và bà Hứa Thị H11 (sinh năm 1973) cùng trú tại thôn Ô, xã Đ, huyện Đ; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con đầu, chưa có vợ con.

    Tiền án, tiền sự: không

    Nhân thân: ngày 23/6/2024, bị Toà án nhân dân huyện Đại Lộc xử phạt 09 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự.

    Bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ; có mặt tại phiên Toà.

  18. Họ tên: Hồ Viết D2 - Giới tính: nam.

    Tên gọi khác: không; Sinh ngày: 06 tháng 4 năm 2004, tại: Đ, Quảng Nam; Nơi ĐKHKTT: thôn M, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam; Chỗ ở hiện nay: thôn M, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Con ông Hồ Q2 (sinh năm 1973) và bà Nguyễn Thị C4 (sinh năm 1978) trú tại khu thôn M, xã Đ, huyện Đ; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ 02, chưa có vợ con.

    Tiền án, tiền sự: không

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên Toà.

Người bào chữa cho các bị cáo Lê Hoài A, Phạm Đình T2, Bùi Xuân H4, Lê Phước H8, Lương Vĩnh B1, Nguyễn Văn D1, Lê Văn H9, Lê Tuấn T13: Bà Nguyễn Thị Hồng T14 - Trợ giúp viên pháp lý chi nhánh S3, Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh Q; có mặt.

Người bào chữa cho các bị cáo Phạm Minh T7, Nguyễn Hoàng P3: Ông Lê Văn H12 - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Q; có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo Lê Ngọc T8: Bà Lê Thị T15 - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Q; có mặt.

Người bào chữa cho các bị cáo Đỗ Văn H10 và Trần Đình T16 Em: Bà Nguyễn Thị Hồng P4 - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Q; có mặt.

Người đại diện hợp pháp cho bị cáo:

Đại diện hợp pháp cho bị cáo Lê Hoài A: Ông Lê B, sinh năm 1975 (có mặt) và bà Lê Thị T1, sinh năm 1978; cùng trú tại: khu N, thị trấn Á, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam (có mặt).

Đại diện hợp pháp cho bị cáo Phạm Đình T2: Ông Phạm Đình T3, sinh năm 1980 và bà Nguyễn Thị H13, sinh năm 1979; cùng trú tại: khối phố T, phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam (vắng mặt).

Đại diện hợp pháp cho bị cáo Lương Vĩnh B1: ông Lương Văn Đ, sinh năm 1973 (có mặt) và bà Trần Thị C2, sinh năm 1976; cùng trú tại: Khối phố B, phường V, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam (vắng mặt).

Đại diện hợp pháp cho bị cáo Phạm Minh T7: ông Phạm Đình V, sinh năm 1984 (vắng mặt) và bà Nguyễn Mỹ H3, sinh năm 1987; cùng trú tại: khu N, thị trấn Á, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam (vắng mặt).

Đại diện hợp pháp cho bị cáo Bùi Xuân H4: ông Bùi Q, sinh năm 1970 (vắng mặt) và bà Phạm Thị Kim Y, sinh năm 1973; cùng trú tại: Thôn Ô, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam (vắng mặt).

Đại diện hợp pháp cho bị cáo Lê Ngọc T8: ông Lê Ngọc P2, sinh năm 1981; (có mặt) và bà Lê Thị H5, sinh năm 1986; cùng trú tại: thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam (vắng mặt).

Đại diện hợp pháp cho bị cáo Nguyễn Hoàng P3: ông Nguyễn V2, sinh năm 1971 (có mặt) và bà Doãn Thị H7, sinh năm 1980; cùng trú tại: thôn M, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam (có mặt).

Đại diện hợp pháp cho bị cáo Trần Đình T16 Em: ông Trần Đình Ú1, sinh năm 1971 (có mặt) và bà Đỗ Thị L2, sinh năm 1978; cùng trú tại: thôn Ô, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam (có mặt).

Đại diện hợp pháp cho bị cáo Lê Phước H8: ông Lê Phước T10, sinh năm 1973 (có mặt) và bà Phạm Thị B2, sinh năm 1973; cùng trú tại: Thôn Q, xã Đ, huyện Đ tỉnh Quảng Nam (vắng mặt).

Đại diện hợp pháp cho bị cáo Lê Văn H9: ông Lê Văn D, sinh năm 1973; (có mặt) và bà Hà Thị Minh T11, sinh năm 1971; cùng trú tại: khối phố N, phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam (vắng mặt).

Đại diện hợp pháp cho bị cáo Nguyễn Văn D1: ông Nguyễn Văn T12, sinh năm 1976 (có mặt) và bà Lê Thị H5, sinh năm 1978; cùng trú tại: khối phố P, phường Đ, thị xã Đ, Quảng Nam (vắng mặt).

Đại diện hợp pháp cho bị cáo Lê Tuấn T13: ông Lê R, sinh năm 1969 (có mặt) và bà Nguyễn Thị Q1, sinh năm 1970; cùng trú tại: thôn M, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam (vắng mặt).

Đại diện hợp pháp cho bị cáo Đỗ Văn H10: ông Đỗ Văn C3, sinh năm 1970; (vắng mặt) và bà Hứa Thị H11, sinh năm 1973; cùng trú tại: thôn Ô, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam (vắng mặt).

* Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Phạm Văn T17, sinh năm 2007; vắng mắt.

    Đại diện hợp pháp cho Phạm Văn T17: Bà Trần Thị H14, sinh năm 1984

    Cùng trú tại: Thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam; vắng mắt

  2. Hứa Đại T18, sinh năm 2007; có mặt.

    Đại diện hợp pháp cho Hứa Đại T18: Ông Hứa Đại Q3, sinh năm 1977; vắng mặt.

    Cùng trú tại: Thôn X, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam.

  3. Nguyễn Hữu T19, sinh năm 2006; vắng mặt

    Đại diện hợp pháp cho Nguyễn Hữu T19: Bà Đào Thị Tuyết X, sinh năm 1977, vắng mặt

    Cùng trú tại: Thôn L, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam.

  4. Nguyễn Hữu Hoàng P5, sinh năm 2008; có mặt

    Đại diện hợp pháp cho Nguyễn Hữu Hoàng P5: Bà Hứa Thị M, sinh năm 1980, có mặt.

    Cùng trú tại: Thôn K, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam.

  5. Nguyễn Văn S2, sinh năm 2007; vắng mặt

    Đại diện hợp pháp cho Nguyễn Văn S2: Ông Nguyễn Văn L4, sinh năm 1961; vắng mặt.

    Cùng trú tại: Thôn P, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam.

  6. Võ Duy T20, sinh năm 2006; có mặt

    Đại diện hợp pháp cho Võ Duy T20: Ông Võ C5, sinh năm 1978; có mặt

    Cùng trú tại: Thôn M, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam.

  7. Doãn Thị H7, sinh năm 1980; có mặt.

    Trú tại: Thôn M, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam.

  8. Trần Thị Lệ T4, sinh năm 1982; có mặt.

    Trú tại: Khu P, thị trấn Á, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam.

  9. Trần Cảnh T21, sinh năm 1992; vắng mặt

    Trú tại: Khối phố B, phường V, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam.

  10. Lê Ngọc P2, sinh năm 1981; vắng mặt

    Trú tại: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam.

  11. Lê Văn M1, sinh năm 1994; vắng mặt

    Trú tại: Khối phố N, phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam.

  12. Trần Quang V3, sinh năm 1991; vắng mặt

    Trú tại: Thôn Q, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam.

  13. Thái Thị H6, sinh năm 1980; có mặt

    Trú tại: Thôn M, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam.

  14. Võ C5, sinh năm 1978; vắng mặt

    Trú tại: Thôn M, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam.

  15. Ngô Thị H15, sinh năm 1974; vắng mặt

    Trú tại: Thôn Đ, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 03/6/2023, do có mâu thuẫn và thách thức đánh nhau trên mạng xã hội Facebook giữa Lê Hoài A và Nguyễn Hữu T19 (sinh năm 2006, trú: xã Đ, huyện Đ) nên Anh rủ Lê Ngọc T8, Bùi Xuân H4 đi đánh T19 và nhờ T8, H4 rủ thêm người đánh T19. Anh tiếp tục rủ Lưu Thành T6, Vũ Đình T5, Phạm Đình T2 và nhờ T2 rủ thêm người đánh T19, Anh hẹn gặp nhau lúc 19h ngày 04/6/2023 tại thị trấn Á, huyện Đ. Anh tiếp tục rủ thêm Nguyễn Văn Trung K và Phạm Minh T7 cùng tham gia.

Sau khi nhận lời rủ đi đánh nhau của Lê Hoài A, Bùi Xuân H4 và Lê Ngọc T8 rủ Lê Phước H8, Lê Tuấn T13, Nguyễn Đức V1, Đỗ Văn H10, Phạm Văn T17, Nguyễn Hoàng P5, Trần Đình Tùy E, Hồ Viết D2, Nguyễn Hữu Hoàng P5. Nguyễn Hoàng P5 rủ Nguyễn Văn S2. Đỗ Văn H10 rủ Hứa Đại T18. Tất cả tập hẹn nhau tập trung vào chiều tối ngày 04/6/2023 tại quán nước L thôn Q, xã Đ chờ nhóm của Lê Hoài A lên cùng tham gia nhóm đi tìm T17 để đánh.

Đến khoảng 18h ngày 04/6/2023, T2 rủ Lương Vĩnh B1, Vũ Đình T5, Lưu Thành T6 đi đánh nhau và tập trung tại khu vực chợ V4, thị xã Đ. T6 điều khiển xe mô tô Exciter BKS: 92D1-434.38 chở Vũ Đình T5 cầm 01 cây 03 chia, B1 điều khiển xe Vision BKS: 43K1-503.96 chở T2 cầm 01 cây kiếm rồi điều khiển xe mô tô đến tập trung tại khu vực chợ V4, thị xã Đ. Tại đây, cả nhóm gặp Lê Văn H9 và Nguyễn Văn D1, T2 rủ H9 và D1 lên huyện Đ đánh nhau thì cả hai đồng ý và H9 điều khiển xe mô tô Sirius BKS: 92D1-878.00 chở D1 cùng đi lên đến ngã tư thị trấn Á, huyện Đ. Tại đây, nhóm của T2 gặp nhóm Lê Hoài A, Anh chuẩn bị sẵn 01 cây kiếm đưa cho Nguyễn Văn Trung K cầm, K giao xe mô tô BKS: 92E1-644.50 cho Phạm Minh T7 điều khiển chở A và K rồi cả nhóm đi đến cầu Q, xã Đ, trên đường đi A gọi điện thoại cho Xuân H4 tập trung ở cầu Q để nhập nhóm. Lúc này, nhóm của Bùi Xuân H4 và Lê Ngọc T8 đã tập trung bàn bạc tại quán L5 thì Lê Phước H8 điều khiển xe mô tô BKS 89H8 -6659 chở Bùi Xuân H4, Nguyễn Đức V1 điều khiển xe mô tô hiệu Future BKS: 92E1 – 08397 chở Lê Tuấn T13, Nguyễn Hoàng P5 điều khiển xe mô tô hiệu Wave RSX BKS: 92E1 – 606.48 chở Nguyễn Hữu Hoàng P5 và Phạm Văn T17, Lê Ngọc T8 điều khiển xe mô tô BKS: 92E1 – 639.90 chở Trần Đình Tùy E, Hứa Đại T18 điều khiển xe mô tô hiệu Wave RSX BKS: 92E1 – 647.80 chở Nguyễn Văn S2 rồi cả nhóm chạy ra cầu Q thì tất cả nhập lại thành 01 nhóm cùng với Lê Hoài A đi lên hướng xã Đ, huyện Đ tìm T17 để đánh. Hứa Đại T18, Nguyễn Văn S2 đi đến cầu Q không tham gia nhóm mà quay về. Đối với Đỗ Văn H10 và Hồ Viết D2 không có xe nên khi thấy Võ Duy T20 (sinh năm 2006, trú M, xã Đ, huyện Đ) điều khiển xe mô tô hiệu Sirius BKS: 92E1 – 603.90 đi đến quán L5 uống nước thì H10 và D2 nhờ T20 chở đi theo sau. Khi nhóm của Lê Hoài A đang trên đường đi đến xã Đ, huyện Đ thì bị lực lượng Công an huyện Đ phát hiện truy bắt được Phạm Đình T2, Bùi Xuân H4, Lê Phước H8, Lương Vĩnh B1 và tạm giữ nhiều vật chứng có liên quan.

* Về vật chứng: quá trình điều tra Cơ quan điều tra tạm giữ vật chứng sau:

  • 01 xe mô tô màu đen, biển số 89H8 – 6659, số khung RLCS5C6106Y021486, số máy 5C61-021486.
  • 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda vision BKS: 43K1 – 50396.
  • 01 cây kiếm dài 83cm, lưỡi bằng kim loại màu trắng, mũi nhọn sắc bén được bọc lớp vỏ bên ngoài bằng gỗ màu sơn đen.
  • 01 cây sắt tròn dài 250cm, đường kính 02cm, một đầu cây sắc có hàn gắn 03 mũi sắt nhọn, 02 mũi hai bên dài 25cm. 01 mũi ở giữa dài 43cm.
  • 01 con dao bằng kim loại, lưỡi dao dài 38cm, bề mặt lưỡi dao rộng 03cm đến 06cm, phần cán dao bằng kim loại dài 10cm, đường kính 02cm, bề mặt dao sắc cạnh.
  • Các mảnh vỡ của vỏ chai nước ngọt bằng thủy tinh hiệu Pepsi.
  • 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Realme, màu xám, IMEI1 869150050917197, IMEI2 869150050917189, số seri 015142553410F4EC, đã bị vỡ màn hình, đã qua sử dụng của Lê Hoài A.

Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với các chứng cứ và tài liệu khác mà cơ quan điều tra đã thu thập được.

Tại cáo trạng số 07/CT-VKSĐL ngày 15/02/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Lộc truy tố các bị cáo Lê Hoài Anh, Phạm Đình Tài, Nguyễn Văn Trung K, Vũ Đình T5, Lưu Thành T6, Lương Vĩnh B1, Phạm Minh T7, Bùi Xuân H4, Lê Ngọc T8, Nguyễn Đức V1, Nguyễn Hoàng P5, Trần Đình Tùy E, Lê Phước H8, Lê Văn H9, Nguyễn Văn D1, Lê Tuấn T13, Đỗ Văn H10, Hồ Viết D2 về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại khoản 6 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam giữ nguyên quan điểm truy tố đồng thời đề nghị áp dụng:

  • Đối với bị cáo Lê Hoài A: áp dụng khoản 6 Điều 134, điểm i, s, khoản 1 Điều 51; điểm a khoản 1 Điều 52, 91, 101 Bộ luật hình sự năm 2015 đề nghị xử phạt từ 15 đến 18 tháng tù.
  • Đối với bị cáo Vũ Đình T5: áp dụng khoản 6 Điều 134, điểm s, khoản 1 Điều 51; điểm a khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 đề nghị xử phạt từ 15 đến 18 tháng tù. Áp dụng Điều 56 BLHS để tổng hợp Bản án 53 ngày 17/5/2024 của TAND thị xã Điện Bàn.
  • Đối với bị cáo Phạm Đình T2: áp dụng khoản 6 Điều 134, điểm s, khoản 1 Điều 51; điểm a khoản 1 Điều 52, 91, 101 Bộ luật hình sự năm 2015 đề nghị xử phạt từ 12 đến 15 tháng tù. Áp dụng Điều 56 BLHS để tổng hợp Bản án 53 ngày 17/5/2024 của TAND thị xã Điện Bàn.
  • Đối với bị cáo Nguyễn Văn Trung K: áp dụng khoản 6 Điều 134, điểm i, s, khoản 1 Điều 51; điểm a khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 đề nghị xử phạt từ 12 đến 15 tháng tù.
  • Đối với bị cáo Lưu Thành T6: áp dụng khoản 6 Điều 134, điểm s, khoản 1 Điều 51; điểm a khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 đề nghị xử phạt từ 09 đến 12 tháng tù. (Trường hợp người đang được hưởng án treo mà lại phát hiện trước khi được hưởng án treo họ đã thực hiện một tội phạm khác thì Tòa án quyết định hình phạt đối với tội phạm đó và không tổng hợp hình phạt với bản án cho hưởng án treo)
  • Đối với bị cáo Lương Vĩnh B1: áp dụng khoản 6 Điều 134, điểm i, s, khoản 1, 2 Điều 51; điểm a khoản 1 Điều 52, 36, 91, 101 Bộ luật hình sự năm 2015 đề nghị xử phạt từ 06 đến 09 cải tạo không giam giữ.
  • Đối với bị cáo Phạm Minh T7: áp dụng khoản 6 Điều 134, điểm i, s, khoản 1, 2 Điều 51; điểm a khoản 1 Điều 52, 36, 91, 101 Bộ luật hình sự năm 2015 đề nghị xử phạt từ 06 đến 09 cải tạo không giam giữ.
  • Đối với bị cáo Lê Ngọc T8: áp dụng khoản 6 Điều 134, điểm i, s, khoản 1 Điều 51; điểm a khoản 1 Điều 52, 36, 91, 101 Bộ luật hình sự năm 2015 đề nghị xử phạt từ 06 đến 09 cải tạo không giam giữ.
  • Đối với bị cáo Bùi Xuân H4: áp dụng khoản 6 Điều 134, điểm i, s, khoản 1, 2 Điều 51; điểm a khoản 1 Điều 52, 36, 91, 101 Bộ luật hình sự năm 2015 đề nghị xử phạt từ 06 đến 09 cải tạo không giam giữ.
  • Đối với bị cáo Nguyễn Đức V1: áp dụng khoản 6 Điều 134, điểm s, khoản 1, 2 Điều 51; điểm a khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 đề nghị xử phạt từ 09 đến 12 tháng tù.
  • Đối với bị cáo Nguyễn Hoàng P5, Trần Đình Tùy E, Lê Văn H9 và Đỗ Văn H10: áp dụng khoản 6 Điều 134, điểm s, khoản 1 Điều 51 (riêng Đỗ Văn H10 áp dụng thêm khoản 2 Điều 51); điểm a khoản 1 Điều 52, 36, 91, 101 Bộ luật hình sự năm 2015 đề nghị xử phạt từ 03 đến 06 tháng tù. Áp dụng Điều 56 BLHS để tổng hợp Bản án 43 ngày 17/4/2024 của TAND thị xã Điện Bàn đối với bị cáo Lê Văn H9.
  • Đối với bị cáo Lê Phước H8, Nguyễn Văn D1, Lê Tuấn T13: áp dụng khoản 6 Điều 134, điểm i, s, khoản 1 Điều 51; điểm a khoản 1 Điều 52, 36, 91, 101 Bộ luật hình sự năm 2015 đề nghị xử phạt từ 06 đến 09 cải tạo không giam giữ.
  • Đối với bị cáo Hồ Viết D2: áp dụng khoản 6 Điều 134, điểm i, s, khoản 1, 2 Điều 51; điểm a khoản 1 Điều 52, 36, 91, 101 Bộ luật hình sự năm 2015 đề nghị xử phạt từ 06 đến 09 cải tạo không giam giữ.

2. Về xử lý vật chứng: đề nghị HĐXX căn cứ Điều 106, 107 BLTTHS năm 2015, tuyên:

Tuyên trả lại 01 xe mô tô màu đen, biển số 89H8 – 6659, số khung RLCS5C6106Y021486, số máy 5C61-021486 cho anh Trần Quang V3; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda vision BKS: 43K1 – 50396 cho bà Doãn Thị H7.

Đối với 01 cây kiếm dài 83cm, lưỡi bằng kim loại màu trắng, mũi nhọn sắc bén được bọc lớp vỏ bên ngoài bằng gỗ màu sơn đen; 01 cây sắt tròn dài 250cm, đường kính 02cm, một đầu cây sắc có hàn gắn 03 mũi sắt nhọn, 02 mũi hai bên dài 25cm. 01 mũi ở giữa dài 43cm; 01 con dao bằng kim loại, lưỡi dao dài 38cm, bề mặt lưỡi dao rộng 03cm đến 06cm, phần cán dao bằng kim loại dài 10cm, đường kính 02cm, bề mặt dao sắc cạnh; các mãnh vỡ của võ chai nước ngọt bằng thủy tinh hiệu Pepsi; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Realme, màu xám, IMEI1 869150050917197, IMEI2 869150050917189, số seri 015142553410F4EC, đã bị vỡ màn hình, không còn giá trị sử dụng của Lê Hoài A. Đây là công cụ mà các bị cáo sử dụng để phạm tội nên tịch thu tiêu hủy.

Quan điểm của Luật sư bào chữa cho bị cáo Lê Hoài A, Phạm Đình T2, Bùi Xuân H4, Lê Phước H8, Lương Vĩnh B1, Nguyễn Văn D1, Lê Văn H9, Lê Tuấn T13: Đồng ý với quan điểm của Viện kiểm sát về vấn đề áp dụng pháp luật đối với các bị cáo Lê Hoài A, Phạm Đình T2, Bùi Xuân H4, Lê Phước H8, Lương Vĩnh B1, Nguyễn Văn D1, Lê Văn H9, Lê Tuấn T13. Các bị cáo hiện nay đều có điều kiện hoàn cảnh khó khăn, nhận thấy được hành vi sai phạm của mình, các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bị cáo phạm tội là người chưa thành niên nên hạn chế năng lực nhận thức và điều khiển hành vi. Các bị cáo không phạm tội có tình tiết tăng nặng có tổ chức như quan điểm của đại diện VKSND huyện Đại Lộc tại phiên Toà. Do vậy, người bào chữa đề nghị HĐXX xem xét áp dụng mức hình phạt thấp nhất theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đối với bị cáo bị cáo nêu trên.

Quan điểm của người bào chữa cho bị cáo Phạm Minh T7, Nguyễn Hoàng P5: Đồng ý với quan điểm của Viện kiểm sát về vấn đề áp dụng pháp luật đối với bị cáo Phạm Minh T7, Nguyễn Hoàng P5. Bị cáo T7, P5 có điều kiện hoàn cảnh khó khăn, nhận thấy được hành vi sai phạm của mình, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và các bị cáo không phạm tội có tình tiết tăng nặng là tổ chức như quan điểm của đại diện VKSND huyện Đại Lộc tại phiên Toà vì theo quy định tại khoản 6 Điều 134 BLHS đã quy định tình tiết định khung là thành lập nhóm... nên áp dụng tình tiết tặng nặng phạm tội có tổ chức theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS đối với các bị cáo là không phù hợp với quy định pháp luật. Bị cáo là người chưa thành niên phạm tội nên hạn chế năng lực nhận thức và điều khiển hành vi. Do vậy, người bào chữa đề nghị HĐXX xem xét áp dụng mức hình phạt thấp nhất theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đối với các bị cáo.

Quan điểm của người bào chữa cho bị cáo Lê Ngọc T8: Đồng ý với quan điểm của Viện kiểm sát về vấn đề áp dụng pháp luật đối với bị cáo Lê Ngọc T8. Bị cáo Lê Ngọc T8 có điều kiện hoàn cảnh khó khăn, nhận thấy được hành vi sai phạm của mình, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; không đồng ý với việc áp dụng tình tiết tăng nặng có tổ chức đối với bị cáo. Bị cáo phạm tội do hạn chế năng lực nhận thức và điều khiển hành vi. Do vậy, người bào chữa đề nghị HĐXX xem xét áp dụng mức hình phạt thấp nhất theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đối với bị cáo Lê Ngọc T8.

Quan điểm của người bào chữa cho bị cáo Đỗ Văn H10 và Trần Đình T16 Em: Đồng ý với quan điểm của Viện kiểm sát về vấn đề áp dụng pháp luật đối với bị cáo Đỗ Văn H10 và Trần Đình T16 Em. Bị cáo H10 và bị cáo E có điều kiện hoàn cảnh khó khăn, nhận thấy được hành vi sai phạm của mình, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bị cáo phạm tội do hạn chế năng lực nhận thức và điều khiển hành vi vì là người chưa thành niên phạm tội, không đồng ý với việc áp dụng tình tiết tăng nặng có tổ chức đối với bị cáo. Do vậy, người bào chữa đề nghị HĐXX xem xét áp dụng mức hình phạt thấp nhất theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đối với bị cáo H10 và bị cáo E.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, khai báo phù hợp với bị cáo và nội dung Cáo trạng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:

Tại phiên tòa các bị cáo thừa nhận trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử không bị ép cung, mớm cung, dùng nhục hình mà đã được Điều tra viên, Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử phổ biến về quyền, nghĩa vụ của mình trong từng giai đoạn tố tụng và tự khai báo về hành vi phạm tội của mình. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội đồng xét xử trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1]. Về tội danh và khung hình phạt: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Lê Hoài A, Phạm Đình T2, Nguyễn Văn Trung K, Vũ Đình T5, Lưu Thành T6, Lương Vĩnh B1, Phạm Minh T7, Bùi Xuân H4, Lê Ngọc T8, Nguyễn Đức V1, Nguyễn Hoàng P5, Trần Đình Tùy E, Lê Phước H8, Lê Văn H9, Nguyễn Văn D1, Lê Tuấn T13, Đỗ Văn H10, Hồ Viết D2 đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa.

Hội đồng xét xử có cơ sở xác định được:

Do có mâu thuẫn trước đó giữa Lê Hoài A và Nguyễn Hữu T19 nên ngày 04/6/2023 Anh đã trao đổi, bàn bạc cùng Phạm Đình T2, Nguyễn Văn Trung K, Vũ Đình T5, Lưu Thành T6, Lương Vĩnh B1, Phạm Minh T7, Bùi Xuân H4, Lê Ngọc T8, Nguyễn Đức V1, Nguyễn Hoàng P5, Trần Đình Tùy E, Lê Phước H8, Lê Văn H9, Nguyễn Văn D1, Lê Tuấn T13, Đỗ Văn H10 và Hồ Viết D2 sử dụng xe mô tô và hung khí mục đích đi tìm Nguyễn Hữu T19 để gây thương tích, tuy nhiên trên đường đi đến xã Đ, huyện Đ thì bị lực lượng Công an huyện Đ phát hiện, ngăn chặn kịp thời.

Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lê Hoài A, Phạm Đình T2, Nguyễn Văn Trung K, Vũ Đình T5, Lưu Thành T6, Lương Vĩnh B1, Phạm Minh T7, Bùi Xuân H4, Lê Ngọc T8, Nguyễn Đức V1, Nguyễn Hoàng P5, Trần Đình Tùy E, Lê Phước H8, Lê Văn H9, Nguyễn Văn D1, Lê Tuấn T13, Đỗ Văn H10 và Hồ Viết D2 phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 6 Điều 134 Bộ luật hình sự 2015 như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Lộc truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[2.2] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo thì thấy:

Các bị cáo nhận thức được rằng sức khỏe của người khác, đã sử dụng hung khí nguy hiểm, bàn bạc thành lập nhóm tội phạm nhằm gây thương tích cho người khác đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” được quy định tại khoản 6 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015. Các bị cáo phạm tôi có tình tiết tăng nặng là có tổ chức (theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 52 BLHS). Hành vi của các bị cáo không chỉ nhằm mục đích xâm phạm sức khoẻ của ngời khác mà còn xâm phạm nghiêm trọng trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Trong vụ án này bị cáo Lê Hoài A là người chủ mưu cầm đầu, tiếp đến là vai trò thực hành tích cực của các bị cáo Vũ Đình T5, Phạm Đình T2, Nguyễn Văn Trung K, Lưu Thành T6 và các bị cáo khác. Trong vụ án này các bị cáo có nhân thân xấu là bị cáo Lê Hoài A có nhân thân ngày 25/10/2021 bị Công an xã Đ, huyện Đ xử phạt hành chính “cảnh cáo” về hành vi đánh nhau. Bị cáo Vũ Đình T5 nhân thân bị TAND thị xã Điện Bàn xử phạt 02 năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, theo quy định tại khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự và ngày 31/12/2021, bị Công an thị xã Đ xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.250.000 đồng với hành vi tàng trữ hung khí nhằm mục đích gây thương tích. Bị cáo Phạm Đình T2 nhân thân vào ngày 17/5/2024, bị TAND thị xã Điện Bàn xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, theo quy định tại khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự. Bị cáo Nguyễn Văn Trung K có tiền sự vào ngày 01/10/2022, Công an huyện Đ xử phạt hành chính số tiền 3.250.000 đồng về hành vi “Cố ý gây thương tích”. Bị cáo Nguyễn Đức V1 có nhân thân vào ngày 03/01/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện N khởi tố bị can về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự. Bị cáo Nguyễn Hoàng P5, Trần Đình Tùy E, Đỗ Văn H10 đều có nhân thân là vào ngày 23/6/2024, bị TAND huyện Đại Lộc xử phạt về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự. Bị cáo Lưu Thành T6 có nhân thân vào ngày 18/9/2023 bị TAND thị xã Điện Bàn tuyên phạt 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự, thời gian thử thách là 12 tháng (tính từ ngày 18/9/2023). Bị cáo Lê Văn H9 bị Toà án nhân dân huyện Điện Bàn xử phạt 01 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Các bị cáo nêu trên có nhân thân xấu mà không chịu tu dưỡng, rèn luyện nên cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc mới có tác dụng ren đe và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, xét thấy quá trình điều tra và tại phiên toà các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, gia đình có hoàn cảnh khó khăn nên xem xét giảm nhẹ cho các bị cáo một phần hình phạt khi lượng hình là phù hợp với quy định pháp luật.

Các bị cáo Lê Hoài A, Phạm Đình T2, Bùi Xuân H4, Lê Phước H8, Lương Vĩnh B1, Nguyễn Văn D1, Lê Văn H9, Lê Tuấn T13, Phạm Minh T7, Lê Ngọc T8, Đỗ Văn H10, Trần Đình Tùy E (có người thân tham gia cách mạng), Nguyễn Hoàng P5 khi phạm tội các bị cáo chưa đủ 18 tuổi nên áp dụng các nguyên tắc quy định tại Điều 91 và khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự cho các bị cáo một hình phạt cao nhất được áp dụng không quá ba phần tư mức phạt mà điều luật quy định. Để bảo đảm lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi và chủ yếu nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm.

Bị cáo Bùi Xuân H4 hiện đang là sinh viên, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng. có đủ các điều kiện để được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự nên không cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà giao bị cáo về chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục cũng đảm bảo tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung và để tạo điều kiện cho bị cáo tiếp tục con đường học tập của mình là phù hợp.

Đối với các bị cáo Lương Vĩnh B1, Phạm Minh T7, Lê Ngọc T8, Lê Phước H8, Nguyễn Văn D1, Lê Tuấn T13, Hồ Viết D2 đều là người giúp sức trong vụ án đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể, các bị cáo đều phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nhân thân tốt; bị cáo Hồ Viết D2 có người tham gia cách mạng như Hồ Viết D2, các bị cáo có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng, nên áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ và giao các bị cáo về chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục cũng đảm bảo tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Các bị cáo là vị thành niên, không có nghề nghiệp nên không khấu trừ thu nhập hằng tháng là phù hợp với quy định pháp luật.

- Xử lý vật chứng: HĐXX cần áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015,

T22 trả lại các vật chứng sau:

  • 01 xe mô tô màu đen, biển số 89H8 – 6659, số khung RLCS5C6106Y021486, số máy 5C61-021486.
  • 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda vision BKS: 43K1 – 50396.

Tuyên tịch thu tiêu huỷ:

  • 01 cây kiếm dài 83cm, lưỡi bằng kim loại màu trắng, mũi nhọn sắc bén được bọc lớp vỏ bên ngoài bằng gỗ màu sơn đen.
  • 01 cây sắt tròn dài 250cm, đường kính 02cm, một đầu cây sắc có hàn gắn 03 mũi sắt nhọn, 02 mũi hai bên dài 25cm. 01 mũi ở giữa dài 43cm.
  • 01 con dao bằng kim loại, lưỡi dao dài 38cm, bề mặt lưỡi dao rộng 03cm đến 06cm, phần cán dao bằng kim loại dài 10cm, đường kính 02cm, bề mặt dao sắc cạnh.
  • Các mãnh vỡ của võ chai nước ngọt bằng thủy tinh hiệu Pepsi.
  • 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Realme, màu xám, IMEI1 869150050917197, IMEI2 869150050917189, số seri 015142553410F4EC, đã bị vỡ màn hình, đã qua sử dụng của Lê Hoài A.

( Vật chứng hiện đang được niêm phong và do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đại Lộc quản lý).

* Các vấn đề khác trong vụ án:

  • Nguyễn Hữu Hoàng P5 và Phạm Văn T17 tham gia đi đánh nhau với nhóm Nguyễn Hữu T19, tuy nhiên khi thực hiện hành vi chưa đủ 16 tuổi nên chưa đủ chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 12 Bộ luật Hình sự năm 2015. Vì vậy, Cơ quan CSĐT chuyển hồ sơ cho Công an huyện Đ ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính với hình thức phạt “cảnh cáo” là có cơ sở.
  • Nguyễn Văn S2 và Hứa Đại T18 (chưa đủ 16 tuổi) mặc dù ban đầu thống nhất cùng tham gia đi đánh nhau với nhóm Nguyễn Hữu T19, tuy nhiên khi cả hai đến cầu Q thì không tham gia mà ra về nên thuộc trường hợp tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội, mặc khác T19 chưa đủ 16 tuổi. Vì vậy, hành vi của S2 và T19 chưa đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”, theo khoản 6, Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015.
  • Võ Duy T20 khi đến quán L5 để uống nước thì gặp Đỗ Văn H10 và Hồ Viết D2 đang còn ngồi lại trong quán nên H10 và D2 nhờ T20 sử dụng xe môtô chở H10 và D2 chạy theo sau nhóm Lê Hoài A, T20 không biết mục đích các bị can tụ tập để đi đánh nhau trước khi bị phát hiện. Khi T20 chở H10 và D2 theo kịp nhóm của Anh thì T20 phát hiện thấy đông người có mang theo hung khí nên lo sợ và bỏ về. Do đó, không xem xét xử lý là phù hợp.
  • Đối với xe môtô BKS: 92E1-606.48 do Nguyễn Hoàng P5 sử dụng; xe môtô BKS: 92E1-644.50 do Nguyễn Văn Trung K sử dụng; xe môtô BKS: 92D1-434.38 do Lưu Thành T6 sử dụng; xe môtô BKS: 92E1-639.90 do Lê Ngọc T8 sử dụng, xe môtô BKS: 92D1-878.00 do Lê Văn H9 sử dụng, xe môtô BKS: 98H8-6659 do Lê Phước H8 sử dụng, xe môtô BKS: 92E1-606.48 do Nguyễn Đức V1 sử dụng, xe môtô BKS: 43K1-503.96 do Vũ Đình T5 sử dụng sử dụng qua điều tra xác định do các bà Doãn Thị H7 (sinh năm 1980, trú thôn M, xã Đ, huyện Đ), bà Trần Thị Lệ T4 (sinh năm 1982, trú tại khu P, thị trấn Á, huyện Đ), anh Trần Cảnh T23 (sinh năm 1992, trú tại khối phố B, phường V, thị xã Đ), ông Lê Ngọc P2 (sinh năm 1981, trú tại thôn Đ, xã Đ, huyện Đ), anh Lê Văn M1 (sinh năm 1994, trú tại khối phố N, phường Đ, thị xã Đ), anh Trần Quang V3 (sinh năm 1991, trú tại tổ dân phố G, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum), chị Thái Thị H6 (sinh năm 1980, trú tại thôn M, xã Đ, huyện Đ), bà Ngô Thị H15 (sinh năm 1974, trú tại Đ, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng) là chủ sở hữu. Khi Nguyễn Hoàng P5, Nguyễn Văn Trung K, Lưu Thành T6, Lê Ngọc T8, Lê Văn H9, Lê Phước H8, Nguyễn Đức V1 và Vũ Đình T5 sử dụng, chủ sở hữu không biết sử dụng vào việc thực hiện hành vi phạm tội nên không xem xét xử lý.

[4] Về án phí: Bị mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 01 của Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

+ Căn cứ: khoản 6 Điều 134, điểm i, s, khoản 1 Điều 51; điểm a khoản 1 Điều 52, Điều 38 BLHS đối với Nguyễn Văn Trung K, Vũ Đình T5.

+ Căn cứ: khoản 6 Điều 134, điểm i, s, khoản 1 Điều 51; điểm a khoản 1 Điều 52, 91, 101, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 đối với bị cáo Phạm Đình T2.

+ Căn cứ: khoản 6 Điều 134, điểm i, s, khoản 1 khoản 2 Điều 51; điểm a khoản 1 Điều 52, 38, 91, 101 Bộ luật hình sự năm 2015 Đối với bị cáo Lê Hoài A, Nguyễn Hoàng P5, Trần Đình Tùy E, Lê Văn H9 và Đỗ Văn H10.

+ Căn cứ: khoản 6 Điều 134, điểm s, khoản 1 Điều 51; điểm a khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 đối với Lưu Thành T6.

+ Căn cứ: khoản 6 Điều 134, điểm i, s, khoản 1 khoản 2 Điều 51; điểm a khoản 1 Điều 52, 36, 91, 101, Điều 36 Bộ luật hình sự năm 2015 đối với bị cáo Lê Ngọc T8, Lê Phước H8, Hồ Viết D2, Phạm Minh T7, Lương Vĩnh B1.

+Căn cứ: khoản 6 Điều 134, điểm i, s, khoản 1, 2 Điều 51; điểm a khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 đối với Nguyễn Đức V1.

+ Căn cứ: khoản 6 Điều 134, điểm i, s, khoản 1 Điều 51; điểm a khoản 1 Điều 52, 36, 91, 101, Điều 36 Bộ luật hình sự năm 2015 đối với bị cáo Nguyễn Văn D1, Lê Tuấn T13.

+ Căn cứ: khoản 6 Điều 134, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm a khoản 1 Điều 52 và Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Bùi Xuân H4.

- Tuyên bố: Các bị cáo Lê Hoài A, Phạm Đình T2, Nguyễn Văn Trung K, Vũ Đình T5, Lưu Thành T6, Lương Vĩnh B1, Phạm Minh T7, Bùi Xuân H4, Lê Ngọc T8, Nguyễn Đức V1, Nguyễn Hoàng P5, Trần Đình Tùy E, Lê Phước H8, Lê Văn H9, Nguyễn Văn D1, Lê Tuấn T13, Đỗ Văn H10, Hồ Viết D2 phạm tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại khoản 6 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015.

- Xử phạt:

  1. Xử phạt bị cáo Lê Hoài A 15 ( mười lăm) tháng tù.

    Thời hạn chấp hành hình phạt: tính từ ngày bắt giam thi hành án nhưng được khấu trừ thời hạn bị cáo đã bị tạm giữ từ ngày 08/6/2023 đến ngày 14/6/2023.

  2. Xử phạt bị cáo Phạm Đình T2 12 (mười hai) tháng tù.

    *Tổng hợp hình phạt:

    Áp dụng khoản 1 Điều 56 Bộ luật hình sự: Buộc bị cáo Phạm Đình T2 phải chấp hành hình phạt chung cho bản án này và bản án số 53/2024/HS-ST ngày 17/5/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam ( xử phạt bị cáo Phạm Đình T2 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù) là 02 (năm ) năm 06 (sáu) tháng tù.

    Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt tạm giam ngày 06/7/2023.

  3. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Trung K 12 (mười hai) tháng tù.

    Thời hạn chấp hành hình phạt: tính từ ngày bắt giam thi hành án nhưng được khấu trừ thời hạn bị cáo đã bị tạm giữ từ ngày 09/6/2023 đến ngày 14/6/2023.

  4. Xử phạt bị cáo Vũ Đình T5 15 (mười lăm) tháng tù.

    *Tổng hợp hình phạt:

    Áp dụng khoản 1 Điều 56 Bộ luật hình sự: Buộc bị cáo Vũ Đình T5 phải chấp hành hình phạt chung cho bản án này và bản án số 53/2024/HS-ST ngày 17/5/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam ( xử phạt bị cáo Vũ Đình T5 02 (hai) năm tù) là 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù.

    Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt đi thi hành án nhưng được trừ thời gian bị tạm giữ, tạm giam trước đó (từ ngày 19/6/2023 đến ngày 17/8/2023).

  5. Xử phạt bị cáo Lưu Thành T6 09 (chín) tháng tù.

    Thời hạn chấp hành hình phạt: tính từ ngày bắt giam thi hành án.

  6. Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức V1 09 (chín) tháng tù.

    Thời hạn chấp hành hình phạt: tính từ ngày bắt giam thi hành án.

  7. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng P5 03 (ba) tháng tù

    Thời hạn chấp hành hình phạt: tính từ ngày bắt giam thi hành án.

  8. Xử phạt bị cáo Trần Đình T16 Em 03 (ba) tháng tù

    Thời hạn chấp hành hình phạt: tính từ ngày bắt giam thi hành án.

  9. Xử phạt bị cáo Đỗ Văn H10 03 (ba) tháng tù.

    Thời hạn chấp hành hình phạt: tính từ ngày bắt giam thi hành án.

  10. Xử phạt bị cáo Lê Văn H9 03 (ba) tháng tù.

    *Tổng hợp hình phạt:

    Áp dụng khoản 1 Điều 56 Bộ luật hình sự: Buộc bị cáo Lê Văn H9 phải chấp hành hình phạt chung cho bản án này và bản án số 43/2024/HS-ST ngày 17/4/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam ( xử phạt bị cáo Lê Văn H9 01 (một) năm tù) là 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù.

    Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt giam thi hành án.

  11. Xử phạt bị cáo Bùi Xuân H4 06 (sáu) tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 01/7/2024).

    Giao bị cáo Bùi Xuân H4 cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

    Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  12. Xử phạt bị cáo Lương Vĩnh B1 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ nhưng được khấu trừ thời hạn bị cáo đã bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/6/2023 đến ngày 14/6/2023.

    Giao bị cáo Lương Vĩnh B1 cho UBND phường V, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam giám sát, giáo dục.

    Thời hạn cải tạo không giam giữ của bị cáo Lưu Vĩnh B3: Tính từ ngày cơ quan giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

  13. Xử phạt bị cáo Phạm Minh T7 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ.

    Giao bị cáo Phạm Minh T7 cho UBND thị trấn Á, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam giám sát, giáo dục.

    Thời hạn cải tạo không giam giữ của bị cáo Phạm Minh T7: Tính từ ngày cơ quan giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

  14. Xử phạt bị cáo Lê Ngọc T8 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ.

    Giao bị cáo Lê Ngọc T8 cho UBND xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam giám sát, giáo dục.

    Thời hạn cải tạo không giam giữ của bị cáo Lê Ngọc T8: Tính từ ngày cơ quan giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

  15. Xử phạt bị cáo Lê Phước H8 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ nhưng được khấu trừ thời hạn bị cáo đã bị tạm giữ từ ngày 05/6/2023 đến ngày 14/6/2023.

    Giao bị cáo Lê Phước H8 cho UBND xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam giám sát, giáo dục.

    Thời hạn cải tạo không giam giữ của bị cáo Lê Phước H8: Tính từ ngày cơ quan giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

  16. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D1 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ.

    Giao bị cáo Nguyễn Văn D1 cho UBND phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam giám sát, giáo dục.

    Thời hạn cải tạo không giam giữ của bị cáo Nguyễn Văn D1: Tính từ ngày cơ quan giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

  17. Xử phạt bị cáo Lê Tuấn T13 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ.

    Giao bị cáo Lê Tuấn T13 cho UBND xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam giám sát, giáo dục.

    Thời hạn cải tạo không giam giữ của bị cáo Lê Tuấn T13: Tính từ ngày cơ quan giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

  18. Xử phạt bị cáo Hồ Viết D2 06 (sáu ) tháng cải tạo không giam giữ.

    Giao bị cáo Hồ Viết D2 cho UBND xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam giám sát, giáo dục.

    Thời hạn cải tạo không giam giữ của bị cáo Hồ Viết D2: Tính từ ngày cơ quan giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

-Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

+ Tuyên trả lại 01 xe mô tô màu đen, biển số 89H8 – 6659, số khung RLCS5C6106Y021486, số máy 5C61-021486 cho ông Trần Quang V3; trả 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda vision BKS: 43K1 – 50396 cho bà Doãn Thị H7.

+ Tuyên tịch thu tiêu huỷ: Đối với 01 cây kiếm dài 83cm, lưỡi bằng kim loại màu trắng, mũi nhọn sắc bén được bọc lớp vỏ bên ngoài bằng gỗ màu sơn đen; 01 cây sắt tròn dài 250cm, đường kính 02cm, một đầu cây sắc có hàn gắn 03 mũi sắt nhọn, 02 mũi hai bên dài 25cm. 01 mũi ở giữa dài 43cm; 01 con dao bằng kim loại, lưỡi dao dài 38cm, bề mặt lưỡi dao rộng 03cm đến 06cm, phần cán dao bằng kim loại dài 10cm, đường kính 02cm, bề mặt dao sắc cạnh; các mảnh vỡ của vỏ chai nước ngọt bằng thủy tinh hiệu Pepsi; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Realme, màu xám, IMEI1 869150050917197, IMEI2 869150050917189, số seri 015142553410F4EC, đã bị vỡ màn hình, đã qua sử dụng không còn giá trị sử dụng của Lê Hoài A.

(các vật chứng trên hiện đang được niêm phong và do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đại Lộc quản lý).

- Về án phí: Buộc các bị cáo Lê Hoài A, Phạm Đình T2, Nguyễn Văn Trung K, Vũ Đình T5, Lưu Thành T6, Lương Vĩnh B1, Phạm Minh T7, Bùi Xuân H4, Lê Ngọc T8, Nguyễn Đức V1, Nguyễn Hoàng P5, Trần Đình Tùy E, Lê Phước H8, Lê Văn H9, Nguyễn Văn D1, Lê Tuấn T13, Đỗ Văn H10, Hồ Viết D2 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện hợp pháp, người bào chữa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người đại diện hợp pháp vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

- TAND tỉnh Q.Nam;

- VKSND H. Đại Lộc;

- Công an H. Đại Lộc;

- Bị cáo, bị hại, người TGTT khác;

- Chi cục THADS H.Đại Lộc;

- Vụ GDDKT1 – TANDTC;

- Lưu hồ sơ;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Thị Hồng Phượng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 33/2024/HSST ngày 01/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI LỘC, TỈNH QUẢNG NAM về hình sự: cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 33/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 01/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI LỘC, TỈNH QUẢNG NAM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: LE HOAI ANH PHẠM TÔI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TICH
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger