Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH PHÚ YÊN

Bản án số: 33/2025/HS-PT

Ngày: 03/4/2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thái Lan.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Việt Hùng và ông Võ Nguyên Tùng.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Quang – Thư ký viên Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Minh Tâm – Kiểm sát viên Trung cấp.

Ngày 03 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 07/2025/TLPT-HS ngày 20 tháng 01 năm 2025 do có kháng cáo của bị cáo Trương Hoài H đối với Bản án Hình sự sơ thẩm số: 131/2024/HS-ST ngày 19/12/2024 của Tòa án nhân dân TP. Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.

- Bị cáo có kháng cáo: Trương Hoài H, tên gọi khác: Ô S, sinh năm 1984 tại tỉnh Phú Yên. Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: Khu phố P, phường I, thành phố T, tỉnh Phú Yên; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Giới tính: Nam; Cha: Trương C, sinh năm 1962 và mẹ: Trần Thị Thu H1 (chết); Vợ Trần Thị V, sinh năm 2003; Có 03 con, lớn nhất sinh năm 2008 và nhỏ nhất sinh năm 2024;

Tiền án: Ngày 19/9/2012, bị Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa xử phạt 08 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, theo quy định tại khoản 2 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999 (tại Bản án số 104/2012/HSST). Chấp hành xong hình phạt tù ngày 27/4/2018.

Tiền sự: Ngày 18/5/2023, bị Ủy ban nhân dân thị xã Đ xử phạt hành chính, phạt tiền 1.750.000 đồng về hành vi gây mất trật tự công cộng.

Nhân thân: Ngày 07/01/2020, bị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên xử phạt 01 năm tù về tội Đánh bạc, theo quy định tại khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/01/2021; Ngày 06/3/2020, bị Công an thành phố T xử phạt hành chính, phạt tiền 2.500.000 đồng về hành vi cố ý gây thương tích; Ngày 25/01/2022, bị Công an P, thành phố T xử phạt hành chính, phạt tiền 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 22/5/2024. Có mặt tại phiên tòa.

* Người bào chữa cho bị cáo H: Luật sư Ngô Minh T – Văn phòng L - Đoàn luật sư tỉnh P. Địa chỉ: B N, phường E, thành phố T, Tỉnh Phú Yên, Việt Nam. Có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 01 giờ ngày 17/8/2023, Huỳnh Ngọc T1 là chủ quán K ở địa chỉ H Y thuộc phường B, thành phố T nảy sinh ý định sử dụng ma túy nên gọi điện thoại rủ Trương Hoài H đến sử dụng ma túy, H đồng ý. T1 liên hệ qua điện thoại với một người phụ nữ tên "Bé nhỏ Hà Nội" nhờ gọi 02 nữ đến dìu bay, người này gọi cho Nguyễn Thị M và Nguyễn Thị Bích N đến dìu bay cho T1 và H. Tiếp đó, T1 liên hệ người tên T2 (không rõ địa chỉ, lai lịch) mua 02 chấm ma túy khay và 02 viên thuốc lắc với giá 1.700.000 đồng, người này đến giao ma túy cho T1. T1, H, N và M lên phòng VIP 306 quán karaoke The Q. Tại Phòng 306 T1 đã trang bị sẵn loa, đèn, nước uống, đĩa sứ để sử dụng ma túy. T1 đưa cho M bì nylon đựng ma túy khay và 02 viên thuốc lắc để M chuẩn bị ma túy, M dùng quẹt gas đốt nóng đĩa sứ, đổ bì ma túy khay ra đĩa sứ và cầm thẻ nhựa màu đen xào, nghiền mịn ma túy khay. N nói “sao chưa vô kẹo” nghĩa là sao chưa sử dụng thuốc lắc, M lấy 01 viên thuốc lắc đưa cho N, N dùng miệng cắn thành 02 mảnh đưa lại cho M, M đưa cho T1 và H mỗi người một mảnh uống với nước Cocacola. M lấy 01 viên thuốc lắc còn lại dùng miệng cắn thành 02 mảnh, N lấy 01 mảnh viên thuốc lắc nhưng không sử dụng mà cất vào túi xách của N, còn lại 01 mảnh viên thuốc lắc M lấy cất vào trong túi xách của M. N dùng thẻ nhựa kẻ thành 04 đường ma túy khay trên đĩa sứ để sử dụng. T1 đưa tờ tiền polyme mệnh giá 10.000 đồng cho M làm ống hít ma túy khay, M đưa tờ tiền cho N. N lấy 03 vỏ đầu lọc thuốc lá quấn tròn tờ tiền để gắn 01 vỏ đầu lọc thuốc lá với tờ tiền và 02 vỏ đầu lọc còn lại nhưng không gắn được, H nói N đưa H làm. N đưa tờ tiền và 03 vỏ đầu lọc thuốc lá cho H quấn làm ống hít ma túy khay. H cuộn tròn tờ tiền, gắn 03 vỏ đầu lọc thuốc lá vô tờ tiền cuộn tròn làm thành ống hút rồi để lên đĩa sứ để sử dụng hít ma túy khay. T1, H lần lượt lấy ống hút hít ma túy khay trong đĩa sứ. M và N không sử dụng ma túy.

Khoảng 02 giờ 35 phút cùng ngày, cơ quan Công an kiểm tra phát hiện tại phòng 306 quán K có T1, M, H và N đang tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, thu giữ đĩa sứ màu trắng có thẻ nhựa và bột màu trắng, 01 bì nylon có chất bột màu trắng; 01 túi xách bằng da màu trắng của Nguyễn Thị M bên trong có 01 mảnh viên nén màu xanh; 01 túi xách bằng da màu đen của Nguyễn Thị Bích N bên trong có 01 mảnh viên nén màu xanh và các đồ vật liên quan đến việc sử dụng ma túy. Thử nhanh bằng que thử ma túy, T1 và H dương tính với ma túy loại Ketamine và MDMA; M và Ngọc âm T3. Cơ quan Công an tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với T1 và M về hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.

Tại bản kết luận giám định số 432/KL-KTHS ngày 24/8/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh P kết luận: Mảnh viên nén màu xanh tạm giữ của Nguyễn Thị M là ma túy loại MDMA, có khối lượng 0,180gam; Mảnh viên nén màu xanh tạm giữ của Nguyễn Thị Bích N là ma túy loại MDMA, có khối lượng 0,175gam; Chất bột màu trắng trên đĩa sứ là ma túy loại Ketamine, có khối lượng 1,073 gam; Chất bột màu trắng trong bì nylon là ma túy loại Ketamine, có khối lượng 0,012 gam; Chất bột màu trắng bám dính trên thẻ nhựa và chất bột màu trắng bám dính trên ống được quấn bằng tờ tiền là ma túy loại Ketamine, vì lượng bám dính ít nên không xác định được khối lượng.

Tại Bản án Hình sự sơ thẩm số: 131/2024/HS-ST ngày 19/12/2024 của Tòa án nhân dân TP. Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên đã tuyên bị cáo Trương Hoài H phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm b, h khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Xử phạt: Bị cáo Trương Hoài H 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 22/5/2024.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên xử phạt bị cáo Huỳnh Ngọc T1 08 (tám) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”, bị cáo Nguyễn Thị M 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, bị cáo Nguyễn Thị Bích N 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, về phần xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của những người tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật.

Ngày 23/12/2024, bị cáo Trương Hoài H có đơn kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa, bị cáo Trương Hoài H vẫn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ đã tuyên và giữ nguyên kháng cáo.

Người bào chữa cho bị cáo H là Luật sư Ngô Minh T trình bày: Bị cáo phạm tội với vai trò là đồng phạm giúp sức, tại phòng 306, bị cáo có hành vi cuộn tròn tờ tiền, gắn 03 vỏ đầu lọc thuốc lá vô tờ tiền cuộn tròn làm thành ống hút rồi để lên đĩa sứ làm dụng cụ cho cả nhóm sử dụng ma túy khay. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Kiểm sát viên phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trương Hoài H – Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, lời khai nhận tội của bị cáo Trương Hoài H tại Cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm đều phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của các bị cáo khác, người làm chứng, phù hợp với kết luận giám định, biên bản khám nghiệm hiện trường, bản ảnh và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 01 giờ ngày 17/8/2023, tại phòng 306 quán K thuộc phường B, thành phố T do Huỳnh Ngọc T1 làm chủ, T1 đã có hành vi rủ Trương Hoài H, Nguyễn Thị Bích N và Nguyễn Thị M sử dụng ma túy; T1 cung cấp ma túy, chuẩn bị địa điểm, chuẩn bị dụng cụ để sử dụng ma túy; Nguyễn Thị Bích N và Nguyễn Thị M có hành vi chuẩn bị ma túy, dụng cụ, làm ống hút, xào kẽ, bẻ nhỏ ma túy; Trương Hoài H có hành vi lấy tờ tiền và đầu lọc thuốc lá làm ống hút ma túy để cùng với T1, M, N tổ chức cho T1, H, M và N sử dụng trái phép chất ma túy thì bị bắt quả tang. Nguyễn Thị M có hành vi tàng trữ 0,180gam ma túy loại MDMA và Nguyễn Thị Bích N có hành vi tàng trữ 0,175gam ma túy loại MDMA mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy.

Bị cáo Trương Hoài H ngày 19/9/2012, bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa xử phạt 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 27/4/2018 chưa được xóa án tích. Đến ngày 07/01/2020, bị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên xử phạt 01 năm tù về tội Đánh bạc, theo quy định tại khoản 2 Điều 321; Điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự (phạm tội thuộc trường hợp tái phạm), chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/01/2021. Vì vậy, lần phạm tội này của bị cáo H thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Do đó, cấp sơ thẩm truy tố, xét xử bị cáo Trương Hoài H về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại b, h khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng tội.

[2] Xét kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về việc sử dụng ma tuý vào các mục đích chữa bệnh, xâm phạm đến sức khoẻ của người sử dụng ma tuý và trật tự an toàn xã hội. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo biết rõ tác hại của việc sử dụng ma tuý có thể phá huỷ hệ thần kinh con người, khiến người sử dụng lệ thuộc vào chất ma tuý, quá trình sử dụng ma tuý gây ra ảo giác, ngáo đá gây ảnh hưởng đến chính bản thân và những người xung quanh, là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tệ nạn xã hội và các tội phạm khác nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện nên cần xử phạt nghiêm, mới đảm bảo tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa tội phạm. Khi lượng hình, bản án sơ thẩm xem xét nhân thân cũng như nguyên nhân, điều kiện phạm tội và áp dụng đúng, đầy đủ tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng. Tuy nhiên, mức hình phạt bản án sơ thẩm xử phạt bị cáo Trương Hoài H 08 (Tám) năm 06 (Sáu) tháng tù là có phần nghiêm khắc vì bị cáo phạm tội do bị T1 rủ rê, lôi kéo. Quá trình tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, bị cáo H có hành vi lấy tờ tiền và đầu lọc thuốc lá làm thành ống hút ma túy để cả nhóm cùng sử dụng nên tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra thấp hơn so với bị cáo T1. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn hối cải. Bị cáo có 03 con, trong đó có 01 con nhỏ sinh năm 2024. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giảm cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo, sớm trở thành người công dân tốt, có ích cho xã hội.

[3] Bị cáo kháng cáo được chấp nhận nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo hoặc kháng nghị nên cấp phúc thẩm không xem xét.

VÌ CÁC LẼ TRÊN,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điểm b, Khoản 1, Điều 355; Điểm c, khoản 1, Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trương Hoài H – Sửa bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo H.

Tuyên bố: Bị cáo Trương Hoài H phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý ".

Áp dụng điểm b, h khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Trương Hoài H 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 22/5/2024.

Về án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Trương Hoài H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND Cấp cao tại Đà Nẵng;
  • - VKSND Cấp cao tại Đà Nẵng;
  • - VKSND tỉnh Phú Yên (2);
  • - Phòng HSNV tỉnh Phú Yên;
  • - TAND TP. T (2);
  • - CQ CSĐT CA. Tỉnh Phú Yên;
  • - VKSND TP. T;
  • - Chi cục THADS TP. T;
  • - P. KTNV- THAHS; Bị cáo, NTGTT, Lưu THS, AV.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Thái Lan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 33/2025/HS-PT ngày 03/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN về hình sự phúc thẩm (về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý)

  • Số bản án: 33/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 03/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tổ chức sử dụng ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger