|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 33/2024/HNGĐ-PT Ngày: 14/10/2024 V/v: Chia tài sản sau ly hôn |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ
Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Dung.
Thẩm phán: Bà Lê Thị Tân
Bà Lê Thị Tố Như
Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Phi – Thư ký TAND tỉnh Thanh Hóa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham dự phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Nguyên - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 10 năm 2024 tại Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 18/2024/TLPT-DSPT ngày 11 tháng 7 năm 2024 về việc “Chia tài sản sau ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2024/QĐ-PT ngày 06 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H – sinh năm: 1982; Có mặt.
Địa chỉ: Thôn K, xã Q, TP S, tỉnh Thanh Hóa.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị C, ông Lê Ngọc T, bà Bùi Thị Bích P – Công ty L1, Đoàn Luật sư tỉnh T. Có mặt.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Hữu N – sinh năm: 1983; Có mặt.
Địa chỉ: Thôn K, xã Q, TP S, tỉnh Thanh Hóa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Quỹ tín dụng nhân dân Q (Vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn H, xã Q, TP S, tỉnh Thanh Hóa.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Văn H1 – Chủ tịch HĐQT
- Bà Lê Thị H2 – sinh năm: 1993 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn K, xã Q, TP S, tỉnh Thanh Hóa.
- Quỹ tín dụng nhân dân Q (Vắng mặt).
- Người làm chứng: Ông Nguyễn Hữu V – sinh năm: 1944 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn K, xã Q, TP S, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Trong đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Nguyễn Thị H trình bày:
Bà H và ông Nguyễn Hữu N trước đây là vợ chồng, do cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc nên ông bà ly hôn và được Tòa án nhân dân thành phố Sầm Sơn giải quyết tại Quyết định công nhận thuận tình ly hôn số 51/2017/QĐST-HNGĐ ngày 31/7/2017, đối với phần tài sản ông bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình chung sống vợ chồng có tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân là quyền sử dụng đất đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 796, tờ bản đồ số 3, diện tích 115m² mang tên ông Nguyễn Hữu N và bà Nguyễn Thị H, nguồn gốc tài sản trên là do ông bà được tặng cho quyền sử dụng đất đã được Ủy ban nhân dân huyện Q cấp giấy chứng nhận số CB 367083 ngày 21/8/2015, đất có địa chỉ tại thôn K, xã Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa. Theo quyết định số 44/2019/QĐ-UBND ngày 23/12/2019 của Ủy ban nhân dân tỉnh T quy định về bảng giá đất thời kỳ 2020-2024 trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa. Tổng giá trị thửa đất tạm tính là 115m² x 3.500.000đ/m² = 402.500.000 đồng. Tài sản trên đất là 01 ngôi nhà cấp 4, tường gạch mái tôn, diện tích khoảng 60m², xây dựng năm 2009, sửa chửa năm 2019, có giá trị hiện tại khoảng 30.000.000 đồng. Tổng giá trị nhà và đất tạm tính là 432.500.000 đồng. Nay bà đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa chia tài sản chung là nhà và đất nêu trên theo quy định của pháp luật. Đối với 01 ngôi nhà cấp 4, mái tôn xây trên phần đất lưu không rộng 5m, sâu 4m, diện tích 20m² bà H không yêu cầu giải quyết và đề nghị nếu sau này ai quản lý sử dụng sẽ tự nguyện tháo dỡ khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu.
Trong quá trình giải quyết vụ án bà H có thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện như sau: Tài sản trên đất là ngôi nhà cấp 4, mái tôn (rộng 5m, dài 13m) tổng diện tích 65m², xây dựng năm 2009 (trước đây là nhà cấp 4, mái proximang, năm 2019 ông N sửa thành nhà cấp 4, mái tôn xốp, đóng trần); Ngôi nhà hiện nay có giá trị không lớn nên bà H đề nghị phần giá trị bà được hưởng ½ ngôi nhà này thì bà cho lại ông Nguyễn Hữu N và không buộc ông N phải hoàn lại giá trị ½ ngôi nhà cho bà. Đối với thửa đất số 796, tờ bản đồ số 3, diện tích 115m² mang tên ông Nguyễn Hữu N và bà Nguyễn Thị H, nay bà yêu cầu chia đôi, bà đề nghị giao cho ông N được quyền quản lý, sử dụng diện tích đất này và buộc ông N phải hoàn lại giá trị cho bà bằng tiền.
- Bị đơn ông Nguyễn Hữu N trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa trình bày:
Ông N và bà Nguyễn Thị H kết hôn năm 2007 đến năm 2017 thì ly hôn. Sau 10 năm chung sống ông bà đã có 02 người con và tài sản là 115m² đất do bố Nguyễn Hữu V tặng cho, tài sản gắn liền với đất là 01 bán bình 35m² mái proximang. Sau khi ly hôn vợ chồng ông đã thống nhất chỉ phân chia quyền nuôi con mà Tòa án nhân dân thành phố Sầm Sơn công nhận quyết định ngày 31/7/2017. Về tài sản là đất ở do làm ăn thua lỗ nên số nợ ở thời điểm 2007 nhiều hơn giá trị đất và tài sản trên đất nên vợ chồng ông đã thỏa thuận riêng, ông là người ở và được quyền sử dụng lô đất số 796, tờ bản đồ số 3, diện tích 115m² mang tên ông Nguyễn Hữu N và bà Nguyễn Thị H. Về các khoản nợ ở thời điểm 02 vợ chồng ông bà chung sống gồm: Vay ngân hàng, tín dụng và tiền hội phường.
Nay bà H yêu cầu chia tài sản chung sau ly hôn thì ông cũng đồng ý. Nhưng ông N đề nghị giải quyết chia đôi công nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân và mỗi người có trách nhiệm trả một nửa công nợ. Về tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân ông yêu cầu Tòa án giải quyết chia đôi theo quy định của pháp luật. Đối với 01 ngôi nhà cấp 4, mái tôn xây trên phần đất lưu không rộng 5m, sâu 4m, diện tích 20m² ông N không yêu cầu giải quyết và đề nghị nếu sau này ai quản lý sử dụng sẽ tự nguyện tháo dỡ khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Quỹ tín dụng nhân dân Quảng Đại trình bày:
Ngày 04/12/2016 ông Nguyễn Hữu N và bà Nguyễn Thị H ở thôn K, xã Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa có thế chấp vay tại Quỹ tín dụng nhân dân Quảng Đại số tiền 100.000.000 đồng, tài sản thế chấp là khu đất có giấy chứng nhận số CB 367083 do Ủy ban nhân dân huyện Q cấp ngày 21/8/2015 mang tên Nguyễn Hữu N và bà Nguyễn Thị H. Đến ngày 15/12/2017 ông Nguyễn Hữu N trả hết số nợ trên và có đăng ký vay lại. Ngày 18/12/2017 ông Nguyễn Hữu N vay lại Quỹ tín dụng Quảng Đại số tiền 100.000.000 đồng, người cùng vay vốn là ông Nguyễn Hữu V. Ngày 18/12/2018 ông Nguyễn Hữu N trả hết số nợ trên. Ngày 19/12/2019 ông Nguyễn Hữu N vay lại Quỹ tín dụng Quảng Đại số tiền 60.000.000 đồng tín chấp bằng tài sản vẫn là khu đất có giấy chứng nhận số CB 367083 do Ủy ban nhân dân huyện Q cấp ngày 21/8/2015 mang tên Nguyễn Hữu N và bà Nguyễn Thị H. Đối với khoản vay 60.000.000 đồng này của ông Nguyễn Hữu N chưa đến hạn trả nợ, nên Q tín dụng nhân dân Quảng Đại không yêu cầu ông Nguyễn Hữu N trả nợ trong vụ việc này. Nếu sau này đến hạn mà ông Nguyễn Hữu N không trả nợ thì Quỹ tín dụng nhân dân Quảng Đại sẽ khiếu kiện trong vụ việc khác.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị H2 trình bày:
Bà và ông N kết hôn với nhau năm 2021. Sau khi kết hôn vợ chồng sống trên diện tích đất và nhà là tài sản chung của ông N bà H trước đây, đối với tài sản này trước khi kết hôn, vào năm 2019 ông N có sửa chữa, cải tạo. Sau khi kết hôn bà và ông N không cải tạo, cơi nới gì mới. Ngoài ra bà không đóng góp công sức, tiền bạc để cải tạo, hay sửa chữa với diện tích đất và nhà trên đất. Đối với tài sản của ông N và bà H như trên sau này Tòa án giải quyết giao cho ai thì bà có trách nhiệm trả lại tài sản cho người đó. Ngoài ra bà H2 không có ý kiến gì khác.
- Người làm chứng ông Nguyễn Hữu V trình bày:
Ngày 02/8/2007, anh Nguyễn Hữu N kết hôn với chị Nguyễn Thị H, vợ chồng ở chung cùng gia đình ông.
Đầu năm 2008, vợ chồng ông mua thêm một mảnh đất mặt đường, diện tích 115m2, tại thửa 796, tờ bản đồ số 03 của gia đình ông Phạm Văn Đ ở thôn E, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa. Ngày 05/8/2008, UBND huyện Q đã cấp GCNQSD đất số AD 774929 mang tên vợ chồng ông là Nguyễn Hữu V và Lê Thị C1.
Năm 2009, anh N xin phép cho ra làm một nhà quán khoảng hơn 30m² để sửa chữa điện lạnh.
Năm 2015 anh N xin vợ chồng ông làm thủ tục sang tên cho anh để vay vốn làm ăn, vì vợ chồng ông tuổi đã cao, mục đích của vợ chồng mua đất cũng là để cho anh N nên đồng ý. Khi làm hợp đồng tặng cho anh N đề xuất để cae tên chị H để vợ chồng gắn bó, có trách nhiệm với nhau hơn.
Ngày 09/7/2015, vợ chồng ông đã lập hợp đồng tặng cho vợ chồng anh N, chị H tại Văn phòng C2, Thanh Hoá.
Quá trình chung sống, anh N chị H phát sinh mâu thuẫn nên thuận tình ly hôn. Chị H đã chuyển đi nơi khác sinh sống. Nay chị H có đơn yêu cầu chia tài sản chung đối với thửa đất 796, tờ bản đồ số 03, quan điểm của ông thửa đất này là của vợ chồng ông tặng cho các con. Xét về công sức đóng góp của anh Nhân tạo L khối tài sản chung phải nhiều hơn. Đề nghị Toà án xét cho anh N 2/3/ giá trị tài sản.
* Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ thể hiện:
- - Đối với diện tích đất: Thửa đất số 796, tờ bản đồ số 3, diện tích 115m², đã được Ủy ban nhân dân huyện Q cấp ngày 21/8/2015 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CB 367083 mang tên ông Nguyễn Hữu N và bà Nguyễn Thị H có địa chỉ tại thôn K, xã Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa. Diện tích 115m² vẫn giữ nguyên hiện trạng như trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Có các cạnh: Phía Đông dài 23m giáp hộ bà Nguyễn Thị P1; Phía Tây dài 23m giáp hộ nhà ông Phạm Văn H3; Phía Nam dài 5m giáp đường giao thông; Phía Bắc dài 5m giáp đường M.
- - Tài sản trên đất:
- + 01 nhà cấp 4, mái tôn (rộng 5m, dài 13m), diện tích 65m², xây dựng năm 2009. Thời điểm trước năm 2016 là nhà cấp 4, mái proximang, năm 2019 sửa thành nhà cấp 4, mái tôn tôn xốp + đóng trần);
- + 01 nhà cấp 4, mái tôn, xây trên phần đất lưu không, rộng 5m, sâu 4m, diện tích 20m². Thời điểm trước năm 2016 là nhà cấp 4, mái proximang, từ năm 2019 sửa thành nhà cấp 4, mái tôn (tôn xốp + đóng trần)
- * Kết quả định giá tài sản: Theo chứng thư số 2403211/CTTD-AMC ngày 26/02/2024 của công ty TNHH Q1 thì giá trị đất và tài sản trên đất giá trị như sau: Về đất diện tích 115m² x 15.600.000đ/m² = 1.794.000.000 đồng; Nhà cấp 4 mái tôn (xây dựng năm 2009, cải tạo năm 2019) có giá trị 65m² x 1.415.000đ/m2 x 51,66% = 47.514.285 đồng. Tổng giá trị tài sản nhà và đất là 1.841.514.285 đồng.
Tại bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 18/2024/HNGĐ-ST ngày 03/6/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Sầm Sơn đã quyết định:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 144; Điều 147; Điều 228; Điều 229; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 208; Điều 213; Điều 219 và Điều 220 của Bộ luật dân sự Điều 33; Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H về việc chia tài sản chung sau khi ly hôn.
- - Ông Nguyễn Hữu N được sở hữu, quản lý, sử dụng 01 thửa đất số 796, tờ bản đồ số 3, diện tích 115m², đã được Ủy ban nhân dân huyện Q cấp ngày 21/8/2015 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CB 367083 mang tên ông Nguyễn Hữu N và bà Nguyễn Thị H có địa chỉ tại thôn K, xã Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa và 01 nhà cấp 4, mái tôn (rộng 5m, dài 13m) tổng diện tích 65m², xây dựng trên thửa đất nêu trên. Thửa đất có các cạnh: Phía Đông dài 23m giáp hộ bà Nguyễn Thị P1; Phía Tây dài 23m giáp hộ nhà ông Phạm Văn H3; Phía Nam dài 5m giáp đường giao thông; Phía Bắc dài 5m giáp đường M.
- Tổng giá trị ông Nguyễn Hữu N được hưởng trong khối tài sản chung là 980.394.285 đồng (Chín trăm tám mươi triệu, ba trăm chín mươi tư nghìn, hai trăm tám mươi lăm đồng).
- - Ông Nguyễn Hữu N hoàn lại giá trị chia tài sản chung cho bà Nguyễn Thị H số tiền 861.120.000 đồng (T1 trăm sáu mươi mốt triệu, một trăm hai mươi nghìn đồng), nhưng được trừ đi số tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) mà ông N đã trả nợ thay cho bà H tại Quỹ tín dụng nhân dân Q. Số tiền còn lại ông N có trách nhiệm hoàn trả lại cho bà H là 811.120.000 đồng (T1 trăm mười một triệu, một trăm hai mươi nghìn đồng).
- Đối với 01 nhà cấp 4, mái tôn xây trên phần đất lưu không rộng 5m, sâu 4m, diện tích 20m², các đương sự phải thực hiện việc tháo dỡ khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền có yêu cầu.
- Ông Nguyễn Hữu N và bà Nguyễn Thị H có nghĩa vụ đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục sang tên giấy chứng nhận theo quy định của pháp luật.
- Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên nghĩa vụ chậm thi hành án, án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
- * Ngày 17/6/2024, ông Nguyễn Hữu N có đơn kháng cáo toàn bộ Bản án sơ thẩm của TAND thành phố Sầm Sơn, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng:
- - Giao quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 769, tờ bản đồ số 03 tại thôn K, xã Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa cho bà Nguyễn Thị H quản lý, sử dụng. Bà Nguyễn Thị H phải có trách nhiệm trả cho ông Nguyễn Hữu N giá trị chênh lệch số tiền 957.587.428 đồng (Chín trăm năm mươi bảy triệu năm trăm tám mươi bảy nghìn bốn trăm hai mươi tám đồng).
- - Ông Nguyễn Hữu N và bà Nguyễn Thị H mỗi người trả 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) cho Quỹ tín dụng nhân dân Q2; bà H trả cho ông N ½ tiền lãi mà ông N đã trả cho Q tín dụng nhân dân Quảng Đại từ năm 2016 đến nay.
- * Ngày 15/8/2024, ông Nguyễn Hữu N có đơn xin thay đổi, bổ sung đơn kháng cáo gửi đến TAND tỉnh Thanh Hoá:
- - Thay đổi nội dung kháng cáo: Đề nghị giao ông N tiếp tục quản lý, sử dụng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất nêu trên, ông N sẽ có trách nhiệm thanh toán tiền chênh lệch tài sản cho bà Nguyễn Thị H.
- - Bổ sung nội dung kháng cáo: Yêu cầu xem xét công sức đóng góp hình thành khối tài sản chung của ông Nguyễn Hữu N nhiều hơn bà Nguyễn Thị H, cụ thể đề nghị chia cho ông N 2/3, chia cho bà Nguyễn Thị H 1/3 giá trị tài sản.
Các nội dung kháng cáo còn lại giữ nguyên theo đơn kháng cáo ngày 17/06/2024.
* Kết quả định giá lại tài sản ở cấp phúc thẩm:
- - Theo yêu cầu thẩm định giá của ông Nguyễn Hữu N: Kết quả thẩm định giá tài sản của Công Ty cổ phần thẩm định giá và giám định T, thì giá trị thửa đất số 769, tờ bản đồ số 03 tại thôn K, xã Q, thành phố S như sau: 115m² x 10.883.000đ/m² = 1.251.545.000 đồng;
- - Theo yêu cầu thẩm định giá của bà Nguyễn Thị H: Kết quả thẩm định giá tài sản của Công Ty cổ phần T2, thì giá trị thửa đất số 769, tờ bản đồ số 03 tại thôn K, xã Q, thành phố S như sau: 115m² x 15.200.000đ/m² = 1.748.000.000 đồng;
- - Tại biên bản hòa giải ngày 04/10/2024, ông N và bà H thống nhất giá trị thửa đất số 769, tờ bản đồ số 03 tại thôn K, xã Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa là 1.400.000.000₫ và thống nhất số nợ chung của Quỹ tín dụng Quảng Đại là 100.000.000đ gốc và 17.125.000đ tiền lãi, mỗi người sẽ chịu ½.
* Tại phiên tòa:
- - Bà H vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện;
- - Ông N rút một phần kháng cáo về yêu cầu giao nhà đất cho bà H quản lý, sử dụng. Rút một phần yêu cầu tiền lãi của khoản vay quỹ tín dụng Q, không yêu cầu bà H trả cho ông N ½ tiền lãi các khoản vay ông N vay riêng sau này, chỉ yêu cầu bà H trả ½ tiền lãi đối với khoản nợ chung của hai người ở HĐTD ngày 04/12/2016 tại quỹ tín dụng Q là 8.562.000đ. Các yêu cầu kháng cáo còn lại vẫn giữ nguyên.
- - Bà H đồng ý trả cho ông N tiền lãi đối với khoản nợ chung của hai người ở HĐTD ngày 04/12/2016 tại quỹ tín dụng Q là 8.562.000đ. Về tài sản bà đề nghị giao nhà đất cho ông N quản lý, sử dụng. Ông N phải thanh toán chênh lệch giá trị tài sản cho bà theo tỷ lệ 50% phần trăm của giá trị tài sản hai bên đã thống nhất là 1.400.000.000 đồng (Mỗi người 700.000.000 đồng).
* Quan điểm của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Các Luật sư đề nghị HĐXX đình chỉ giải quyết những nội dung ông N rút yêu cầu kháng cáo và chấp nhận những nội dung kháng cáo của ông N. Đề nghị xác định thửa đất số 769, tờ bản đồ số 03 tại thôn K, xã Q, thành phố S là tài sản chung của ông N và bà H có giá trị theo thoả thuận là 1.400.000.000 đồng. Căn cứ vào nguồn gốc tài sản và công sức đóng góp, đề nghị chia cho ông N 2/3 giá trị tài sản, bà H 1/3 giá trị tài sản. Sau khi đối trừ khoản tiền gốc và lãi ông N đã trả thay cho bà H là 58.562.000đ, thì ông N còn phải thanh toán cho bà H số tiền chênh lệch tài sản là 408.437.500đ.
* Đại diện VKSND tỉnh Thanh Hóa phát biểu ý kiến:
- - Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- - Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử HĐXX căn cứ Khoản 3 Điều 298; Khoản 2 Điều 308 BLTTDS quyết định theo hướng: Chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Hữu N. Sửa Bản án sơ thẩm số 18/2024/HNGĐ-ST ngày 03/6/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa theo hướng:
- + Đình chỉ giải quyết yêu cầu kháng cáo của ông N về nội dung giao nhà đất cho bà H quản lý, sử dụng do ông N rút kháng cáo.
- + Chấp nhận sự thỏa thuận của ông N và bà H về giá trị thửa đất là 1.400.000.000 đồng.
- + Chia cho ông N 60% giá trị tài sản là 840.000.000 đồng, bà H 40% giá trị tài sản là 560.000.000 đồng.
- + Giao cho ông N quản lý và sử dụng thửa đất số 796, tờ bản đồ số 3, diện tích 115m² và tài sản trên đất. Buộc ông N có nghĩa vụ thanh toán lại cho bà H 40% giá trị tài sản chung là 560.000.000 đồng.
- + Buộc bà H trả cho ông N ½ tiền lãi của khoản nợ chung của hai người ở HĐTD ngày 04/12/2016 tại quỹ tín dụng Q là 50.000.000đ tiền gốc và 8.562.000 đồng tiền lãi.
- + Ông Nguyễn Hữu N và bà Nguyễn Thị H có nghĩa vụ đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục sang tên giấy chứng nhận theo quy định của pháp luật.
- - Về án phí: Ông N không phải chịu án phí phúc thẩm. Án phí sơ thẩm cũng cần điều chỉnh lại theo giá trị tài sản các bên được chia tại cấp phúc thẩm.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN
- [1] Về tố tụng: Ông Nguyễn Hữu N kháng cáo trong thời hạn luật định và nộp tạm ứng án phí phúc thẩm. Về phần thay đổi, bổ sung nội dung kháng cáo của ông Nguyễn Hữu N cũng trong phạm vi kháng cáo về phần tài sản nên xác định là không vượt quá phạm vi kháng cáo ban đầu, được xem xét, giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Quỹ tín dụng nhân dân Q và bà Lê Thị H2 vắng mặt, nhưng đã được tống đạt hợp lệ quyết định của Tòa án. Căn cứ Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt Quỹ tín dụng nhân dân Q và bà Lê Thị H2.
- [2] Xét kháng cáo của ông Nguyễn Hữu N:
- 2.1. Xét nội dung ông Nguyễn Hữu N rút một phần kháng cáo về yêu cầu giao nhà đất cho bà H quản lý, sử dụng:
Tại cấp sơ thẩm đã xử giao cho ông N được sở hữu, sử dụng toàn bộ tài sản chung là diện tích đất 115m² và nhà trên đất. Sau khi xử sơ thẩm ông N kháng cáo đề nghị giao nhà đất cho bà H, sau đó xin thay đổi nội dung là tiếp tục sử dụng nhà đất. Tại phiên toà hôm nay ông N xin rút một phần đơn kháng cáo về yêu cầu giao nhà đất cho bà H quản lý, sử dụng. Tại cấp phúc thẩm bà H cũng đề nghị giao nhà đất cho ông N quản lý, sử dụng. Do đó căn cứ Khoản 3 Điều 298 BLTTDS đình chỉ xét xử nội dung kháng cáo này và giữ nguyên án sơ thẩm giao nhà đất cho ông N quản lý, sử dụng là phù hợp.
- 2.2. Xét giá trị quyền sử dụng đất tranh chấp:
Tại khoản 5 Điều 104 BLTTDS 2015 quy định: “Việc định giá lại tài sản được thực hiện trong trường hợp có căn cứ cho rằng kết quả định giá lần đầu không chính xác hoặc không phù hợp với giá thị trường nơi có tài sản định giá tại thời điểm giải quyết vụ án dân sự”.
Theo Chứng thư thẩm định giá của Công ty TNHH Q1, xác định giá trị quyền sử dụng đất tại thửa số 796, tờ bản đồ số 03 có giá trị là: 115,0m² x 15.600.000đồng/m² = 1.794.000.000đồng (Một tỷ, bảy trăm chín mươi tư triệu đồng).
Thời điểm thẩm định giá từ tháng 2/2024 đến nay đã quá 06 tháng. Ông N cho rằng giá chuyển nhượng lô đất thực tế trên thị trường hiện nay chỉ từ thấp hơn giá trị do Công ty Q1 định giá. Ngày 26/8/2024, ông Nguyễn Hữu N có đơn đề nghị Toà án cấp phúc thẩm định giá lại giá đất đang tranh chấp. Kết quả thẩm định giá tài sản của Công Ty cổ phần thẩm định giá và giám định T, thì giá trị thửa đất số 796, tờ bản đồ số 03 có giá trị là: 115m² x 10.883.000đ/m² = 1.251.545.000 đồng;
Bà H không nhất trí với kết quả thẩm định giá của Công Ty T3 nên yêu cầu thẩm định giá lại tài sản. Kết quả thẩm định giá tài sản của Công Ty cổ phần T2, thì giá trị thửa đất số 769, tờ bản đồ số 03 tại thôn K, xã Q, thành phố S có giá trị là: 115m² x 15.200.000đ/m² = 1.748.000.000 đồng;
Tại biên bản hòa giải ngày 04/10/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa, ông N và bà H thống nhất giá trị thửa đất số 796, tờ bản đồ số 03 tại thôn K, xã Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa có giá trị là 1.400.000.000 đồng. Việc thỏa thuận về giá trị tài sản của hai bên là tự nguyện, cũng tương đối phù hợp với giá thị trường, nên Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận làm cơ sở giải quyết vụ án.
- 2.3. Xét kháng cáo đề nghị xem xét, đánh giá công sức đóng góp hình thành khối tài sản chung của ông N và bà H:
Tại điểm b khoản 2 Điều 59 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định nguyên tắc: “Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:
b. Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;”
Về nguồn gốc tài sản chung là thửa đất số 796, tờ bản đồ số 03 tại thôn K, xã Q, thành phố S. Theo ông N là do bố đẻ của ông tặng cho, bà H thì cho rằng thửa đất này do bố chồng tặng cho, tuy nhiên nguồn tiền mua đất là của vợ chồng, vợ chồng bà nhờ bố chồng là ông Nguyễn Hữu V mua và đứng tên hộ, sau này bà đã đề nghị ông V làm thủ tục tặng cho vợ chồng để không phải nộp thuế trước bạ, nhưng bà H không xuất trình được tài liệu chứng cứ chứng minh nguồn tiền mua đất là của vợ chồng.
Tại cấp phúc thẩm, ông N xuất trình Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất (thửa số 796, tờ bản đồ 03 xã Q) tại Văn phòng C2, giữa bên tặng cho: Ông Nguyễn Hữu V, bà Lê Thị C1; bên nhận tặng cho: Ông Nguyễn Hữu N, bà Nguyễn Thị H, đã có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 774929 do UBND huyện Q cấp ngày 05/5/2008 cho ông V, bà C1, số công chứng 217 quyển số 01 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 09/7/2015.
Vì vậy, có thể khẳng định nguồn gốc thửa đất là do ông Nguyễn Hữu V, bà Lê Thị C1 là bố, mẹ ông N tặng cho ông N và bà H.
Tuy nhiên, việc Tòa án cấp sơ thẩm xem xét công sức đóng góp của hai bên để chia cho ông N 52%, chia cho bà H 48% giá trị tài sản là quyền sử dụng đất là chưa thỏa đáng, chưa đảm bảo quyền lợi cho ông N. Do đó, cần chấp nhận kháng cáo của ông N, tính công sức và chia cho ông N 60% giá trị tài sản là: 1.400.000.000 đồng x 60% = 840.000.000 đồng, chia cho bà H 40% giá trị tài sản là: 1.400.000.000 đồng x 40% = 560.000.000 đồng.
Về tài sản trên đất có một căn nhà cấp bốn 65m², trị giá 47.514.285 đồng, bà H không yêu cầu chia, bản án sơ thẩm đã giao cho ông N nên không xét.
Tại phiên tòa phúc thẩm, ông N đã rút yêu cầu kháng cáo giao nhà đất cho bà H. Trong đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn sơ thẩm và phúc thẩm bà H cũng đề nghị giao nhà, đất cho ông N quản lý, sử dụng vì bà H không có khả năng chênh lệch giá trị tài sản cho ông N. Do vậy, giao cho ông Nguyễn Hữu N được quyền quản lý, sử dụng thửa đất số 796, tờ bản đồ số 3, diện tích 115m², đã được Ủy ban nhân dân huyện Q cấp ngày 21/8/2015 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CB 367083 mang tên ông Nguyễn Hữu N và bà Nguyễn Thị H có địa chỉ tại thôn K, xã Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa và 01 nhà cấp 4, mái tôn (rộng 5m, dài 13m) tổng diện tích 65m², xây dựng trên phần đất lưu không (rộng 5m, sâu 4m), diện tích 20m², ông N phải thực hiện việc tháo dỡ khi Cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu.
Ông Nguyễn Hữu N phải chênh lệch giá trị tài sản chung cho bà Nguyễn Thị H số tiền 560.000.000 đồng (năm trăm sáu mươi triệu đồng).
- 2.4. Xét nội dung kháng cáo yêu cầu chia tiền lãi vay tại Quỹ tín dụng nhân dân Quảng Đại đối với khoản nợ chung của ông N và bà H:
Ngày 04/11/2016, ông Nguyễn Hữu N và bà Nguyễn Thị H có ký Hợp đồng tín dụng số 2016-1-01125/HĐTD và thế chấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CB 367083 tại thửa đất số 796 tại thôn K, xã Q, thành phố S mang tên ông N và bà H tại Quỹ tín dụng nhân dân xã Q để vay số tiền 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng chẵn), thời điểm vợ chồng thuận tình ly hôn chưa giải quyết khoản vay này. Ngày 15/12/2017, ông N đã thanh toán xong khoản nợ trên cho quỹ tín dụng.
Như vậy, ngoài số tiền nợ gốc là 100.000.000 đồng (mỗi bên phải trả ½) thì tính từ ngày 04/12/2016 đến ngày 04/11/2017, ông N đã trả cho Q tín dụng nhân dân Quảng Đại theo Hợp đồng tín dụng số 2016-1-01125 ngày 04/11/2016 là 17.125.000 đồng tiền lãi;
Tại khoản 1 Điều 37 Luật hôn nhân và gia đình quy định: “Vợ chồng có các nghĩa vụ chung về tài sản sau đây:
1. Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do vợ chồng cùng thỏa thuận xác lập; nghĩa vụ bồi thường thiệt hại mà theo quy định của pháp luật vợ chồng cùng phải chịu trách nhiệm;”
Tại Điều 60 về giải quyết quyền, nghĩa vụ tài sản của vợ chồng đối với người thứ ba khi ly hôn quy định:
“1. Quyền, nghĩa vụ tài sản của vợ chồng đối với người thứ ba vẫn có hiệu lực sau khi ly hôn, trừ trường hợp vợ chồng và người thứ ba có thỏa thuận khác.
2. Trong trường hợp có tranh chấp về quyền, nghĩa vụ tài sản thì áp dụng quy định tại các điều 27, 37 và 45 của Luật này và quy định của Bộ luật dân sự để giải quyết.”
Tại biên bản hòa giải ngày 04/10/2024 và tại phiên tòa phúc thẩm bà H nhất trí sẽ trả ½ tiền lãi của khoản nợ chung cho ông N. Do đó, buộc bà H phải có trách nhiệm trả lại ½ tiền nợ gốc là 50.000.000 đồng và ½ tiền lãi ông N đã trả là 8.562.000 đồng. Tổng số tiền cả gốc và lãi bà H phải trả lại cho ông N là 58.562.000 đồng (Năm mươi tám triệu năm trăm sáu hai ngàn đồng).
- 2.1. Xét nội dung ông Nguyễn Hữu N rút một phần kháng cáo về yêu cầu giao nhà đất cho bà H quản lý, sử dụng:
- [3] Về án phí: Ông N không phải chịu án phí phúc thẩm, được trả lại tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục THADS thành phố S. Án phí sơ thẩm cũng cần điều chỉnh lại theo giá trị tài sản các bên được chia tại cấp phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ Khoản 3 Điều 298; Khoản 2 Điều 308 BLTTDS
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ: Khoản 1 Điều 28; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39; Điều 144; Điều 147; Điều 228; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 208; Điều 213; Điều 219 và Điều 220 của Bộ luật dân sự; Điều 33; Khoản 1 Điều 37; điểm b khoản 2 Điều 59; Điều 60 của Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
- Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H về việc chia tài sản chung sau khi ly hôn.
- 2.1. Đình chỉ giải quyết yêu cầu kháng cáo của ông N về nội dung giao nhà đất cho bà H quản lý, sử dụng.
- 2.2. Chấp nhận sự thỏa thuận của ông N và bà H về giá trị thửa đất là 1.400.000.000đ (Một tỷ bốn trăm triệu đồng).
- 2.3. Chia cho ông Nguyễn Hữu N được hưởng 60% giá trị quyền sử dụng đất là 840.000.000 đồng + phần giá trị tài sản trên đất là 47.514.000 đồng = 887.514.000 đồng (T1 trăm tám bảy triệu năm trăm mười bốn ngàn đồng).
Giao ông Nguyễn Hữu N được quản lý, sử dụng thửa đất số 796, tờ bản đồ số 3, diện tích 115m², đã được Ủy ban nhân dân huyện Q cấp ngày 21/8/2015 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CB 367083 mang tên ông Nguyễn Hữu N và bà Nguyễn Thị H có địa chỉ tại thôn K, xã Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa và 01 nhà cấp 4, mái tôn (rộng 5m, dài 13m) tổng diện tích 65m², xây dựng trên đất. Thửa đất có các cạnh: Phía Đông dài 23m giáp hộ bà Nguyễn Thị P1; Phía Tây dài 23m giáp hộ nhà ông Phạm Văn H3; Phía Nam dài 5m giáp đường giao thông; Phía Bắc dài 5m giáp đường M.
Ngôi nhà cấp 4, mái tôn xây trên phần đất lưu không (rộng 5m, sâu 4m), diện tích 20m², ông N phải thực hiện việc tháo dỡ khi Cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu.
Ông Nguyễn Hữu N có quyền liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục đăng ký biến động hoặc sang tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
- 2.4. Chia cho bà H được hưởng 40% giá trị quyền sử dụng đất là 560.000.000đ (Năm trăm sáu mươi triệu đồng). Buộc ông Nguyễn Hữu N có trách nhiệm chênh lệch giá trị chia tài sản chung cho bà Nguyễn Thị H số tiền 560.000.000 đồng (Năm trăm sáu mươi triệu đồng), nhưng được trừ đi số tiền 58.562.000 đồng (Năm tám triệu năm trăm sáu hai ngàn đồng), trong đó tiền gốc: 50.000.000 đồng và tiền lãi: 8.562.000 đồng (½ khoản nợ gốc và lãi ông N đã trả nợ thay cho bà H tại Quỹ tín dụng nhân dân Q). Số tiền còn lại ông N phải thanh toán cho bà H là 501.438.000 đồng (Năm trăm lẻ một triệu bốn trăm ba mươi tám ngàn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong khoản tiền, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- 3. Về án phí:
- - Án phí phúc thẩm: Ông N không phải chịu án phí phúc thẩm, được trả lại số tiền 300.000đ tạm ứng án phí ông đã nộp theo biên lai thu số 0004909 ngày 20/6/2024 của Chi cục THADS thành phố S.
- - Án phí sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị H phải chịu 26.400.000 đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 10.650.000 đồng theo biên lai thu số: AA/2021/0013786 ngày 19/10/2023 của Chi cục THADS thành phố S. Bà H còn phải nộp thêm 15.750.000 đồng. Ông Nguyễn Hữu N phải chịu 38.625.000 đồng.
- 4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- 5. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Dung |
Bản án số 33/2024/HNGĐ-PT ngày 14/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về chia tài sản sau ly hôn
- Số bản án: 33/2024/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Chia tài sản sau ly hôn
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 14/10/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Nguyễn Thị H yêu cầu chai tài sản chung sau ly hôn với anh Nguyễn Hữu Nh
