|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH TÂN TỈNH VĨNH LONG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Kim Ngân
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Trần Ngọc Đức
- Ông Trương Văn Ánh
Thư ký phiên tòa: Ông Trần Thanh Điền - là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Ông Phan Thanh Trí - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 33/2025/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 02 năm 2025; về tranh chấp: “ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2025/QĐXX-ST ngày 21 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 57/2025/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Thanh B, sinh năm 1969. Địa chỉ: tổ H, ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Long (có mặt).
- Bị đơn: Bà Võ Thị Bích H (tên gọi khác Võ Bích H), sinh năm 1973. Nơi cư trú cuối cùng: tổ H, ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Long (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 18/10/2024 nguyên đơn ông Nguyễn Thanh B trình bày: Ông và bà Võ Thị Bích H (tên gọi khác Võ Bích H) sau thời gian quen biết tìm hiểu nhau đã đi đến chung sống như vợ chồng vào năm 1990; không tổ chức lễ cưới; không tặng cho nữ trang; không đăng ký kết hôn. Vợ chồng về sống tại ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Long; hạnh phúc được khoảng 20 năm. Có 01 con chung: Nguyễn Thị Mỹ T, sinh năm 1990, hiện đã trưởng thành. Trong thời gian chung sống, vợ chồng không tạo ra tài sản chung; không có nợ ai và cũng không ai nợ vợ chồng ông.
Thời gian đầu vợ chồng ông chung sống rất hạnh phúc. Đến tháng 10/2014 âm lịch, bà Võ Thị Bích H bỏ nhà đi khỏi địa phương mà không rõ lý do. Sau đó, ông đã thông báo đến chính quyền địa phương và nhiều lần tìm kiếm, tìm cách liên lạc với bà H nhưng đều không có kết quả. Hiện nay ông không biết bà H làm gì, ở đâu, không có thông tin xác thực về bà H. Tại Quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 05/2024/QĐST-VDS ngày 27/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long tuyên bố bà Võ Thị Bích H (tên gọi khác Võ Bích H) mất tích. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, ông yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn bà Võ Thị Bích H; về con chung: Nguyễn Thị Mỹ T, sinh năm 1990 đã trưởng thành, không yêu cầu giải quyết; về quan hệ tài sản: không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngoài ra, ông không còn yêu cầu nào khác.
- Tại phiên tòa: ông Nguyễn Thanh B giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
- + Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.
- + Về việc giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 28, 35, 39, 147, 227, 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 11, 91 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; Điều 9, 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thanh B, không công nhận ông Nguyễn Thanh B và bà Võ Thị Bích H là vợ chồng; Về con chung: đã trưởng thành, không đặt ra xem xét giải quyết; Về quan hệ tài sản: không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét giải quyết; Về án phí: buộc ông B nộp 300.000 đồng, ông B được khấu trừ tiền tạm ứng án phí nên không phải nộp thêm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Ông Nguyễn Thanh B có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn bà Võ Thị Bích H (tên gọi khác Võ Bích H). Bà H bỏ đi không tiếp tục sống chung với ông B từ tháng 10/2014 âm lịch đến nay không có tin tức gì; ông B nhiều lần tìm kiếm, tìm cách liên lạc với bà H nhưng đều không có kết quả. Tại Quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 05/2024/QĐST-VDS ngày 27/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long tuyên bố bà Võ Thị Bích H (tên gọi khác Võ Bích H), sinh năm 1973, địa chỉ cư trú cuối cùng tại tổ H, ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Long mất tích. Do đó, tranh chấp và quan hệ pháp luật thuộc thẩm quyền thụ lý và giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bình Tân được quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[1.2] Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng triệu tập bị đơn bà Võ Thị Bích H tham gia phiên tòa giải quyết vụ án nhưng bà H vẫn vắng mặt. Do đó Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 xét xử vắng mặt đương sự.
[1.3] Bị đơn bà Võ Thị Bích H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn không đến Tòa án để giải quyết vụ án, không trình bày ý kiến, không đưa ra được chứng cứ chứng minh nên bà H đã tự tước bỏ quyền được chứng minh của mình. Bà H phải chịu hậu quả của việc không chứng minh theo quy định tại Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào lời trình bày của nguyên đơn và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án làm chứng cứ để xem xét giải quyết vụ án.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân:
Ông Nguyễn Thanh B và bà Võ Thị Bích H (tên gọi khác Võ Bích H) chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1990, nhưng không đăng ký kết hôn.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 11 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định về đăng ký kết hôn: “Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo nghi thức quy định tại Điều 14 của Luật này. Mọi nghi thức kết hôn không theo quy định tại Điều 14 của Luật này đều không có giá trị pháp lý. N, nữ không đăng ký kết hôn mà chung sống với nhau như vợ chồng thì không được pháp luật công nhận là vợ chồng”.
Theo quy định tại điểm b khoản 3 Nghị quyết số 35/2000/NQ-QHngày 09/6/2000 của Quốc Hội về việc thi hành Luật hôn nhân và gia đình năm 2000định như sau: Nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 03/01/1987 đến ngày 01/01/2001, mà có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này thì có nghĩa vụ đăng ký kết hôn trong thời hạn hai năm, kể từ ngày Luật này có hiệu lực cho đến ngày 01/01/2003; trong thời hạn này mà họ không đăng ký kết hôn, nhưng có yêu cầu ly hôn thì Tòa án áp dụng các quy định về ly hôn của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết. Từ sau ngày 01/01/2003 mà họ không đăng ký kết hôn thì pháp luật không công nhận họ là vợ chồng”.
Xét thấy ông B và bà H có đủ điều kiện kết hôn nhưng ông bà không đăng ký kết hôn là vi phạm Điều 11 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000. Do đó, pháp luật không công nhận quan hệ giữa ông B và bà H là vợ chồng.
[2.2] Về con chung: Nguyễn Thị Mỹ T, sinh năm 1990, đã trưởng thành. Ông Nguyễn Thanh B không yêu cầu giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
[2.3] Về chia tài sản: Ông Nguyễn Thanh B không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
[3] Về án phí: Ông Nguyễn Thanh B phải nộp án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.
[4] Xét đề nghị của Kiểm sát viên có căn cứ nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 11 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000; Điều 9, 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm b khoản 3 Nghị quyết số 35/2000/NQ-QHngày 09/6/2000 của Quốc Hội về việc thi hành Luật hôn nhân và gia đình năm 2000điểm b mục 2 Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP03/01/2001 của Tòa án nhân dân Tối cao, Viện kiểm sát nhân dân Tối cao, Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành Nghị quyết số 35/2000/NQ-QHngày 09/6/2000 của Quốc Hội về thi hành Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông Nguyễn Thanh B và bà Võ Thị Bích H (tên gọi khác Võ Bích H).
- Về con chung: Nguyễn Thị Mỹ T, sinh năm 1990, đã trưởng thành. Ông Nguyễn Thanh B không yêu cầu giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
- Về chia tài sản: ông Nguyễn Thanh B không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
- Về án phí: Ông Nguyễn Thanh B phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Khấu trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) do ông Nguyễn Thanh B nộp theo biên lai thu số 0000254 ngày 24/02/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình Tân. Vậy ông B đã nộp đủ.
Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Đương sự có mặt được quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Kim Ngân |
|
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
|
THẨM PHÁN Phan Kim Ngân |
Bản án số 33/2025/TLST-HNGĐ ngày 30/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH TÂN TỈNH VĨNH LONG về ly hôn
- Số bản án: 33/2025/TLST-HNGĐ
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/05/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH TÂN TỈNH VĨNH LONG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không công nhận vợ chồng giữa ông Nguyễn Thanh Bến và bà Võ Thị Bích Hạnh. Con chung: Đã trưởng thành, không yêu cầu giải quyết. Quan hệ tài sản: Không tranh chấp. Án phí: Ông Bến chịu án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 đồng.
