Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ

TỈNH QUẢNG TRỊ

Bản án số: 33/2025/ST-DS

Ngày 17 - 6 - 2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Quốc Huy.

Các hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Khương Duy;
  2. Ông Lê Văn Lượng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thúy Hằng- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị, tham gia phiên tòa: Bà Lê Thùy Linh- Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 6 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị (địa chỉ: Số D-L, thành phố Đ), Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 120/2024/TLST-DS ngày 18/10/2024 về việc: "Tranh chấp quyền sử dụng đất" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2025/QĐXXST-DS ngày 16/5/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 33/20252/QĐST-DS ngày 27/5/2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Đăng Thanh H, bà Trần Thị Thúy N;
  2. Địa chỉ: Số A- L, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị. Có mặt.

  3. Bị đơn: Ông Lê Hoàng Đ;
  4. Địa chỉ: Khu phố E, phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị.

    Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Bà Hoàng Thị L; địa chỉ: Khu phố E, phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị (Văn bản ủy quyền ngày 22/4/2025). Vắng mặt.

  5. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    • - Ông Lê Hà P, bà Hoàng Thị L;
    • Địa chỉ: Khu phố E, phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị. Vắng mặt.

    • - Ngân hàng TMCP Phát triển thành phố H;
    • Địa chỉ: Số B B 1thành phố H

      Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Hữu Đ1- Tổng giám đốc. Vắng Mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

[I] Theo đơn khởi kiện đề ngày 30/9/2024, ý kiến trình bày trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn là ông Nguyễn Đăng Thanh H, bà Trần Thị Thúy N (ông H, bà N) trình bày:

(1) Ông H, bà N là chủ sử dụng Thửa đất số: 584, Tờ bản đồ số 09 của UBND phường Đ, thành phố Đ, với diện tích: 95m² (Đất ở: 70m², đất trồng cây hàng năm: 25m²) theo Giấy chứng nhận số: CM460957 do Sở TN&MT tỉnh Quảng Trị cấp ngày 19/01/2019 mang tên ông H, bà N. Có nguồn gốc: Nhận chuyển nhượng từ ông Lê Hà P, bà Hoàng Thị L (ông P, bà L). Do chuyển nhượng 01 phần ở giữa thửa đất nên QSD đất còn lại của ông P, bà L được chia thành 02 thửa tiếp giáp phía Đông và phía Tây của thửa đất đã chuyển nhượng cho ông H, bà N. Sau này, thửa đất phía Tây ông P, bà L tặng cho ông Lê Hoàng Đ (ông Đ).

Năm 2024, ông H, bà N nhờ cơ quan chuyên môn tiến hành cắm mốc thực địa, thì phát hiện: Ông Đ, chủ sử dụng thửa đất tiếp giáp phía Tây của Thửa đất thuộc QSD của ông H, bà N đã cùng với bà L (Mẹ ông Đ) xây dựng nhà chồng lấn lên thửa đất thuộc QSD của ông H, bà N, với diện tích: 25,4m².

(2) Ủy ban nhân dân phường Đ đã tiến hành hòa giải nhưng ông Đ, bà L không đồng ý tháo dỡ phần kiến trúc xây dựng chồng lấn.

(3) Ông H, bà N khởi kiện ông Đ với yêu cầu: Buộc ông Đ và bà L phải tháo dỡ toàn bộ kiến trúc xây dựng chồng lấn và trả lại diện tích đất lấn chiếm 25,4m² cho ông H, bà N.

* Tại phiên tòa, ông H, bà N, trình bày:

Nguồn gốc nhà và các vật kiến trúc khác: Do ông P, bà L xây dựng; Thời điểm xây dựng: Sau khi đã chuyển nhượng QSD đất cho Ông, Bà.

Quá trình hòa giải tại UBND phường Đ cũng như tại phiên xem xét, thẩm định tại chổ (Ngày 23/4/2024), bà L trình bày: Ngày 15/6/2023, ông P, bà L, tặng cho ông Đ QSD 106m² theo Giấy chứng nhận số: CM 460956. Cùng với việc cho tặng QSD đất, ông P, bà L đã cho tặng ông Đ nhà và các vật kiến trúc khác.

Ông H, bà N đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, buộc: Ông P, bà L và ông Đ, phải tháo dỡ toàn bộ nhà và vật kiến trúc chồng lấn và trả lại diện tích đất lấn chiếm 25,4m² cho ông H, bà N.

[II] Bị đơn là ông Lê Hoàng Đ đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng liên quá đến: Thụ lý vụ án, phiên họp, phiên hòa giải và phiên tòa nhưng ông Đ không giao nộp cho Tòa án bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của ông H, bà N; vắng mặt tại các phiên họp, phiên hòa giải và phiên tòa.

[III] Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Lê Hà P, bà Hoàng Thị L và Ngân hàng TMCP Phát triển thành phố H (Ngân hàng) đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng (Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo phiên họp- phiên hòa giải và thủ tục mở phiên tòa) nhưng ông P, bà L và Ngân hàng đều không giao nộp cho Tòa án bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của ông H, bà N; vắng mặt tại các phiên họp, phiên hòa giải và phiên tòa.

[IV] Quan điểm của Viện kiểm sát:

* Về tố tụng: Việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và đương sự là đúng thủ tục tố tụng, cụ thể:

- Đối với Thẩm phán: Xác định thẩm quyền, quan hệ tranh chấp và tư cách tham gia tố tụng là đúng pháp luật.

- Đối với Hội đồng xét xử: Không có thành viên nào thuộc trường hợp phải thay đổi, thủ tục xét xử đảm bảo.

* Về nội dung:

- Ông H, bà N là chủ sử dụng Thửa đất số: 584, Tờ bản đồ số 09 của UBND phường Đ, thành phố Đ, với diện tích: 95m² theo Giấy chứng nhận số: CM460957 ngày 19/01/2019 mang tên ông H, bà N. Có nguồn gốc: Nhận chuyển nhượng từ ông P, bà L

- Ông Đ là chủ sử dụng Thửa đất số: 583, Tờ bản đồ số: 09 của UBND phường Đ, thành phố Đ, với diện tích: 106m² theo Giấy chứng nhận số: CM 460956 ngày 15/6/2023. Có nguồn gốc: Nhận tặng cho từ ông P, bà L.

- Theo kết quả xem xét thẩm định: Ông Đ đã xây dựng: Nhà cấp 4 (Nhà một mái); diện tích: 49,388m² (6,12 x 8,07); tường xây; mái lợp tôn, vĩ, kèo, xà gồ: Thép hộp; mái hiên (Trụ bê tông, mái lợp tôn, vĩ- kèo-xà gồ bằng thép hộp); sân bê tông đã lát vữa. Trong đó, Nhà cấp 4: Chồng lấn sang Thửa đất số: 584, thuộc QSD của ông H, bà N, diện tích chồng lấn: 7,5m²; Hiên nhà: Chồng lấn sang Thửa đất số 584, thuộc QSD của ông H, bà N, diện tích chồng lấn: 2,2m²; Sân bê tông: Chồng lấn sang Thửa đất số 584, thuộc QSD của ông H, bà N, diện tích chồng lấn: 15,7m². Tổng diện tích xây dựng chồng lấn: 25,4m²

Đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 8 Điều 26 và khoản 1 Điều 235 Luật Đất đai, xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông H, bà N,

Buộc ông Đ, ông P và bà L phải tháo dỡ toàn bộ công trình, vật kiến trúc xây dựng chồng lấn và trả lại phần đất 25,4m² thuộc QSD của ông H, bà N.

Về chi phí tố tụng: Bị đơn phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ.

Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[I] Về tố tụng

(1) Quan hệ pháp luật tranh chấp: Yêu cầu khởi kiện của ông H, bà N là buộc ông P, bà L và ông Đ phải tháo dỡ toàn bộ kiến trúc xây dựng chồng lấn và trả lại diện tích đất 25,4m² cho ông H, bà N. Tranh chấp này đã được UBND phường Đ, thành phố Đ hòa giải nhưng không thành. Do đó, Tòa án thụ đơn khởi kiện và xác định quan hệ pháp luật tranh chấp để xem xét, giải quyết là: “Tranh chấp quyền sử dụng đất” theo quy định tại khoản 1 Điều 175, khoản 1 Điều 579 Bộ luật Dân sự 2015; khoản 9 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 235 của Luật Đất đai 2013.

(2) Thời hiệu khởi kiện: Đây là quan hệ tranh chấp liên quan đến đất đai nên không xác định thời hiệu.

(3) Xét xử vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Tòa án đã tống đạt hợp lệ thủ tục mở phiên tòa đến lần thứ 2 nhưng bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vẫn vắng mặt đến lần thứ 02 mà không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử trong trường hợp vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

(4) Thay đổi yêu cầu khởi kiện: Nội dung thay đổi yêu cầu khởi kiện không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu cần áp dụng khoản 2 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự chấp nhận yêu cầu thay đổi của nguyên đơn.

(5) Giới hạn xét xử: Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng không giao nộp cho Tòa án bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của ông H, bà N; vắng mặt tại các phiên họp, phiên hòa giải và phiên tòa. Vì vậy, Hội đồng xét xử chỉ căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa để tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[II] Về nội dung:

(1) Nguồn gốc thửa đất thuộc QSD ông H, bà N và thửa đất thuộc QSD của ông Đ.

Tài liệu, chứng cứ do Tòa án thu thập, hiện có trong hồ sơ vụ án, thể hiện:

- Ngày 27/11/2014, ông P, bà L được nhà nước giao QSD 395m² đất (Đất ở: 200m², Đất trồng cây hàng năm: 195m²), Thửa đất số: 553(378/1+379/1+394/1), Tờ bản đồ số: 09 của UBND phường Đ, thành phố Đ theo Giấy chứng nhận số: BV 672072.

- Ngày 19/01/2019, ông P, bà L chuyển nhượng 95m² đất (Đất ở: 70m², Đất trồng cây hàng năm: 25m²) cho ông H, bà N (Ông H bà N được cấp Giấy chứng nhận số: CM 460957-Thửa đất số: 584, Tờ bản đồ số: 09)

Diện tích đất thuộc QSD của ông P, bà L còn lại (300m²) nằm ở phía Đông và phía Tây của thửa đất đã chuyển nhượng cho ông H, bà N được cấp lại giấy chứng nhận, cụ thể:

Giấy chứng nhận số: CM 460956, diện tích 106m², Thửa đất số 583, Tờ bản đồ số: 09 (Thửa số 583 tiếp giáp với phía Tây của Thửa đất số: 584 thuộc QSD của ông H, bà N)

Giấy chứng nhận số: CM 460954, diện tích 194m², Thửa đất số 553, Tờ bản đồ số: 09 (Thửa đất số: 553 tiếp giáp với phía Đông của Thửa đất số: 584 thuộc QSD của ông H, bà N).

- Ngày 15/6/2023, ông P, bà L, tặng cho ông Đ QSD 106m², Thửa đất số: 583, Tờ bản đồ số: 09 theo Giấy chứng nhận số: CM 460956, được Chi nhánh Văn phòng ĐKĐĐ thành phố Đ chỉnh lý trang 4 sang tên (Ông Đ).

(2) Kết quả xem xét, thẩm định tại chổ của Tòa án.

- Tổng diện tích của 02 thửa đất [Thửa đất số 583 (Thuộc QSD của ông Đ) và Thửa đất số 584 (Thuộc QSD của ông H, bà N)], là: 201m², không có ranh giới giữa 02 thửa đất.

- Công trình xây dựng trên thửa đất thuộc QSD của ông Đ:

Nhà cấp 4 (Nhà một mái), diện tích: 49,388m² (T: Xây đã tô trát; Mái: Lợp tôn; Vĩ, kèo, xà gồ: Thép hộp); Mái hiên: Trụ bê tông, mái lợp tôn, vĩ- kèo-xà gồ bằng thép hộp; Sân bê tông đã vát vữa. Trong đó,

Nhà cấp 4: Chồng lấn sang Thửa đất số: 584, thuộc QSD của ông H, bà N, diện tích chồng lấn: 7,5m² (0,92-0,94 x 8,07)

Hiên nhà: Chồng lấn sang Thửa đất số 584, thuộc QSD của ông H, bà N, diện tích chồng lấn: 2,2m² (2,32 x 0,94).

Sân bê tông: Chồng lấn sang Thửa đất số 584, thuộc QSD của ông H, bà N, diện tích chồng lấn: 15,7m².

Tổng diện tích xây dựng chồng lấn: 25,4m² (7,5+ 2,2 + 15,7)

(3) Từ những nhận định (1) và (2) nêu trên, thấy:

(3.1) Ông Đ sử dụng đất không đúng ranh giới nhà nước giao QSD đất, cụ thể: Nhà và vật kiến trúc khác Ông đang sở hữu (Có nguồn gốc nhận tặng cho từ ông P, bà L) có một phần diện tích (25,4m²) chồng lấn sang thửa đất thuộc QSD của ông H, bà N. Quá trình ông P, bà L xây dựng, ông H, bà N không hay biết.

(3.2) Phần diện tích đất còn lại thuộc QSD của ông H, bà N (Không tranh chấp) 69,6m², có đặc điểm: Mặt tiền, tiếp giáp đường C, dài 2,62 m. với đặc điểm đó thì không đủ điều kiện để được cấp giấy chứng nhận mới.

(3.3) Phần công trình (Nhà, hiên và sân) xây dựng chồng lần nếu tháo gỡ vẫn không ảnh hưỡng đến kết cấu và công năng sử dụng.

Như vậy, yêu cầu khởi kiện của ông H, bà N là có căn cứ, cần chấp nhận toàn bộ: Buộc ông P, bà L và ông Đ, phải tháo dỡ toàn bộ công trình xây dựng lấn chiếm. Buộc ông Đ phải trả lại diện tích đất lấn chiếm 25,4m² (7,5+2,2+15,7) cho ông H, bà N (Có sơ đồ kèm theo)

(4) Về lệ phí tố tụng:

(4.1) Ông H, bà N có đơn yêu cầu thu thập tài liệu, chứng cứ và xem xét thẩm định tại chổ và đã tạm nộp: 7.000.000 đồng.

(4.2) Chi phí thu thập chứng cứ, với số tiền 339.000 đồng: Ông H, bà N yêu cầu Tòa án thu thập chứng cứ nên Ông, Bà phải chịu khoản lệ phí này (Đã chi trong số tiền ông H, bà N tạm nộp).

(4.3) Chi phí xem xét, thẩm định tại chổ: Tổng chi phí xem xét, thẩm định tại chổ là: 5.984.000 đồng. Đã chi trong khoản tiền ông H, bà N tạm nộp. Số tiền tạm nộp còn lại 677.000 đã hoàn trả cho ông H, bà N.

(4.4) Toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông H, bà N được chấp nhận nên ông Đ phải chịu toàn bộ chi phí xem xét thẩm định tại chổ. Ông H, bà N đã chi trả nên ông Đ có nghĩa vụ hoàn trả lại cho ông H bà N 5.984.000 đồng.

[III] Về án phí: Yêu cầu khởi kiện của ông H, bà N được chấp nhận toàn bộ nên bị đơn là ông Đ phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • - Khoản 9 Điều 26; Điều 147; Điều 156; Điều 157; Điều 158 và khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Khoản 8 Điều 26 và khoản 1 Điều 235 Luật Đất đai;
  • - Điều 175, khoản 1 Điều 579 Bộ luật Dân sự;
  • - Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí.

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Đăng Thanh H, bà Trần Thị Thúy N.

  1. Buộc ông Lê Hoàng Đ, ông Lê Hà P và bà Hoàng Thị L phải tháo dỡ toàn bộ công trình, vật kiến trúc xây dựng chồng lấn (25,4m²) và trả lại diện tích đất lấn chiếm 25,4m² cho ông Nguyễn Đăng Thanh H, bà Trần Thị Thúy N, kích thước cạnh: 2,3-8,07-0,92-3,97-2,47-6,32-2,44- 0,94.
  2. (Có sơ đồ kèm theo)

  3. Về chi phí tố tụng:
    • - Ông Nguyễn Đăng Thanh H, bà Trần Thị Thúy N, phải chịu: 339.000 đồng (Ba trăm ba mươi chín ngàn đồng) lệ phí thu thập chứng cứ (Ông H, bà N đã nộp đủ).
    • - Buộc ông Lê Hoàng Đ phải trả lại cho ông Nguyễn Đăng Thanh H, bà Trần Thị Thúy N 5.984.000 đồng (Năm triệu, chín trăm tám mươi bốn ngàn đồng) lệ phí xem xét thẩm định tại chổ.

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm thi hành khoản tiền phải thi hành án thì hàng tháng còn phải còn phải chịu thêm khoản tiền lãi tương ứng với số tiền chậm thi hành án tại thời điểm thanh toán. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.

Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

  1. Về án phí:
  2. Buộc ông Lê Hoàng Đ phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

    Trả lại cho ông Nguyễn Đăng Thanh H, bà Trần Thị Thúy N toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng, theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0000520 ngày 16/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị.

  3. Về quyền kháng cáo:

Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (Ngày 17/6/2025).

Bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND thành phố Đông Hà;
  • - Phòng GĐKT TAND tỉnh Q.Trị;
  • - Chi cục THADS T.P Đông Hà;
  • - Lưu: Hồ sơ, Tập án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Quốc Huy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 33/2025/ST-DS ngày 17/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 33/2025/ST-DS
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp QSD đất giữa Nguyễn Đăng Thanh H và Lê Hoàng Đ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger