Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2025/HS-ST

Ngày: 05/3/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Duy Phượng.

Thẩm phán: Ông Trần Ngọc Lâm.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Xuân Trường, ông Lương Ngọc Vượng và ông Đào Ngọc Khải.

- Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Thảo - Thư ký TAND tỉnh Hưng Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thu Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở, Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 04/2025/TLST- HS ngày 06/04/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2025/QĐXXST- HS ngày 04/01/2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Đỗ Văn H, sinh năm 1986, tại huyện V, tỉnh Hưng Yên. Nơi cư trú và nơi ở hiện tại: thôn Đ, xã C, huyện V, tỉnh Hưng Yên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Văn H1 và bà Nguyễn Thị N; vợ: Bùi Thị Việt T (ly hôn năm 2021), con: Đỗ Văn Q, sinh năm 2014

Tiền án:

  • Bản án số 56/2008/HSST ngày 26/8/2008 của Tòa án nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên xử phạt 01 năm 08 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản;
  • Bản án số 19/2010/HSST ngày 28/4/2010 của Toà án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 22 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản;
  • Bản án số 34/2014/HSST ngày 11/6/2014 của Tòa án nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên xử phạt 3 năm 6 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản;
  • Bản án số 11/2019/HSST ngày 29/01/2019 của Tòa án nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên xử phạt 3 năm 9 tháng tù về tội Công nhiên chiếm đoạt tài sản. Chấp hành xong án phạt tù ngày 19/4/2022;

Tiền sự: Không;

Nhân thân: Bản án số 30/2005/HS-ST ngày 29/9/2005 của Tòa án nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/01/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh H; có mặt.

Người bào chữa: Ông Bùi Đình S - Văn phòng L – Đoàn Luật sư tỉnh H; có đơn xin vắng mặt.

Người chứng kiến: Ông Nguyễn Mạnh Đ, sinh năm 1976; ông Trịnh Đình N1, sinh năm 1965 đều trú tại: Thôn Đ, xã C, huyện V, tỉnh Hưng Yên; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 17 giờ 35 phút ngày 16/01/2024, tại thôn Đ, xã C, huyện V, tỉnh Hưng Yên, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh H phối hợp với Công an xã C bắt quả tang Đỗ Văn H (SN 1986, HKTT: thôn Đ, xã C, huyện V) có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ gồm: trên người Hùng có 03 túi nilon chứa ma túy (MT1, MT2, MT3), số tiền 1.100.000 đồng và 02 điện thoại di động. Khám xét khẩn cấp chỗ ở thu giữ 01 cân tiểu ly và 01 hộp giấy có chứa 05 túi nilon chứa ma túy (MT4.1 - MT4.5).

Kết luận giám định số 195/KL-KTHS(MT) ngày 19/01/2024 xác định: mẫu MT1 có 9,991g Ketamine; mẫu MT2 có 0,673g Heroine; mẫu MT3 có 17,734g Methamphetamine và 0,185g không phải ma túy; mẫu MT4.1 - MT4.4 có tổng 99,222g Methamphetamine; mẫu MT4.5 có 16,930g Ketamine.

Lời khai ban đầu của bị cáo H thừa nhận mua ma túy từ một nam thanh niên không rõ lai lịch ở TP . để sử dụng. Đến ngày 19/3/2024, H thay đổi lời khai, xác nhận mua của Lương Tuấn D (SN 1961, trú tại số A Điện Biên, phường L, TP .) gồm Ketamine, M, Heroine. Tuy nhiên, D không thừa nhận, chưa đủ căn cứ xử lý hình sự.

Kết quả xét nghiệm ngày 16/01/2024 tại Bệnh viện Đ1 cho thấy H dương tính với M và A. Về xử lý vật chứng: số tiền 1.100.000 đồng tạm giữ tại Kho bạc Nhà nước tỉnh H; 01 cân tiểu ly, 02 điện thoại iPhone, 01 niêm phong số 195/KL-KTHS(MT) được quản lý tại kho vật chứng Công an tỉnh H. H thành khẩn khai báo, lời khai phù hợp với tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án.

Tại Cơ quan điều tra bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Cáo trạng số: 11/CT-VKS-P1 ngày 06/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên truy tố bị cáo Đỗ Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm h khoản 4 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa

Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố Đỗ Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm h khoản 4 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Đỗ Văn H 16 năm 6 tháng đến 17 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 16/01/2024.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Xử lý vật chứng và án phí theo quy định của pháp luật.

Bản luận cứ của Luật sư bào chữa cho bị cáo, sau khi phân tích, đánh giá hành vi, nguyên nhân phạm tội, hoàn cảnh gia đình của các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

Bị cáo không tranh luận với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không bổ sung luận cứ bào chữa, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan Điều tra - Công an tỉnh H và Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng từ giai đoạn điều tra cho đến phiên tòa sơ thẩm đã thực hiện là hợp pháp.

[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của bản thân. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp khách quan với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, như: Lời khai của người chứng kiến; Biên bản bắt giữ người phạm tội quả tang; Biên bản niêm phong vật chứng; Bản ảnh vật chứng; Kết luận giám định số 195/KL-KTHS(MT) ngày 19/01/2024 của Phòng K - Công an tỉnh H cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ, đã đủ căn cứ kết luận: Hồi 17 giờ 35 phút ngày 16/01/2024, tại thôn Đ, xã C, huyện V, tỉnh Hưng Yên, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh H phối hợp với Công an xã C bắt quả tang Đỗ Văn H có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy đã bị phát hiện, bắt giữ.

Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo Điều 249 Bộ luật Hình sự. Với khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ là 144,55 gam ma túy, trong đó có 116,956g là ma túy loại Methamphetamine, 0,673 ma túy loại Heroine, 26,921g ma túy loại Ketamine) nên bị cáo phải chịu tình tiết định khung tăng nặng là “Có 02 chất ma túy...điểm a đến điểm g khoản này...”. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên truy tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo điểm h khoản 4 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3]. Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng; xâm phạm chế độ quản lý đặc biệt của Nhà nước đối với ma túy và các chất gây nghiện; gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương; là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác. Vì vậy, cần xét xử nghiêm minh, xử phạt các bị cáo một mức hình phạt nghiêm khắc để cải tạo, giáo dục riêng đối với bị cáo và làm bài học răn đe phòng ngừa tội phạm chung.

[4]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo:

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị kết án trong đó có 03 bản án chưa được xóa án tích, nay lại thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý nên bị cáo phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tái phạm nguy hiểm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về đặc điểm nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu đã nhiều lần bị kết án

[5]. Về hình phạt: Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử, xét thấy cần xử phạt bị cáo một mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có thu nhập và việc làm ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

[6]. Về vật chứng và biện pháp tư pháp:

  • 01 hộp niêm phong số 195/KL- KTHS(MT) của Phòng K Công an tỉnh H hoàn trả mẫu vật sau giám định; 01 cân tiểu ly; là vật chứng Nhà nước cấm lưu hành và không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy.
  • Đối với 02 điện thoại nhãn hiệu iPhone đã thu giữ, các vật chứng này không liên quan đến giao dịch bán ma túy, nên trả lại cho bị cáo. Tại phiên tòa, bị cáo ủy quyền cho bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1962 (là mẹ bị cáo), địa chỉ: Thôn Đ, xã C, huyện V, tỉnh Hưng Yên nhận lại tài sản
  • Đối với số tiền 1.100.000 đồng đang được tạm gửi trong tài khoản tạm gửi của Cơ quan CSĐT tại Kho bạc Nhà nước tỉnh H không liên quan tội phạm nên trả lại cho bị cáo.

[7]. Về án phí: Bị cáo Đỗ Văn H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Điều 3; Điều 21; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tội danh và hình phạt:
    • - Căn cứ: điểm h khoản 4 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
    • - Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Văn H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
    • - Xử phạt: Bị cáo Đỗ Văn H 16 (mười sáu) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/01/2024.
  2. Về vật chứng và biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
    • - Tịch thu, tiêu hủy: 01 hộp niêm phong số 195/KL- KTHS(MT) của Phòng K Công an tỉnh H hoàn trả mẫu vật sau giám định; 01 cân tiểu ly;
    • - Trả lại bị cáo Đỗ Văn H 02 điện thoại nhãn hiệu iPhone. Bà Nguyễn Thị N là mẹ bị cáo nhận thay.
    • - Trả lại cho bị cáo Đỗ Văn H: số tiền 1.100.000 đồng (Một triệu một trăm nghìn đồng)
    • (Vật chứng có đặc điểm như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/ 01/2025 giữa Công an tỉnh và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hưng Yên).
  3. Về án phí: Bị cáo Đỗ Văn H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - Vụ GĐKT 1 - TAND tối cao;
  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Hưng Yên;
  • - Cơ quan CSĐT-CA tỉnh Hưng Yên;
  • - Phòng HSNV-CA tỉnh Hưng Yên;
  • - Cục THADS tỉnh Hưng Yên;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HSVA, VP, THS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Duy Phượng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 33/2025/HS-ST ngày 05/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 33/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hồi 17 giờ 35 phút ngày 16/01/2024, tại thôn Đ, xã C, huyện V, tỉnh Hưng Yên, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh H phối hợp với Công an xã C bắt quả tang Đỗ Văn H có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy đã bị phát hiện, bắt giữ.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger