Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẦU GIẤY

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Bản án số: 33/2025/KDTM-ST

Ngày: 23/6/2025

V/v: Tranh chấp Hợp đồng thi công.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẦU GIẤY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Hà

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Đào Thị Kim Tuyến

2. Ông Nguyễn Mạnh Hùng

Thư ký phiên tòa: Ông Hà Hùng Cường - Thư ký Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa: Ông Nghiêm Đình T - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý 53/2025/TLST-KDTM ngày 24/4/2025 về tranh chấp hợp đồng thi công theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 107/2025/QĐXXST-KDTM ngày 06 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Công ty TNHH Đ2.

Địa chỉ: Số F, tổ E, phường T, quận T, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn H - Chức danh: Giám đốc.

Người đại diện theo uỷ quyền: Công ty L (Theo Hợp đồng uỷ quyền số 243/2025/HĐUQ/MINHTHULAWS-ĐVH ngày 24/3/2025).

Người đại diện: Ông Nguyễn Đắc T1 – Giám đốc. Có mặt.

Bị đơn: Công ty TNHH MTV N2.

Địa chỉ: Số B phố T, phường D, quận C, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Đức D- Giám đốc. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

1

1. Nguyên đơn Công ty TNHH Đ2 do ông Trần Đăng H1 là người đại diện theo ủy quyền trình bày tại đơn khởi kiện và tại các biên bản làm việc tại Tòa án như sau:

Công ty TNHH MTV N2 có ký kết với Công ty TNHH Đ2- 11/7/2022/HĐKT/ĐVH về cung cấp và thi công ốp, lát đá granite tự nhiên nào ngày 11/7/2022. Theo đó, Công ty TNHH Đ2 và thi công hạng mục ốp đá granite tự nhiên cho công trình số G N, quận L, Thành phố. Hà Nội. Tiến độ thi công theo thỏa thuận. Tổng giá trị hợp đồng tạm tính là 93.527.500 đồng.

Tại Điều 7, Điều 8, Điều 9 Hợp đồng kinh tế số 01-11/07/20222/HĐKT/ĐVH ngày 11/7/20222 nêu trên đã thỏa thuận rõ ràng về nghĩa vụ, thời hạn thanh toán, cụ thể:

  • Sau khi ký hợp đồng trong vòng 03 ngày làm việc, Công ty TNHH MTV N2 có trách nhiệm tạm ứng số tiền là: 20.000.000 đồng (Bằng chữ: Hai mươi triệu đồng).
  • Sau khi Công ty TNHH Đ2 thi công xong toàn bộ khối lượng công việc theo Hợp đồng, hai bên tiến hành thủ tục quyết toán. Trong vòng 10 ngày kể từ ngày Công ty TNHH Đ2 hoàn tất hồ sơ quyết toán thì Công ty TNHH MTV N2 có trách nhiệm thanh toán đến 100% giá trị quyết toán hoàn thành của hợp đồng và phụ lục hợp đồng (nếu có) cho Công ty TNHH Đ2, trừ đi các khoản tạm ứng.

Công ty TNHH MTV N2 có trách nhiệm tạm ứng và quyết toán cho Công ty TNHH Đ2 theo đúng quy định nêu tại Điều 7 của Hợp đồng, nếu không Công ty TNHH Đ2 sẽ không chịu trách nhiệm về tiến độ công trình.

  • Tiền phạt vi phạm của Công ty TNHH MTV N2, hoặc bên Công ty TNHH Đ2 không quá 8% giá trị hợp đồng.
  • Nếu Công ty TNHH MTV N2 trong việc thanh toán so với thời gian quy định mà không do lỗi của Công ty TNHH Đ2 hoặc không do sự kiện bất khả kháng, Công ty TNHH MTV N2 phải trả phần lãi suất theo lãi vay ngắn liên ngân hàng tại thời điểm đó trên tổng số tiền chậm thanh toán. Phần tiền phạt thanh toán chậm sẽ được cộng vào khi thanh toán và Công ty TNHH MTV N2 phải thanh toán cho Công ty Đ2 tối đa không quá 07 ngày.

Sau khi ký hợp đồng kinh tế số: 01-11/7/2022/HĐKT/ĐVH ký ngày 11/07/2022, Công ty TNHH Đ2 đã thực hiện hợp đồng theo đúng thỏa thuận, nhưng Công ty TNHH MTV N2 đã nhiều lần vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ khi không thanh toán cũng như thanh toán không đầy đủ theo quy định tại Hợp đồng. Ngày 06 tháng 8 năm 2022, Công ty TNHH Đ2 đã gửi bảng quyết toán khối lượng hoàn thành và biên bản đối chiếu công nợ cho Công ty TNHH MTV N2. Công ty TNHH MTV N2 xác nhận, thống nhất về công nợ, theo đó, Công ty TNHH MTV N2 còn phải thanh toán cho Công ty TNHH Đ2 là 73.278.790 đồng. Công ty TNHH Đ2 đã nhiều lần yêu cầu Công ty TNHH MTV N2 thanh toán toàn bộ số tiền nêu trên nhưng đều không nhận được phản hồi.

Nhận thấy, việc Công ty TNHH MTV N2 không thực hiện nghĩa vụ thanh toán làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới quyền và lợi ích hợp pháp của Công ty TNHH Đ2.

Ngày 22 tháng 01 năm 2024, Công ty TNHH Đ2 làm đơn trình báo tố giác tội phạm về hành vi "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản" của ông Nguyễn Đức D (người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH MTV N2) đến cơ quan Cảnh sát Điều tra - Công an quận C. Tuy nhiên, ngày 23 tháng 2 năm 2024, Cơ quan Cảnh sát Điều tra - Công an quận C đã ban hành Phiếu hướng dẫn số 699/CQĐT - CSKT về việc hướng dẫn gửi đơn đến Tòa án nhân dân có thẩm quyền giải quyết. Ngày 15 tháng 3 năm 2024, Công ty TNHH Đ2 làm đơn khiếu nại đối với phiếu hướng dẫn số 699/CQĐT - CSKT ngày 23 tháng 2 năm 2024 của Cơ quan Cảnh sát Điều tra - Công an quận C.

Ngày 02 tháng 4 năm 2024, Cơ quan Cảnh sát Điều tra - Công an quận C ban hành thông báo số 1457/CQĐT - CSKT về việc thông báo và đề nghị Công ty TNHH Đ2 gửi đơn đề Tòa án nhân dân để giải quyết. Không đồng ý với nội dung thông báo số 1457/CQĐT - CSKT ngày 02 tháng 4 năm 2024, Công ty TNHH Đ2 tiếp tục làm đơn khiếu nại đối với thông báo trên. Tuy nhiên, ngày 14 tháng 6 năm 2024, Cơ quan Cảnh sát Điều tra - Công an quận C tiếp tục ban hành thông báo số 4000/CQĐT - CSKT với nội dung tương tự.

Do đó, để đảm bảo được quyền và lợi ích của Công ty không bị xâm phạm, Công ty TNHH Đ2 khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội xem xét buộc Công ty TNHH MTV N2 thanh toán cho Công ty TNHH Đ2 số tiền theo Hợp đồng kinh tế số: 01-11/7/2022/HĐKT/ĐVH ký ngày 11/07/2022 tạm tính đến ngày 23/6/2025 là: 100.263.557 đồng, trong đó: tiền nợ gốc là 73.278.790 đồng; Nợ lãi chậm trả tạm tính từ ngày 06/8/2022 đến ngày 23/6/2025 với mức lãi suất 10%/năm là 21.122.464 đồng; Tiền phạt vi phạm với mức phạt là 08%/tiền vi phạm là 5.862.303 đồng.

3

Kể từ ngày 24/6/2025, Công ty TNHH MTV N2 còn phải tiếp tục chịu lãi chậm thanh toán với mức lãi 10%/năm cho đến khi Công ty TNHH MTV N2 tất toán toàn bộ khoản nợ gốc cho Công ty TNHH Đ2.

Ngoài ra, Công ty TNHH Đ2 không còn yêu cầu nào khác.

2. Bị đơn Công ty TNHH MTV N2 do ông Nguyễn Đức D là người đại diện theo pháp luật trình bày tại bản ghi ý kiến và tại buổi hoà giải tại Toà án như sau:

Công ty TNHH MTV N2 xác nhận có ký kết với Công ty TNHH Đ2 Hợp đồng kinh tế số 01-11/7/2022/HĐKT/ĐVH ngày 11/7/2022 về cung cấp và thi công ốp, lát đá granite tự nhiên. Theo đó, Công ty TNHH Đ2 và thi công hạng mục ốp đá granite tự nhiên cho công trình số G N, quận L, Thành phố Hà Nội, tiến độ thi công theo thỏa thuận, tổng giá trị hợp đồng tạm tính là 93.527.500 đồng.

Công ty TNHH MTV N2 xác nhận tạm tính đến ngày 30/12/2024, Công ty TNHH MTV N2 còn nợ Công ty TNHH Đ2 tổng số tiền theo Hợp đồng kinh tế số 01-11/7/2022/HĐKT/ĐVH là 94.118.790 đồng, trong đó: Tiền nợ gốc là 73.278.790 đồng; Tiền lãi chậm trả tạm tính từ ngày 06/8/2022 đến ngày 06/6/2025 với mức lãi suất 10%/năm là 20.800.000 đồng; Khoản tiền phạt vi phạm với mức phạt là 08%/tiền vi phạm là 5.840.000 đồng.

Do tình hình công ty kinh doanh khó khăn, Công ty TNHH MTV N2 xin đưa ra phương án thanh toán cho Công ty TNHH Đ2 như sau: Công ty TNHH MTV N2 thanh toán 5.000.000 đồng/tháng cho Công ty TNHH Đ2 cho đến khi tất toán toàn bộ khoản nợ gốc. Đề nghị Công ty TNHH Đ3 toàn bộ lãi và tiền phạt vi phạm cho Công ty TNHH MTV N2.

Ngoài ra, Công ty TNHH MTV N2 không còn ý kiến gì khác.

* Tại phiên tòa:

- Nguyên đơn Công ty TNHH Đ2 do ông Nguyễn Đắc T1 là người đại diện theo ủy quyền trình bày:

Nguyên đơn Công ty TNHH Đ2 vẫn giữ nguyên quan điểm trình bày, không đồng ý với phương án thanh toán của Công ty TNHH MTV N2. Công ty giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị Toà án giải quyết vấn đề sau:

Yêu cầu Công ty TNHH MTV N2 thanh toán cho Công ty TNHH Đ2 số tiền còn thiếu theo Hợp đồng kinh tế số 01- 11/7/2022/HĐKT/ĐVH ngày 11/7/2022 với tổng số tiền tạm tính đến ngày 23/6/2025 là 100.263.557 đồng, trong đó: tiền nợ gốc là 73.278.790 đồng; Nợ lãi chậm trả tạm tính từ ngày 06/8/2022 đến ngày 23/6/2025 với mức lãi suất 10%/năm là 21.122.464 đồng; Tiền phạt vi phạm với mức phạt là 08%/tiền vi phạm là 5.862.303 đồng.

4

Kể từ ngày 24/6/2025, Công ty TNHH MTV N2 còn phải tiếp tục chịu lãi chậm thanh toán trên số tiền nợ gốc với mức lãi suất 10%/năm cho đến khi tất toán xong toàn bộ khoản tiền còn nợ cho Công ty TNHH Đ2.

- Bị đơn Công ty TNHH MTV N2 có đơn xin xét xử vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận Cầu Giấy tham gia phát biểu ý kiến tại phiên tòa như sau:

Về tố tụng: Trong quá trình khởi kiện, thụ lý hồ sơ và giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa và hội đồng xét xử đã tuân thủ đầy đủ, đúng các quy định của pháp luật về trình tự thủ tục giải quyết vụ án dân sự, đảm bảo được tính khách quan, công minh và tạo điều kiện cho các bên đương sự thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Nguyên đơn, bị đơn trong vụ án đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật. Bị đơn có đơn xin vắng mặt tại phiên toà nên Toà án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt là đúng theo quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng hình sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện Công ty TNHH Đ2. Buộc Công ty TNHH MTV N2 phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho Công ty TNHH Đ2 toàn bộ số còn thiếu theo Hợp đồng kinh tế số 01-11/7/2022/HĐKT/ĐVH ngày 11/7/2022 với tổng số tiền tạm tính đến ngày 23/6/2025 là 100.263.557 đồng, trong đó: tiền nợ gốc là 73.278.790 đồng; Nợ lãi chậm trả tạm tính từ ngày 06/8/2022 đến ngày 23/6/2025 với mức lãi suất 10%/năm là 21.122.464 đồng; Tiền phạt vi phạm với mức phạt là 08%/tiền vi phạm là 5.862.303 đồng.

Kể từ ngày 24/6/2025, Công ty TNHH MTV N2 còn phải tiếp tục chịu lãi chậm thanh toán trên số tiền nợ gốc với mức lãi suất 10%/năm cho đến khi tất toán xong toàn bộ khoản tiền còn nợ cho Công ty TNHH Đ2.

Công ty TNHH MTV N2 phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Về thẩm quyền giải quyết: Công ty TNHH MTV N2 có ký kết với Công ty TNHH Đ2- 11/7/2022/HĐKT/ĐVH về cung cấp và thi công ốp, lát đá granite tự nhiên nào ngày 11/7/2022. Công ty TNHH Đ2 khởi kiện yêu cầu Công ty TNHH MTV N2 phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho Công ty TNHH Đ2 số tiền còn nợ theo hợp đồng trên. Do đó, đây là vụ án tranh chấp hợp đồng thi công được quy định tại Khoản 1 Điều 30 Bộ luật tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Theo Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, Công ty TNHH MTV N2 có địa chỉ tại Số B phố T, phường D, quận C, thành phố Hà Nội. Căn cứ theo Khoản 1 Điều 35 và điểm a Khoản 1 Điều 39 Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là đúng thẩm quyền.

- Về thời hiệu khởi kiện: Công ty TNHH MTV N2 có ký kết với Công ty TNHH Đ2- 11/7/2022/HĐKT/ĐVH về cung cấp và thi công ốp, lát đá granite tự nhiên nào ngày 11/7/2022 không xác định thời hạn. Ngày 06/08/2022 Công ty TNHH MTV N2 và Công ty TNHH Đ2 đã ký biên bản xác nhận công nợ. Đồng thời, trong quá trình giải quyết vụ án các đương sự không yêu cầu áp dụng thời hiệu khởi kiện. Do đó, căn cứ vào Điều 157 Bộ Luật dân sự năm 2015, Điều 319 Luật Thương mại 2005, vụ án trong thời hạn khởi kiện.

[3] Về nội dung yêu cầu khởi kiện:

- Xét hợp đồng thi công: Công ty TNHH MTV N2 có ký kết với Công ty TNHH Đ2- 11/7/2022/HĐKT/ĐVH về cung cấp và thi công ốp, lát đá granite tự nhiên nào ngày 11/7/2022. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận thấy: Chủ thể, hình thức, nội dung, mục đích ký kết hợp đồng không vi phạm điều cấm của luật, các bên tham gia ký kết hoàn toàn tự nguyện. Căn cứ vào Điều 117; Điều 119 Bộ luật dân sự 2015; Điều 24 Luật thương mại 2005 xác định Hợp đồng kinh tế số 01-11/7/2022/HĐKT/ĐVH vào ngày 11/7/2022 là hợp pháp nên phát sinh quyền và nghĩa vụ của 2 bên tham gia ký kết.

- Về số tiền nợ gốc: Căn cứ vào Bảng quyết toán khối lượng hoàn thành và biên bản đối chiếu công nợ ngày 06/8/2022 được xác nhận bởi Công ty TNHH MTV N2 và Công ty TNHH Đ2 đều thể hiện Công ty TNHH Đ2 đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ về việc cung cấp và thi công công trình cho Công ty TNHH MTV N2 theo Hợp đồng kinh tế số 01-11/7/2022/HĐKT/ĐVH vào ngày 11/7/2022. Tuy nhiên căn cứ biên bản xác nhận công nợ ngày 06/8/2022 ký giữa Công ty TNHH MTV N2 và Công ty TNHH Đ2 và phần trình bày của Công ty TNHH MTV N2 tại Toà án đều thể hiện việc Công ty TNHH MTV N2 không thực hiện đúng, đủ nghĩa vụ thanh toán tiền thi công cho Công ty TNHH Đ2. Theo đó, số tiền nợ gốc mà Công ty TNHH MTV N2 vẫn chưa thanh toán cho Công ty TNHH Đ2 theo hợp đồng thi công trên là 73.278.790 đồng. Từ ngày kết thúc hợp đồng thi công đến nay, mặc dù Công ty TNHH Đ2 đã nhiều lần yêu cầu, nhưng Công ty TNHH MTV N2 vẫn không tiếp tục thực hiện nghĩa vụ thanh toán.

Như vậy, căn cứ tài liệu trong hồ sơ vụ án, điểm đ khoản 2 Điều 112 Luật xây dựng năm 2014, và Điều 15 trong Hợp đồng kinh tế số 01-11/7/2022/HĐKT/ĐVH vào ngày 11/7/2022 có đủ cơ sở để HĐXX xác nhận Công ty TNHH MTV N2 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán tiền thi công theo hợp đồng kinh tế. Do đó, HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH Đ2, buộc Công ty TNHH MTV N2 phải thanh toán tiền nợ gốc là 73.278.790 đồng.

- Về nợ lãi chậm thanh toán: Do Công ty TNHH MTV N2 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán phí thi công xây dựng cho Công ty TNHH Đ2 theo Hợp đồng kinh tế số 01-11/7/2022/HĐKT/ĐVH về cung cấp và thi công ốp, lát đá granite tự nhiên nào ngày 11/7/2022 nên căn cứ khoản 1 Điều 357 Bộ Luật dân sự năm 2015, Công ty TNHH MTV N2 phải chịu tiền lãi chậm trả trên số nợ gốc chậm thanh toán. Xét thấy mức lãi suất chậm thanh toán hai bên thỏa thuận 10%/năm tại Biên bản hòa giải ngày 14/5/2025 là phù hợp theo khoản 2 Điều 357, khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 nên được chấp nhận. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về nợ lãi chậm thanh toán với mức lãi suất là 10%/năm/số tiền chậm thanh toán. Công ty TNHH MTV N2 phải thanh toán số tiền nợ lãi chậm trả tạm tính từ ngàu 6/8/2022 đến ngày 23/6/2025 là: 73.278.790 đồng x (10%/365ngày) x 1052 ngày = 21.122.464 đồng.

- Về tiền phạt vi phạm nghĩa vụ thanh toán: Do Công ty TNHH MTV N2 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán phí thi công xây dựng cho Công ty TNHH Đ2 theo Hợp đồng kinh tế số 01-11/7/2022/HĐKT/ĐVH về cung cấp và thi công ốp, lát đá granite tự nhiên nào ngày 11/7/2022 nên bị đơn phải thanh toán số tiền phạt vi phạm cho nguyên đơn. Căn cứ theo Điều 9 của Hợp đồng kinh tế số 01-11/7/2022/HĐKT/ĐVH và tại biên bản hòa giải ngày 14/5/2025, hai bên thỏa thuận trường hợp Công ty TNHH MTV N2 chậm thanh toán so với thời gian quy định mà không do lỗi của Công ty nguyên đơn hoặc không do sự kiện bất khả kháng, bị đơn phải trả số tiền chậm thanh toán là 8%/tiền vi phạm. Xét thấy, thỏa thuận của hai bên là phù hợp theo Điều 301 Luật thương mại 2005. Do đó, bị đơn phải thanh toán cho nguyên đơn số tiền vi phạm là: 8% x 73.278.790 = 5.862.303 đồng.

7

Như vậy, tổng số tiền nợ gốc, nợ lãi chậm trả và tiền phạt vi phạm hợp đồng Công ty TNHH MTV N2 phải thanh toán cho Công ty TNHH Đ2 tạm tính đến ngày 23/06/2025 là 100.263.557 đồng.

Kể từ ngày 24/6/2025 Công ty TNHH MTV N2 phải tiếp tục phải chịu lãi chậm thanh toán với mức lãi suất 10%/năm cho đến khi tất toán xong toàn bộ khoản tiền còn nợ cho Công ty TNHH Đ2.

[4] Về án phí sơ thẩm:

Theo quy định tại Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án Công ty TNHH MTV N2 phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm của số tiền 100.263.557 đồng, số tiền là 5.013.000 đồng.

Công ty TNHH Đ2 được hoàn lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.

[5] Quyền kháng cáo : Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên!

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ:

  • Điều 117, Điều 119, Điều 357, khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015;
  • Điều 301 Luật thương mại 2005;
  • điểm đ khoản 2 Điều 112 Luật xây dựng năm 2014;
  • Điều 30; điểm a, khoản 1, Điều 35; điểm a, khoản 1, Điều 39; Điều 147, Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 244, 264, 267, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
  • Điều 24, 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện Công ty TNHH Đ2 đối với Công ty TNHH MTV N2 về việc thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo Hợp đồng kinh tế số 01-11/7/2022/HĐKT/ĐVH vào ngày 11/7/2022.

Buộc Công ty TNHH MTV N2 phải thanh toán cho Công ty TNHH Đ2 Hoàng tiền tạm tính đến ngày 23/06/2025 tổng số tiền là 100.263.557 đồng. Trong đó: Tiền nợ gốc là 73.278.790 đồng; Tiền lãi chậm trả tạm tính từ ngày 06/08/2022 đến ngày 23/6/2025 số tiền là: 21.122.464 đồng, tiền phạt vi phạm hợp đồng là: 5.862.303 đồng.

Kể từ ngày 24/06/2025 cho đến khi thi hành xong bản án, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc còn phải thi hành án theo mức lãi suất 10%/năm.

2. Về án phí: Công ty TNHH MTV N2 phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm là 5.013.000 đồng.

Công ty TNHH Đ2 được hoàn lại số tiền 2.352.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 0047181 ngày 23/4/2025 tại Cục thi hành án dân sự quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội.

Án xử công khai, có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn. Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.

Nơi nhận:

  • - TAND TP.Hà Nội;
  • - VKSND quận Cầu Giấy;
  • - Chi cục THADS quận Cầu Giấy;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Lê Thị Ngọc Hà

9

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 33/2025/KDTM-ST ngày 23/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẦU GIẤY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng thi công

  • Số bản án: 33/2025/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng thi công
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/06/2025
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẦU GIẤY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp Hợp đồng thi công
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger