|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y TỈNH NINH BÌNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 33/2025/HSST
Ngày 28/5/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y - TỈNH NINH BÌNH
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Bích Thủy
Các Hội thẩm nhân dân:
- -Bà Đinh Thị Ngọc Lan, phó Bí thư đoàn Thanh niên CSHCM H. Y.
- - Ông Nguyễn Hà Giang, phó Chủ tịch Hội CCB xã Khánh Hội, H. Y.
-Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Kim Hạnh, Thư ký Toà án nhân dân huyện Y - tỉnh Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Y - tỉnh Ninh Bình tham gia phiên toà: Ông Trần Văn Tuấn, Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 26/2025/HSST ngày 29 tháng 4 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2025/QĐXXST-HS ngày 09/5/2025; Thông báo thay đổi lịch xét xử số 360 /TA ngày 22/5/2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Thanh B, sinh ngày: 20/12/2007 (đến thời điểm phạm tội bị cáo 17 tuổi 12 ngày); Tại Nam Định. Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam.Nơi cư trú: thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Nam Định.Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do, Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: không. Con ông: Nguyễn Văn C và bà Trần Thị T.Vợ, con: chưa có. Tiền án, tiền sự: Không.
Về nhân thân: Ngày 11/3/2025, Nguyễn Thanh B bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H ra Quyết định khởi tố bị can về tội “Cướp giật tài sản” về hành vi phạm tội ngày 02/3/2025 hiện vụ án đã được đưa ra xét xử vào ngày 20/5/2025 và bị tạm giam tại Quyết định tạm giam số 82/2025/HSST- QĐTG ngày 20/5/2025 và Bản án số 82/2025/HSST ngày 20/5/2025 của Hội đồng xét xử Toà án nhân dân thị xã Duy Tiên tỉnh Hà Nam.
Tại phiên toà, bị cáo có mặt.
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Thanh B: Bà Trần Thị T, sinh năm 1983 (mẹ đẻ bị cáo); nơi cư trú: thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Nam Định. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thanh B: Ông Phạm Duy H là Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh N. Có mặt.
- Bị hại: Anh Phạm Hồng Q, sinh năm 1982; nơi cư trú: xóm C, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình. Vắng mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Trần Thị T, sinh năm 1983; nơi cư trú: thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Nam Định. Có mặt
- Người làm chứng: Chị Phạm Thị L, sinh năm 1980; Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Thanh B, sinh ngày 20/12/2007, trú tại thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Nam Định là người không có việc làm ổn định. Để có tiền tiêu xài cá nhân B đã nảy sinh ý định chiếm đoạt điện thoại của các cửa hàng điện thoại di động để bán lấy tiền.
Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 01/02/2025, B điều khiển xe mô tô đeo biển kiểm sát 18P3-0209 đi một mình từ nhà đến khu vực huyện Y, tỉnh Ninh Bình tìm các cửa hàng điện thoại di động có sơ hở để chiếm đoạt. Khoảng 15 giờ cùng ngày, B đi đến khu vực xóm C, xã K, huyện Y thấy cửa hàng điện thoại di động “Quân Mobile" của anh Phạm Hồng Q, sinh năm 1982, trú tại xóm C, xã K, huyện Y nằm ngay mặt đường nên đã nảy sinh ý định chiếm đoạt điện thoại trong cửa hàng. B dựng xe mô tô ở trước cửa quán “Quân M", rồi đi vào bên trong gặp chủ quán là anh Phạm Hồng Q và giả vờ hỏi mua một chiếc điện thoại Iphone 11 promax thì anh Q đưa cho B xem 02 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 promax loại 64GB (một chiếc màu trắng và một chiếc màu đen). Lúc này, B thấy anh Q chưa có sơ hở nên chưa dám chiếm đoạt điện thoại, B trả lại 02 chiếc điện thoại cho anh Q và rời đi.
Đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, B điều khiển xe mô tô quay lại cửa hàng Q1, B nói với anh Q đưa cho xem hai chiếc điện thoại di động Iphone 11 promax lúc trước thì anh Q đồng ý. Sau khi cầm xem điện thoại khoảng 05 phút, thấy anh Q đang mải nói chuyện với khách hàng, B đặt chiếc điện thoại đang xem xuống mặt tủ kính (quầy bán hàng của anh Q là tủ kính có dạng hình chữ L), B đi ra ngoài chỗ dựng xe mô tô quay đầu xe về phía xã K, huyện Y và cắm chìa khóa, nổ máy chờ sẵn rồi quay lại vào trong quán tiếp tục kiểm tra điện thoại, lợi dụng lúc anh Q mất cảnh giác B đã đút chiếc điện thoại Iphone 11 promax màu đen vào túi quần bên trái đang mặc, bỏ chạy ra ngoài rồi lên xe mô tô nhanh chóng tẩu thoát, khi anh Q phát hiện B bỏ chạy đã chạy đuổi theo nhưng không kịp. Cùng ngày 01/02/2025, anh Q đã trình báo cơ quan Công an xã K, huyện Y.
Sau khi chiếm đoạt được điện thoại, B điều khiển xe mô tô về thành phố N để tìm nơi bán chiếc điện thoại trên, đến tối cùng ngày B gặp một người đàn ông không quen biết tại thành phố N và đã bán chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 pro max, dung lượng 64GB, màu đen với giá 5.500.000 đồng, số tiền này B đã chi tiêu cá nhân hết.
Ngày 13/02/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Y kết luận giá trị của: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, dung lượng 64GB, vỏ máy màu đen đã qua sử dụng tại thời điểm ngày 01/02/2025 trị giá là 8.433.300 đồng.
Đến ngày 02/03/2025, B tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội tại một cửa hàng điện thoại ở thị xã D, tỉnh Hà Nam và bị bắt quả tang. Cơ quan CSĐT Công an tỉnh H ra Quyết định khởi tố bị can ngày 12/3/2025 về tội “Cướp giật tài sản” ( hiện vụ án đã được Toà án nhân dân thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam đưa ra xét xử ngày 20/5/2025).
Nguyễn Thanh B đã thừa nhận hành vi chiếm đoạt chiếc điện thoại Iphone 11 promax màu đen của anh Phạm Hồng Q vào ngày 01/02/2025; cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N ra Quyết định khởi tố bị can số 47/QĐ- CSHS ngày 20/3/2025.
Về vật chứng, tài sản thu giữ:
- Đối với 01 điện thoại Iphone 11 Promax dung lượng 64GB, vỏ máy màu đen là tài sản của anh Phạm Hồng Q. Quá trình điều tra, xác định Nguyễn Thanh B đã bán chiếc điện thoại chiếm đoạt của anh Q cho một người đàn ông không quen biết, do đó cơ quan điều tra không thu giữ được.
- Đối với xe mô tô đeo biển kiểm sát 18P3-0209 là tài sản của bà Trần Thị T, mẹ đẻ của Nguyễn Thanh B, ngày 01/02/2025 bàThắm cho B mượn xe nhưng không biết việc B sử dụng chiếc xe trên để đi cướp giật tài sản. Sau đó, chiếc xe đã bị Cơ quan CSĐT Công an tỉnh H thu giữ khi B thực hiện hành vi cướp giật tài sản tại tỉnh Hà Nam; Do đó, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh N không thu giữ chiếc xe trên.
Về trách nhiệm dân sự: Nguyễn Thanh B đã tác động để gia đình bồi thường cho anh Phạm Hồng Q giá trị của chiếc điện thoại Iphone 11 promax là 8.433.300 đồng, anh Q đã nhận tiền và không có yêu cầu đề nghị gì khác.
Tại bản Cáo trạng số 26/CT-VKS ngày 28/4/2025 Viện kiểm sát nhân dân huyện Y đã truy tố bị cáo Nguyễn Thanh B về tội “Cướp giật tài sản” theo khoản 1 Điều 171 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị: Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh B phạm tội Cướp giật tài sản. Áp dụng khoản 1 Điều 171, điều 38; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 90, 91, 98, 101 Bộ luật hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 119; Điều 179 Luật tư pháp người chưa thành niên số 59/2024/QH15 ngày 30/11/2024 đề nghị xử phạt bị cáo từ 09 đến 12 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt đi chấp hành án. Về án phí: áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo cũng đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu ở trên, không tranh luận gì, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người đại diện hợp pháp của bị cáo trình bày: Đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát huyện Y đã truy tố đối với bị cáo Nguyễn Thanh B và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo B.
Người bào chữa của bị cáo trình bày: Đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát huyện Y đã truy tố đối với bị cáo Nguyễn Thanh B và đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 171, điều 38; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 90, Điều 91, Điều 98, Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 119; Điều 179 Luật tư pháp người chưa thành niên số 59/2024/QH15 ngày 30/11/2024 đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh B hình phạt thấp nhất theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1].Về hành vi phạm tội:
Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 01/02/2025 tại cửa hàng điện thoại “Quân M” của anh Phạm Hồng Q ở xóm C, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình, Nguyễn Thanh B đến giả vờ mua điện thoại, đã bảo với anh Q đưa cho xem điện thoại, anh Q đưa điện thoại cho bị cáo xem, lợi dụng lúc anh Q không để ý; Nguyễn Thanh B đã đút chiếc điện thoại Iphone 11 promax màu đen trị giá 8.433.300 đồng của anh Q vào trong túi quần rồi nhanh chóng lên chiếc xe mô tô mà bị cáo đã nổ máy sẵn để tẩu thoát.
Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng; biên bản khám nghiệm hiện trường, bản ảnh hiện trường; kết luận định giá tài sản, Biên bản trích xuất dữ liệu qua camera và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Thanh B phạm tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015 như Viện kiểm sát nhân dân huyện Y đã truy tố là đúng người đúng pháp luật.
“Điều 171. Tội Cướp giật tài sản
1. Người nào cướp giật tài sản của người khác thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
...”
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được luật Hình sự bảo vệ, gây mất trật tự an toàn cho xã hội. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự. Hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo khi phạm tội là người chưa đủ 18 tuổi nên cần áp dụng các Điều 90, 91, 98, 101 Bộ luật hình sự năm 2015 và Luật tư pháp người chưa thành niên năm 2024 cho bị cáo; Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có. Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo chưa có tiền án, sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, bị cáo đã nói với gia đình để gia đình bồi thường thiệt hại là tự nguyện bồi thường thiệt hại, về hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, mẹ bị cáo bị bệnh u tuyến giáp có xác nhận của Chính quyền địa phương; ông nội bị cáo là thương binh tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. Do vậy cần xử phạt bị cáo mức hình phạt tù tương xứng cách ly bị cáo với xã hội một thời gian để bị cáo có điều kiện cải tạo thành công dân có ích cho xã hội đồng thời thể hiện tính răn đe, giáo dục pháp luật và phòng ngừa chung. Thời hạn tù tính từ ngày bắt đi chấp hành án. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Quyết định tạm giam số 82/2025/HSST ngày 20/5/2025 của Toà án nhân dân thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam.
[2].Về trách nhiệm dân sự: Anh Phạm Hồng Q là người bị hại đã được bồi thường giá trị chiếc điện thoại bị mất là 8.433.300đồng và không có yêu cầu đề nghị gì nên vấn đề trách nhiệm dân sự không đặt ra xem xét giải quyết.
[3] Về xử lý vật chứng: Chiếc xe mô tô do bị cáo điều khiển bị cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh H thu giữ trong vụ án khác nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[4]. Các vấn đề khác:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Y, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Y, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định ủa Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Đối với người đàn ông đã mua lại chiếc điện thoại Iphone 11 Promax do B phạm tội mà có. Quá trình điều tra, B khai nhận gặp người đàn ông này trên đường ở khu vực thành phố N, B không biết nhân thân, lai lịch người này ở đâu; quá trình mua bán hai người giao dịch bằng tiền mặt. Do đó cơ quan điều tra không đủ căn cứ xác minh làm rõ.
Án phí: Bị cáo bị xử có tội không thuộc trường hợp miễn án phí nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa của bị cáo được quyền kháng cáo trong thời gian luật định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 171, điều 38; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, các Điều 90, 91, 98, 101 Bộ luật hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 119; Điều 179 Luật tư pháp người chưa thành niên số 59/2024/QH15 ngày 30/11/2024 ; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thanh B phạm tội “Cướp giật tài sản”
Xử phạt Nguyễn Thanh B 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt đi chấp hành án.
2.Về án phí HSST: Bị cáo Nguyễn Thanh B phải nộp 200.000đồng.(Hai trăm nghìn đồng).
Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa của bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (Đã ký) Nguyễn Thị Bích Thủy |
Bản án số 33/2025/HSST ngày 28/05/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y - TỈNH NINH BÌNH về hình sự: cướp giật tài sản
- Số bản án: 33/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự: Cướp giật tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/05/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y - TỈNH NINH BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: “Cướp giật tài sản” theo khoản 1 Điều 171 Bộ luật hình sự.
