Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ

TỈNH QUẢNG TRỊ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2025/HSST

Ngày 11 - 3 - 2025

-

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Quốc Huy

Các Hội thẩm nhân dân:

  • Bà Nguyễn Thị Mỹ Vinh;
  • Bà Võ Thị Kim Lan.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thuý Hằng- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Ông Trần Công Thắng- Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 3 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị (Địa chỉ: Số D- L, thành phố Đ), Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 25/2025/TLST-HS ngày 10/02/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 29/2025/QĐXXST-HS ngày 25/02/2025, đối với bị cáo:

Nguyễn Tăng C (Tên gọi khác: T), sinh ngày 03/02/1972, tại: Tỉnh Quảng Trị; Nơi cư trú: Khu phố E, phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Thợ xây; Con ông Nguyễn văn P (Đã chết) và con bà Nguyễn Thị C1, sinh năm 1933; Vợ: Nguyễn Thị L, sinh năm 1969, có 02 người con, lớn sinh năm 1994, nhỏ sinh năm 2003; Gia đình có 02 anh em, bị can là con thứ hai.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại: Bà Nguyễn Thị D, sinh năm: 1966 (Đã chết)

Đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1935 (Mẹ bị hại); Ông Ôn Văn T2, sinh năm 1961 (Chồng bị hại); Anh Ôn Văn L1, sinh năm 1992 và anh Ôn Văn P1, sinh năm 1994 (Con bị hại); Cùng trú tại: Thôn P, xã T, huyện C, tỉnh Quảng Trị.

Người đại diện theo uỷ quyền của đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Ôn Văn T2, sinh năm 1961; trú tại: Thôn P, xã T, huyện C, tỉnh Quảng Trị (Văn bản ủy quyền ngày 01/3/2018). Có mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Đặng Thị D1, sinh năm 1965; trú tại: A Quốc lộ A, Phường B, quận B, thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.

* Người làm chứng:

  • Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1969; trú tại: Khu phố F, phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị. Có mặt.
  • Ông Nguyễn B, sinh năm 1961; trú tại: Thôn L, xã C, huyện C, tỉnh Quảng Trị. Vắng mặt.
  • Ông Hoàng Đình T3, sinh năm 1970; trú tại: Thôn T, xã G, huyện G, tỉnh Quảng Trị. Vắng mặt.
  • Ông Hồ H, sinh năm 1969; trú tại: Đ, thôn G, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị. Có mặt.

NỘI DUNG:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

[1] Tháng 9 năm 2017, bà Đặng Thị D1; trú tại Khu phố D, Phường E, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị (Là chủ đầu tư) với Nguyễn Tăng C thỏa thuận bằng miệng về việc C thi công công trình nhà cho bà D1, tại địa chỉ: Khu phố B, Phường E, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị, với nội dung: Bà D1 giao khoán thuê C nhận thầu nhân công thi công công trình, chịu trách nhiệm đảm bảo an toàn thi công, an toàn lao động trong quá trình thi công xây dựng công trình; Bà D1 chỉ cung cấp vật liệu xây dựng, không thuê đơn vị giám sát độc lập. Sau đó, C thuê nhân công, gồm: Thợ xây (Ông Hoàng Đình T3, ông Hồ H, và ông Nguyễn B), phụ hồ (Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1969, trú tại Khu phố E, phường Đ, thành phố Đ và bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1966, trú tại xã T, huyện C, tỉnh Quảng Trị) để thi công công trình trên nhưng chỉ thỏa thuận miệng mà không làm hợp đồng. C vừa làm thợ xây, vừa chịu trách nhiệm quản lý thi công, giám sát quá trình thi công.

Khoảng 13 giờ ngày 24/01/2018, Thợ xây và phụ thợ có mặt tại công trình, C phân công công việc, cụ thể: Bà L ở mặt đất phụ trách máy tời đưa vật liệu xây dựng (Cát, Xi măng) lên tầng 6; bà D ở tầng 6, nhận vật liệu do bà L sử dụng tời đưa lên, phụ hồ giúp cho C cùng với nhóm thợ xây tiến hành tô trát tường ở tầng 6.

Khoảng 13 giờ 20 phút cùng ngày, khi bà D đang đứng cạnh cọc tời đặt ở mặt sàn tầng 6, sát khoảng hở lan tầng 6 (lan can tầng 6 chưa lắp đặt kín, còn một khoảng hở tường bê tông lan can rộng khoảng 03 mét, không có rào chắn bảo vệ) đợi nhận vật liệu (thông qua máy tời, đặt ở vỉa hè trước công trình) thì dây neo cọc tời bị đứt, cọc tời rơi khỏi mặt sàn dẫn tới việc bà D bị ngã từ mặt sàn tầng 6 xuống mặt đất và tử vong.

[2] Vật chứng: 01 đoạn sắt phi 06, dài 57cm; 01 đoạn sắt phi 06, dài 34cm.

[3] Kết luận giám định:

  • Tại bản kết luận giám định số: 185/KLGĐ ngày 20/02/2018 của Phòng K Công an tỉnh Q, xác định: Dấu vết hình thành trên hai đầu đoạn sắt phi 06 được gửi đến giám định là dấu vết gãy do mỏi; Hai đoạn sắt phi 06 được gửi đến giám định là gãy ra cùng một cây sắt.
  • Tại bản kết luận giám định số: 142/KLGĐ-PC54 ngày 23/02/2018 của Phòng K Công an tỉnh Q, xác định: Nguyên nhân chết của bà Nguyễn Thị D do đa chấn thương.

[4] Truy tố: Cáo trạng số: 303/CT-VKS-ĐH ngày 10/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị, truy tố bị cáo Nguyễn Tăng C, về tội: “Vi phạm quy định về an toàn lao động” theo khoản 1 Điều 295 của Bộ luật Hình sự

[5] Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên cáo trạng truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tăng C, phạm tội: “Vi phạm quy định về an toàn lao động”.
  • * Trách nhiệm hình sự: Áp dụng khoản 1 Điều 295, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 12 đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng.
  • * Trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, C đồng ý bồi thường thêm số tiền 20.000.000 đồng theo yêu cầu của đại diện bị hại, cần chấp nhận.
  • * Án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[I] Hoạt động tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, thấy: Các hoạt động tố tụng về điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về trình tự, thủ tục được quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[II] Về trách nhiệm hình sự:

(1) Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Tăng C khai nhận toàn bộ hành vi “Vi phạm quy định về an toàn lao động” mà bị cáo đã thực hiện vào cuối ngày 24/01/2018 như nội dung Cáo trạng số: 303/CT-VKS-ĐH ngày 10/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị, truy tố bị cáo. Lời khai nhận tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, đồng thời phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở để kết luận:

Trong quá trình thi công (Xây dựng) công trình tại Khu phố D, Phường E, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị, C không tuân thủ đúng các quy định của pháp luật về nghĩa vụ của người sử dụng lao động về an toàn lao động được quy định tại Điều 133, khoản 1 Điều 138, 149, 150 Bộ luật Lao động năm 2012; Điều 12, 14, 15, 16 Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 2015; Điều 2.1.5; Điều 2.19.1.2; Điều 2.19.1.4 QCVN 18:2014/BXD “Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về an toàn trong xây dựng” của Bộ X. Hậu quả, bà Nguyễn Thị D-Người lao động thi công công trình xây dựng nhà ở do C thuê, chết do tai nạn lao động gây ra nên hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Tăng C đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động” quy định tại khoản 1 Điều 295 của Bộ luật Hình sự.

(2) Hành vi của bị can là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quy định của Nhà nước về an toàn lao động, gây thiệt hại cho tính mạng của người khác, ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an trên địa bàn nên cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật. Tuy nhiên, khi lượng hình Hội đồng xét xử, thấy: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hồi cải về hành vi phạm tội của mình, tự nguyện khắc phục thiệt hại theo yêu cầu của đại diện bị hại; đại diện bị hại xin giảm nhẹ hình phạt; bị hại cũng có lổi (Vi phạm quy định tại điểm b khoản 2 Điều 5, Điều 133 Bộ luật Lao động năm 2012; Điều 17 Luật an toàn, vệ sinh lao động năm 2015; Điều 7 Thông tư 04/2017/TT-BXD ngày 30/3/2017 của Bộ trưởng Bộ X quy định về quản lý an toàn lao động trong thi công xây dựng công trình) nên phải áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, b, khoản, khoảnr 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

(3) Xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và tội phạm mà bị cáo gây ra trong vụ án này. Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nhân tốt, có nơi cư trú rõ ràng nên cần áp dụng Điều 56 của Bộ luật Hình sự để cho bị cáo được hưởng án treo, là có căn cứ; cần hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn đối với bị cáo.

(4) Về vật chứng: Cơ quan điều tra đã trả lại toàn bộ vật chứng cho chủ sở hữu (Bà D1), là có căn cứ. Bà D1 không có ý kiến gì thêm nên không xem xét.

[III] Trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, C đồng ý bồi thường thêm số tiền 20.000.000 đồng theo yêu cầu của đại diện bị hại, cần chấp nhận.

[IV] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tăng C (T), phạm tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động”.

1. Trách nhiệm hình sự: Áp dụng khoản 1 Điều 295; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt:

Nguyễn Tăng C: 13 (Mười ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 26 (Hai mươi sáu) tháng, kể từ ngày tuyên án, là ngày 11/3/2025.

Giao bị cáo Nguyễn Tăng C cho Ủy ban nhân dân phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị để giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự, Điều 38 của Luật An toàn, vệ sinh lao động.

Buộc Nguyễn Tăng C phải bồi thường thêm cho những người đại diện hợp pháp của bị hại, số tiền: 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng)

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm thi hành khoản tiền phải thi hành án thì hàng tháng còn phải còn phải chịu thêm khoản tiền lãi tương ứng với số tiền chậm thi hành án tại thời điểm thanh toán. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.

Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí,

Buộc bị cáo Nguyễn Tăng C, phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo bản án: Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - VKSND thành phố Đông Hà;
  • - Bị cáo, đại diện HP bị hại,
  • - Người có QLNVLQ;
  • - VKSND tỉnh Q.Trị;
  • - Phòng KTNV TAND tỉnh Q.Trị;
  • - Công an thành phố Đông Hà;
  • - Chi cục THADS thành phố Đông Hà;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án và Tổ HCTP.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Quốc Huy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 33/2025/HSST ngày 11/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ về vi phạm quy định về an toàn lao động (criminal case)

  • Số bản án: 33/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về an toàn lao động (Criminal Case)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Tăng C vi phạm quy định về an toàn lao động
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger