|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN MỸ TỈNH HƯNG YÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 33/2025/HSST Ngày 11/ 03 / 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN MỸ - TỈNH HƯNG YÊN
Với thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Xuân Quỳnh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Xuân Thuật và ông Vũ Minh Đón.
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Vinh Quy - Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Mỹ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mỹ tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Mạnh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 11/03/ 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 12/2025/TLST-HS ngày 08 tháng 01 năm 2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18 /2025/HSST ngày 05/ 02 / 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 04/ 2025/ QÐST - HS ngày 19 tháng 02 năm 2025, đối với các bị cáo.
1/ Họ và tên: Lường Văn C, sinh ngày 08/3/2006; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Nơi thường trú: bản L, xã T, huyện V, tỉnh Sơn La; Nơi tạm trú: tổ dân phố C, phường B, thị xã M, tỉnh Hưng Yên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Công nhân; Chức vụ trước khi phạm tội: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông: Lường Văn D, sinh năm 1982; Con bà: Đinh Thị X, sinh năm 1982; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
2/ Họ và tên: Lường Văn D, sinh ngày 06/10/1982; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Nơi thường trú: bản L, xã T, huyện V, tỉnh Sơn La; Nơi tạm trú: tổ dân phố C, phường B, thị xã M, tỉnh Hưng Yên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Công nhân; Chức vụ trước khi phạm tội: Không; Trình độ học vấn: 0/12; Họ và tên bố: Lường Văn Đ. Đã chết; Họ và tên mẹ: Hà Thị H, sinh năm 1959; Vợ: Đinh Thị X. Sinh năm 1982.(Đã ly hôn); Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2003, con nhỏ sinh năm 2006.
Tiền sự: Không.
Tiền án: Bản án số 31 ngày 01/7/2022 của Tòa án nhân dân huyện Văn Giang xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội Đánh bạc. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 03/9/2023.
Nhân thân: Ngày 11/7/2016 bị Công an huyện V, tỉnh Sơn La xử phạt vi phạm hành chính về hành vi xúc phạm danh dự nhân phẩm người khác bằng hình thức hạt tiền 200.000đồng. Chấp hành xong ngày 12/7/2016.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại tại địa phương, có mặt tại phiên tòa.
2. Người bị hại:
-
2.1. Cháu Nguyễn Phúc N, sinh năm 2009 (vắng mặt)
Người đại diện của bị hại N: Anh Nguyễn Quang C1, sinh năm 1983.
-
2.2. Cháu Nguyễn Vũ Trọng P, sinh năm 2009 (vắng mặt)
Người đại diện của bị hại P: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1984.
-
Đều có địa chỉ: thôn T, xã N, huyện Y, tỉnh Hưng Yên.
3. Người làm chứng:
-
3.1. Ông Đỗ Mạnh C2, sinh năm 1969 (vắng mặt)
Địa chỉ: thôn P, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên.
-
3.2. Chị Hoàng Thị H1, sinh năm 1980 (vắng mặt)
Địa chỉ: thôn N, xã T, huyện V, tỉnh Hưng Yên.
-
3.3. Chị Đỗ Thị T1, sinh năm 1993 (vắng mặt)
Địa chỉ: số E, ngõ A, đường C, huyện N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình.
-
3.4. Anh Phan Hoài L, sinh năm 1994 (vắng mặt)
Địa chỉ: thôn B, xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình.
-
3.5. Ông Ngô Trung K, sinh năm 1969 (vắng mặt)
Địa chỉ: tổ dân phố C, phường B, thị xã M, tỉnh Hưng Yên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lường Văn D và con trai là L1 Văn Công, cùng thuê trọ tại nhà ông Ngô Trung K, ở tổ dân phố C, phường B, thị xã M, tỉnh Hưng Yên từ đầu năm 2024, để làm công nhân, hàng ngày Công sử dụng chiếc xe mô tô biển số 36AA - 136.44 loại xe dung tích dưới 50cc, còn D sử dụng chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Excite, màu trắng - đen - đỏ, biển số 35N1- 222.02, dung tích 149cm3 để đi làm. 08 giờ ngày 21/5/2024 C đi làm như mọi ngày thì xe hỏng, nên C đã mượn xe của bố để đi làm, D biết C chưa có giấy phép lái xe hợp lệ nhưng vẫn đồng ý và đưa chìa khó xe cho C. Đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày thì tan ca, C điều khiển xe mô tô trên đi về theo đường ĐH42, chiều xã N, huyện Y đi phường B, thị xã M với vận tốc khoảng 60-70km/h. Khi đến địa phận thôn Y, xã N, huyện Y, tỉnh Hưng Yên, C quan sát thấy lưu lượng tham gia giao thông lúc này vắng, phía trước có một chiếc xe máy điện nhãn hiệu HTC, không gắn biển số do cháu Nguyễn Phúc N, điều khiển chở cháu Nguyễn Vũ Trọng P ngồi phía sau, đang đi phía trước cùng chiều, hai cháu trêu đùa nhau và đi đánh võng trên phần đường đi của mình. Do đi với tốc độ nhanh, không kịp xử lý nên phần đầu xe mô tô đã đâm vào phía sau xe máy điện của cháu N, P làm 02 xe bị đổ, người ngã văng ra đường. Hậu quả, C bị thương được đưa vào bệnh viện Đ1 điều trị, đến ngày 23/5/2024 thì ra viện; cháu N bị thương được đưa đi cấp cứu tại bệnh viện H2, ngày 24/5/2024 chuyển đến bệnh viện R tiếp tục điều trị, đến ngày 07/6/2024 thì ra viện; cháu P bị thương tích nhẹ, nằm điều trị tại bệnh viện Đ2, đến ngày 24/5/2024 thì ra viện.
Khám nghiệm hiện trường xác định: Hiện trường là một đoạn đường thẳng được trải nhựa rộng 10m, phân chia thành hai chiều xe chạy bởi vạch sơn màu vàng đứt đoạn. Quá trình khám nghiệm thống nhất lấy mép đường bên phải chiều xã N đi phường B làm chuẩn. Tiếp giáp với mép đường bên trái và bên phải là lề đường, hệ thống cọc tiêu. Lấy biển báo W203c chiều đường xã N đi phường B làm chuẩn. Vết cày xước kích thước (28,5x0,33)m có chiều Ngọc L2 đi B (số A), đầu vết này vào mép đường phải 2,04m, cuối vết này vào mép đường phải 0,2m trùng với giá để chân sau bên trái xe đạp điện (số B), xe máy điện đổ nghiêng về bên trái, đầu xe hướng ra phía ngoài đường xe chạy, đuôi xe hương vào mép đường trong tình trạng tắt máy, tâm trục bánh trước vào mép đường phải là 0,6m, tâm trục bánh sau ra mép đường 0,2m; cách đầu vết (1) về hướng Bần Yên Nhân 13,8m trùng mép đường phải là vết máu kích thước (0,6x0,4)m số (3). cách đầu vết (1) về hướng Bần Yên Nhân 24,3m là vết máu kích thước (0,9x1)m số (4), tại đám máu này có để lại sách vở học sinh, tâm vết này cách mép đường phải 1,2m; Cách đầu vết (1) về hướng Bần Yên Nhân 4,5m là đầu vết cày xước (4), có kích thước (33x0,7)m số (5), chiều Ngọc L2 đi B, đầu vết này cách mép đường phải là 3,2m, cuối vết này vào mép đường phải là 5m; cách cuối vết số (5) về hướng N 5,6m là xe mô tô biển số 35N1 - 222.02, xe mô tô này dựng chân trống phụ, tắt máy, đầu xe hướng đi N, sau xe quay hướng Bần Y, tâm trục bánh sau vào mép đường phải là 1,78m, tâm trục bánh trước vào mép đường phải 1,3m; vết mảnh nhựa vỡ kích thước (14,7x2,8)m, tâm vết này vào mép đường phải 1,8m. Đo từ đầu vết số (5) về hướng Bần Yên Nhân 15,5m vào mép đường phải là biển báo W203c.
Khám nghiệm phương tiện xe mô tô chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Excite biển số 35N1 - 222.02, màu trắng- đen - đỏ, dung tích 149cm3 xác định: tại đầu tay nắm bên phải có vết rách cao su, xước kim loại kích thước (4x3)cm, chiều từ trái sang phải, trong vết này còn dính chất bột màu trắng, lực tác động làm tay lái bên phải bị cong từ trên xuống dưới, lệch so với vị trí ban đầu 4cm; tại đầu tay phanh bên phải có vết xước kim loại kích thước (2x1,5)cm chiều từ trái sang phải; tại ốp nhựa phía trước cánh yếm hai bên trái và phải bị vỡ bật rời khỏi xe; hai đèn xin nhan trước bên phải, bên trái bị vỡ hỏng hoàn toàn; bên phải đầu chắn bùn bánh trước có vết dập vỡ nhựa kích thước (30x17)cm; mặt ngoài má lốp và mép vành bánh trước bên phải có vết rách cao su, bào mòn kim loại, kích thước (3x2)cm có chiều từ ngoài vào tâm trục; giá để chân trước bên phải có vết xước bào mòn kim loại kích thước (12x2)cm, chiều từ trước về sau; mặt ngoài ốp nhựa ống giảm thanh vết xước nhựa kích thước (44x6)cm chiều từ trước về sau.
Khám nghiệm phương tiện xe máy điện xác định: Tại đầu tay nắm bên trái có vết trượt bào mòn cao su, kích thước (2x2)cm chiều từ phải sang trái; tay phanh bên trái vết xước kim loại kích thước (17x1)cm chiều từ phải sang trái; Tại mặt ngoài ốp nhựa phía trước khung xe bên trái có vết xước nhựa, kích thước (22x16)cm chiều từ trước về sau. Đèn pha, đèn xin nhan phía trước, đầu chắn bùn phía trước bị vỡ, bật rời khỏi xe; Mặt ngoài giá để chân trước bên trái có vết xước nhựa kích thước (13x6)cm; chiều từ dưới lên trên; ốp nhựa sườn xe bên trái vết xước dập vỡ nhựa, kích thước (64x26)cm, chiều từ trên xuống dưới; tại giá để chân sau bên trái, cụm đèn hậu, đèn xin nhan, chắn bùn bánh sau bị vật rời khỏi xe; ống giảm xóc bánh sau bên trái bị cong chiều từ sau về trước; mặt lăn và má lốp bánh sau bên trái có vết rách cao su, kích thước (12x12)cm; vành bánh sau bên trái bị cong có chiều từ ngoài vào tâm xong; chân chống đứng bị bật rời khỏi xe.
Bệnh án số 10409 của Bệnh viện H2 đối với Nguyễn Phúc N xác định thương tích: chấn thương sọ não: dập não trán 2 bên, chấn thương hàm mặt: vỡ xương hàm.
Bệnh án răng hàm mặt của Bệnh viện R đối với Nguyễn Phúc N xác định thương tích: Vỡ xương má và xương hàm (can sai gãy XHT 2 bên+ gãy xương ổ răng vùng cửa 2 hàm+ gãy phức hợp mũi sàng/chấn thương sọ não dập não thùy trán 2 bên. Điều trị từ ngày 24/5/2024 đến ngày 07/6/2024 ra viện, tình trạng ra viện: khỏi.
Bệnh án của khoa chấn thương chỉnh hình Bệnh viện Đ2 đối với Nguyễn Vũ Trọng P xác định thương tích: xây sát da nhiều vị trí: khuỷu tay trái, hông trái, gối hai bên và vết thương vùng đầu. Vào viện ngày 22/5/2024, ra viên ngày 24/5/2024, tình trạng ra viện: Đỡ
Bệnh án răng hàm mặt của bệnh viện Đ1 đối với Lường Văn Công xác định thương tích: Các bất thường hàm mặt khác, tổn thương nông tác động nhiều vùng cơ thể (vết thương cằm, vết thương khoang miệng, trầy xước vùng trán, mặt, bàn tay hai bên, gối phải). Điều trị từ ngày 21/5/2024 đến ngày 23/5/2024 ra viện, tình trạng ra viện: đỡ giảm.
Tại phiếu xét nghiệm máu lúc 02h05 ngày 22/5/2024 Định lượng Ethanol (cồn) trong máu Lường Văn Công là 2.0mg/dL.
Tại bản kết luận giám định số 5624/KL - KTHS ngày 02 tháng 8 năm 2024 của V - Bộ C5, kết luận: Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Vũ Trọng P tại thời điểm giám định là 4%. Cơ chế hình thành vết thương: Tổn thương tại tay trái, đỉnh trái và gối trái do tác động tương hỗ với vật tày gây ra.
Tại bản kết luận giám định số 5622/KL - KTHS ngày 13 tháng 8 năm 2024 của V - Bộ C5, kết luận: Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Phúc N tại thời điểm giám định là 64%. Cơ chế hình thành vết thương: Các tổn thương vùng đầu - mặt của cháu Nguyễn Phúc N do vật tày gây ra.
Trách nhiệm dân sự: Lường Văn C và Lường Văn D đã tự nguyện bồi thường cho cháu Nguyễn Phúc N 50.000.000đồng, bồi thường cho cháu Nguyễn Vũ Trọng P 5.000.000đồng. Gia đình cháu N và cháu P đã nhận đủ số tiền trên, không có yêu cầu đề nghị gì khác và có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho hai bị cáo.
Đối với chiếc xe máy điện nhãn hiệu HTC, biển số 89MĐ- 032.50 là của anh Nguyễn Quang C1, là bố của cháu P. Tối ngày 21/5/2024, anh C1 không biết việc cháu Nguyễn Vũ Trọng P sử dụng xe máy điện của mình để tham gia giao thông, không biết cháu P giao xe máy điện này cho cháu N điều khiển, nên cơ quan điều tra không xử lý. Anh C1 mua chiếc xe máy điện của chị Hoàng Thị H1 từ năm 2023 không làm thủ tục đăng ký sang tên xe đối với chiếc xe máy điện này theo quy định, đã vi phạm điểm a khoản 4 Điều 30 Nghị định 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019. Ngày 11/9/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y trả lại cho anh C1 chiếc xe máy điện trên, anh C1 đã nhận lại tài sản và không có ý kiến gì.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Excite biển số 35N1 - 222.02, màu trắng - đỏ - đen, dung tích 149cm3 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 020855 do Công an huyện N, tỉnh Ninh Bình cấp ngày 13/4/2017 là tài sản của Lường Văn D. Ngày 11/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã trả lại cho Lường Văn C là con trai D nhận lại chiếc xe mô tô trên, C đã nhận lại tài sản không có yêu cầu đề nghị gì.
Đối với cháu Nguyễn Vũ Trọng P giao chiếc xe máy điện cho cháu Nguyễn Phúc N điều khiển để tham gia giao thông, hành vi của cháu P đã vi phạm khoản 5 Điều 30 Nghị định 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019.
Đối với cháu Nguyễn Phúc N điều khiển xe máy điện khi chưa đủ 16 tuổi, điều khiển xe máy điện đánh võng trên đường bộ và điều khiển xe máy điện không gắn biển số, đã vi phạm khoản 1 Điều 21; điểm b, khoản 8 Điều 6 và điểm c, khoản 2 Điều 17 Nghị định 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019.
Đối với bị can Lường Văn D mua chiếc xe mô tô 35N1 - 222.02 của anh Phạm Văn C3, không làm thủ tục đăng ký sang tên xe theo quy định, đã vi phạm điểm a khoản 4 Điều 30 Nghị định 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019.
Tại bản cáo trạng số 09/CT - VKS - YM ngày 06/ 01 / 2025 của Việt kiểm sát nhân dân huyện Y đã truy tố bị cáo Lường Văn C về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a, b khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự; Bị cáo Lường Văn D về tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 264 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Lường Văn Công K1 nhận: Tối ngày 21/05/2024 trên đường đi làm về, do đã khuya, đường vắng, bị cáo đi với tốc độ cao, khi phát hiện xe máy điện của cháu N và P do khoảng cách quá gần, bị cáo không kịp tránh, nên đã đâm vào xe của hai cháu. Sau khi tai nạn bị cáo cũng bị thương, xe bị hỏng, bị cáo đã nhờ gia đình bồi thường cho nhà cháu N và P toàn bộ, bị cáo đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt.
Bị cáo Lường Văn D trình bày: Xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Excite, màu trắng - đen - đỏ, biển số 35N1- 222.02 là do bị cáo mua để thi thoảng hai bố con dùng làm phương tiện đi về quê. Sáng ngày 21/5/2024 khi C đi làm thì xe của của C bị hỏng nên C có hỏi mượn bị cáo xe YAMAHA Excite, màu trắng - đen - đỏ, biển số 35N1- 222.02 đi làm, bị cáo nhất trí và có dặn C đi cẩn thận. Sau khi C gây tai nạn thì bố con bị cáo đã vay mượn tiền đến bồi thường toàn bộ tiền thuốc cho các bị hại, bị cáo đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mỹ: Đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Lường Văn C phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tuyên bố bị cáo Lường Văn D về tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ”. Đề nghị áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 260, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Lương Văn C4, đề nghị xử phạt bị cáo C4 từ 03 năm 03 tháng đến 03 năm 06 tháng tù, thời hạn tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án. Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 264, điểm b khoản 1, 2 Điều 51, Điều 36 Bộ Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Lường Văn D từ 01 năm 09 tháng đến 02 năm cải tạo không giam giữ.
Về khấu trừ thu nhập: Đề nghị miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Lường Văn D.
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa vắng mặt người làm chứng, bị hại, đại diện bị hại. Bị cáo và đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mỹ đều đề nghị HĐXX tiếp tục xét xử vụ án, HĐXX xét thấy trong hồ sơ đã có đầy đủ lời khai của người làm chứng, người bị hại, đại diện người bị hại, gia đình các bị hại đã nhận đủ tiền bồi thường và cso đơn đề nghị miễn truy tố đối với hai bị cáo, do vậy việc việc vắng mặt của người làm chứng, bị hại và đại diện bị hại, không làm ảnh hưởng đến kết quả xét xử vụ án, do vậy HĐXX căn cứ Điều 292, 293 Bộ luật tố tụng hình sự xét xử vắng mặt những người trên.
[2] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện Y, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mỹ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[3]Về tội danh: Lời khai của bị cáo Lường Văn C tại phiên tòa phù hợp với các lời khai ở cơ quan điều tra, bị cáo đều khai nhận, tối ngày 21/05/2024 trên đường đi làm về, theo hướng đường ĐH42, chiều xã N, huyện Y đi phường B, thị xã M, do trời khuya, đường vắng, bị cáo đi với vận tốc khoảng 60-70km/h, khi đến địa phận thôn Y, xã N, huyện Y, phát hiện phía trước có xe máy điện của cháu N và P đang đi cùng chiều, do do khoảng cách quá gần, bị cáo không kịp tránh, đã đâm vào phía sau xe của hai cháu. Lời khai của bị cáo còn phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, phù hợp với hình ảnh và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy HĐXX. có đủ căn cứ xác định: Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 21/5/2024, tại đường ĐH42 đoạn thôn Y, xã N, huyện Y, Lường Văn C điều khiển xe mô tô biển 35N1- 222.02 chiều từ N đi thị trấn B, thị xã M, do không quan sát, không làm chủ tốc độ, khi phát hiện xe điện do cháu Nguyễn Phúc N chở cháu Nguyễn Vũ Trọng P đi cùng chiều phía trước bị cáo không kịp tránh, đầu xe của bị cáo đã đâm vào phía sau xe điện làm cả ba ngã ra đường, hành vi của bị cáo đã vi phạm khoản 4 Điều 11, Điều 12 Luật giao thông đường bộ và Điều 6 thông tư 31 ngày 29/8/2019 của Bộ G, hậu quả cháu Nguyễn Phúc N bị thương tích 64%, cháu Nguyễn Trọng P bị thương tích 4%, nên hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Tại phiếu xét nghiệm máu, bị cáo C có nồng độ cồn là 2.0mg/dL. Theo khoản 8 Điều 8 Luật giao thông đường bộ quy định cấm điều khiển xe mô tô, xe gắn máy mà trong máu có nồng độ cồn vượt quá 50 miligam/100 mililít máu hoặc 0,25 miligam/1 lít khí thở, nhưng theo khoản 1 Điều 35 Luật phòng, chống tác hại của rượu bia có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2020 quy định:Sửa đổi, bổ sung quy định của một số luật khác. Sửa đổi, bổ sung khoản 8 Điều 8 Luật Giao thông đường bộ “Điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn”, như vậy cấm điều khiển mô tô, xe gắn máy mà hơi thở có nồng độ cồn. Theo khoản 3 Điều 156 Luật ban hành văn bản pháp luật quy định “Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật do cùng một cơ quan ban hành có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của văn bản quy phạm pháp luật ban hành sau” Bộ luật hình sự có hiệu lực từ ngày 01/07/2017, Luật phòng chống tác hại rượu bia có hiệu lực ngày 01/01/2020, cả hai đều do Quốc Hội ban hành, nên phải áp dụng các quy định của Luật phòng chống tác hại rượu bia, bị cáo C không có giấy phép lái xe, nên phải chịu trách nhiệm hình sự theo điểm a, b khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Bị cáo Lường Văn D xác nhận chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Excite biển số 35N1 - 222.02 do bị cáo mua, bị cáo biết con trai mình chưa có bằng lái xe, nhưng do xe của C bị hỏng nên bị cáo đồng ý cho Công mượn xe đi làm, lời khai của bị cáo D phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người làm chứng, bị cáo C điều khiển xe gây thương tích cho hai người với tổng tỷ lệ tổn hại sức khỏe là 68%, nên hành vi cho mượn xe của bị cáo Lường Văn D đã phạm tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ” theo điểm c khoản 1 Điều 264 Bộ luật hình sự.
Do vậy Cáo trạng số 09/ CT - VKSYM ngày 06/ 01 / 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mỹ truy tố hai bị cáo là đúng người, đúng tội.
[4] Về tính nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của hai bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến sức khỏe, tài sản của người khác, gây hoang mang lo nắng cho những người tham gia giao thông, nên cần áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội của hai bị cáo.
[5] Về tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[5.1] Về tình tiết tăng nặng: Ngày 04/11/2021, bị cáo Lường Văn D bị Tòa án nhân dân huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên xử phạt 01 năm 06 tháng tù, về tội đánh bạc, đến ngày 12/ 07/ 2023 thì chấp hành xong hình phạt tù, do vậy lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm, nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
[5.2] Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, hai bị cáo đều thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, thể hiện thái độ ăn năn hối cải, sau khi sự việc xảy ra hai bị cáo đã bồi thường toàn bộ cho các bị hại, bị hại làm đơn đề nghị không truy cứu trách nhiệm hình sự hai bị cáo, hai bị cáo có đơn xin giảm nhẹ hình phạt được chính quyền địa phương xác nhận, nên hai bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[6] Về hình phạt: Bị cáo Lường Văn C phạm tội nghiêm trọng với hai tình tiết định khung, do vậy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, để cơ quan chức năng cải tạo giáo dục, thì mới đủ điều kiện để bị cáo không gây nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo Lường Văn D là người nhân thân xấu, phạm tội thuộc trường hợp tái phạm, nhưng khung hình phạt của bị cáo, hình thức phạt cải tạo không giam giữ là cao nhất, do vậy áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo.
[7] Về hình phạt bổ sung và khấu trừ thu nhập: Các bị cáo không có việc làm ổn định, không có tài sản tích lũy, do vậy nay miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo D và miễn áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho hai bị cáo.
[8] Đối với anh Nguyễn Quang C1 mua chiếc xe máy điện, Lường Văn D mua xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Excite biển số 35N1 - 222.02, không làm thủ tục sang tên, Nguyễn Vũ Trọng P điều khiển chiếc xe máy điện khi chưa đủ 16 tuổi và giao cho Nguyễn Phúc N điều khiển xe chưa đủ 16 tuổi, là vi phạm Nghị định 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019, kiến nghị Phòng C6 Công an tỉnh H xử phạt hành chính các đối tượng trên theo quy định.
[9] Về án phí: Hội đồng xét xử xác định bị cáo có tội nên bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, do hai bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, có đơn xin miễn án phí, nên áp dụng điêm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết 326/ 2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q miễn toàn bộ án phí cho hai bị cáo.
Vì các lẽ trên ;
QUYẾT ĐỊNH:
1/ Căn cứ vào:
Điều 292, 293 Bộ luật tố tụng hình sự.
Điểm a, b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Lường Văn C.
Điểm c khoản 1 Điều 264; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 36 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Lường Văn D.
2/ Tuyên bố: Bị cáo Lường Văn C phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Bị cáo Lường Văn D phạm tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ”.
3/ Xử phạt: Bị cáo Lường Văn C 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thụ hình. Bị cáo Lường Văn D 02 (hai) năm cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an tỉnh S nhận được quyết định thi hành án. Giao bị cáo Lường Văn D cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện V, tỉnh Sơn La giám sát, giáo dục trong thời gian thi hành án. Miễn Khấu trừ thu nhập cho bị cáo Lường Văn D.
4/ Kiến nghị: Phòng C6 Công an tỉnh H xử phạt hành chính: Cháu Nguyễn Phúc N, sinh năm 2009; Cháu Nguyễn Vũ Trọng P, sinh năm 2009; Anh Nguyễn Quang C1, sinh năm 1983. Đều trú tại: Thôn T, xã N, huyện Y, tỉnh Hưng Yên; bị cáo Lường Văn D, sinh năm 1982, trú tại: Bản L, xã T, huyện V, tỉnh Sơn La, theo quy định của pháp luật.
5/ Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lường Văn C và Lường Văn D.
6/ Về kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị hại được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án, hoặc kể từ ngày niêm yết bản án theo Bộ luật tố tụng hình sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Xuân Quỳnh |
Bản án số 33/2025/HSST ngày 11/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN MỸ - TỈNH HƯNG YÊN về hình sự sơ thẩm
- Số bản án: 33/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN MỸ - TỈNH HƯNG YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lường Văn C - Tai nạn giao thông
