|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - QUẢNG NINH Bản án số: 33/2025/HS-ST Ngày 30 - 10 - 2025 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - QUẢNG NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Dương Thị Thu Hà
- Các Hội thẩm nhân dân: ông Vy Đức Hạnh và bà Đỗ Thị Hân
- Thư ký phiên tòa: ông Lê Hồng Sơn, Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Quảng Ninh tham gia phiên tòa: ông Đặng Đức Trung - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 10 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6 - Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 27/2025/TLST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2025/QĐXXST-HS, ngày 16 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Đức T (không có tên gọi khác), sinh ngày 12 tháng 8 năm 2004, tại Quảng Ninh; nơi thường trú: khu H, phường N, thành phố M (nay là phường M) tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N và bà Phạm Thị H; vợ, con: chưa; tiền án: ngày 05/01/2021, bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xử phạt 05 (năm) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; tiền sự: không.
Bị bắt quả tang ngày 10/3/2025, hiện tạm giam tại Trại Tạm giam Công an tỉnh Q. Có mặt.
Người chứng kiến: Nguyễn Văn T1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 00 giờ 10 phút ngày 10/3/2025, tại khu H, phường N, thành phố M (nay là phường M) tỉnh Quảng Ninh, tổ công tác thuộc Phòng CSĐT tội phạm về ma túy Công an tỉnh Q phối hợp với Công an phường N, thành phố M (nay là phường M) và Đội Kiểm soát phòng, chống Ma túy - Cục Hải quan tỉnh Q phát hiện, bắt quả tang Nguyễn Đức T có hành vi cất giấu trái phép chất ma túy để sử dụng. Vật chứng thu giữ: trong túi áo khoác bên phải của T đang mặc 02 (hai) túi nilon chứa 1,506 gam chất tinh thể màu trắng, 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone vỏ màu đỏ gắn 01 (một) sim.
Cùng ngày, cơ quan điều tra khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Đức T tại khu H, phường N, thành phố M (nay là phường M) tỉnh Quảng Ninh, thu giữ cạnh bức tường bên phải của gian bếp nhà T 01 (một) hộp bìa các tông màu đen bên trong có 01 (một) cân điện tử màu bạc; 01 (một) túi nilon bên trong có 50 túi chứa 36,32 gam chất tinh thể màu trắng, kết quả giám định là ma túy Ketamine (Bản kết luận giám định số 262/KL-KTHS ngày 15/3/2025, của Phòng K Công an tỉnh Q) và 60 vỏ túi nilon.
Quá trình điều tra, Nguyễn Đức T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên. T còn khai số vật chứng bị thu giữ là ma túy Ketamine do T được người bạn tên C ở Hải Dương (cùng chấp hành án tại trại giam H1, không rõ nhân thân, địa chỉ cụ thể) cho từ khoảng tháng 10/2024 khi C và T gặp nhau ở K, Hải Dương. C nói sang Campuchia làm việc, đưa cho T để sử dụng hoặc bán. T mang về cất giấu, chia nhỏ để sử dụng, đã sử dụng một ít, số còn lại chưa sử dụng hết thì bị thu giữ. T không bán ma túy.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Đức T thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên và khẳng định việc chia nhẹ ma túy chỉ để tránh bị sốc khi sử dụng mà hoàn toàn không có ý định bán ma túy.
Người chứng kiến anh Nguyễn Văn T1 có lời khai thể hiện phù hợp về thời gian, không gian, địa điểm chứng kiến việc cơ quan chức năng lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và tạm giữ vật chứng của Nguyễn Đức T đảm bảo đúng quy định của pháp luật.
Tại Cáo trạng số 8117/CT-VKSQN-P1, ngày 29/9/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã truy tố bị cáo Nguyễn Đức T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm l, o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Căn cứ Điều 41 và Điều 239 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh phân công Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Quảng Ninh thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử sơ thẩm đối với vụ án Nguyễn Đức T nêu trên.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố đã rút một phần quyết định truy tố (rút điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự) và luận tội đối với bị cáo: sau khi phân tích nội dung vụ án, tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đã đề nghị với Hội đồng xét xử:
a) Về trách nhiệm hình sự:
- Áp dụng: điểm i khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017: xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bắt 10/3/2025;
b) Về xử lý vật chứng:
- Áp dụng: điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- + Tịch thu tiêu hủy: Số ma túy hoàn lại sau giám định trong phong bì niêm phong số 262/KL-KTHS; 01 cân điện tử; 01 hộp giấy và 60 vỏ túi nilon.
- + Trả lại cho bị cáo T: 01 điện thoại Iphone gắn sim số 0975.746.xxx.
Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và không tranh luận với lời luận tội của Đại diện Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng: bị cáo Nguyễn Đức T tỏ ra ăn năn hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét được hưởng mức án phù hợp với quy định của pháp luật để bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; đồng thời tại phiên tòa, bị cáo tiếp tục không có ý kiến gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Nhận định của Hội đồng xét xử về những chứng cứ xác định bị cáo có tội: đánh giá nội dung biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Đức T, vật chứng thu giữ, lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa phù hợp nhau, phù hợp lời khai của người chứng kiến, sơ đồ hiện trường, bản ảnh hiện trường; đồng thời trên cơ sở kết luận giám định của phòng K Công an tỉnh Q và các chứng cứ, tài liệu khác trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử thấy đủ cơ sở kết luận: Ngày 10/3/2025, tại khu H, phường N, thành phố M (nay là phường M), tỉnh Quảng Ninh, Nguyễn Đức T đã có hành vi tàng trữ trái phép tổng cộng 37,826 gam ma túy Ketamine mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
Bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi do lỗi cố ý, xâm phạm đến chính sách của Nhà nước về quản lý các chất ma túy. Do đó, căn cứ điểm c khoản 1 Điều 4 Luật số 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS, theo nguyên tắc có lợi cho người phạm tội, hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Đức T đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm l khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Như vậy, các chứng cứ buộc tội của đại diện Viện kiểm sát phù hợp các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi đã thực hiện, nên bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh truy tố bị cáo T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm l, o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Quảng Ninh luận tội giữ một phần quan điểm truy tố, rút điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ pháp lý, bởi hành vi phạm tội bị cáo thực hiện theo bản án ngày 05/01/2021 do Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xử phạt 05 (năm) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” là khi bị cáo chưa thành niên (15 tuổi 10 tháng 20 ngày). Nên theo quy định tại khoản 7 Điều 91 Bộ luật Hình sự “án đã tuyên đối với người chưa đủ 16 tuổi phạm tội thì không tính để xác định tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm”.
Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm...
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:……
l) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 20 gam đến dưới 100 gam; ...”.
[3]. Xét tính chất và hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý chất ma túy của Nhà nước, đồng thời xâm phạm trật tự, an toàn công cộng, an ninh xã hội ở địa phương. Đây còn là nguyên nhân gây các loại tội phạm khác, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Bản thân Nguyễn Đức T có nhận thức và hiểu biết nhất định về pháp luật do đã từng bị xử phạt 05 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” nên càng hiểu rõ việc tàng trữ trái phép chất ma túy bị Nhà nước nghiêm cấm, nếu bị phát hiện sẽ bị xử lý nghiêm, tuy nhiên, do thiếu ý thức tu dưỡng, rèn luyện nên bị cáo đã thực hiện hành vi pháp luật không cho phép, vì vậy cần xử lý tương xứng với tính chất của hành vi phạm tội mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phục vụ công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, phòng ngừa chung.
[4]. Về áp dụng tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hình phạt bổ sung:
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đều đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo đều được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.
- Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là đối tượng lao động tự do thu nhập không ổn định, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[5]. Sau khi xem xét, đánh giá tính chất của vụ án, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong vụ án, Hội đồng xét xử thấy theo lời khai của bị cáo ngay sau khi chấp hành xong hình phạt 05 năm tù tại cơ sở giam giữ, khi được đối tượng tên C cho một lượng lớn ma túy, bị cáo T vẫn tiếp tục tàng trữ. Điều đó cho thấy việc cải tạo chưa đủ giáo dục bị cáo thành công dân tốt, do đó, cần thiết ấn định mức hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo ở trong khung đã truy tố và cách ly ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.
[6]. Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự:
- Sau khi giám định, phòng K Công an tỉnh Q hoàn lại Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Q mẫu vật là 35,58g (ba lăm phẩy năm mươi tám gam) ma túy loại Ketamine và toàn bộ vỏ bao gói trong niêm phong số 262/KL-KTHS theo đúng quy định của pháp luật; ngoài ra, cơ quan tiến hành tố tụng còn thu giữ của Nguyễn Đức T: 01 (một) hộp bìa cát tông màu đen; 01 (một) cân điện tử màu bạc; 60 (sáu mươi) vỏ túi nilon chưa qua sử dụng. Đây là chất Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành và vật không còn giá trị sử dụng cần tịch thu, tiêu hủy.
- Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone vỏ màu đỏ, bên trong lắp 01 (một) sim, điện thoại đã qua sử dụng không dùng vào việc phạm tội cần trả lại cho bị cáo T.
[7]. Về nghĩa vụ chịu án phí hình sự sơ thẩm: bị cáo Nguyễn Đức T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật về án phí.
[8]. Về quyền kháng cáo: bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
[9]. Liên quan trong vụ án đối tượng C (C con) là người đã cho T số ma túy bị thu giữ theo lời khai của T, qua xác minh không xác định được nhân thân, lai lịch, địa chỉ nên không có căn cứ để điều tra, làm rõ, nên không đề cập xử lý.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm l khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt: bị cáo Nguyễn Đức T 07 (bẩy) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10/3/2025.
2. Xử lý vật chứng:
Căn cứ: điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
2.1. Tịch thu tiêu hủy: 35,58g (ba lăm phẩy năm mươi tám gam) ma túy loại Ketamine và vỏ bao gói trong 01 (một) phong bì niêm phong mẫu vật hoàn lại sau giám định theo Kết luận giám định số 262/KL-KTHS ngày 15/3/2025 của Phòng K Công an tỉnh Q; 01 (một) cân điện tử màu bạc; 01 (một) hộp bìa cát tông màu đen; 60 (sáu mươi) vỏ túi nilon chưa qua sử dụng;
2.2. Trả lại Nguyễn Đức T: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone vỏ màu đỏ, đã qua sử dụng gắn 01 (một) sim;
(Tình trạng vật chứng trên theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản, số 24/BB-THADSKV6 ngày 30/9/2025 của Phòng Thi hành án dân sự khu vực 6 - Quảng Ninh).
3. Về nghĩa vụ chịu án phí hình sự sơ thẩm:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Nguyễn Đức T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 331 và khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Dương Thị Thu Hà |
Bản án số 33/2025/HS-ST ngày 30/10/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - QUẢNG NINH về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 33/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/10/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngày 10/3/2025, tại khu H, phường N, thành phố M (nay là phường M), tỉnh Quảng Ninh, Nguyễn Đức T đã có hành vi tàng trữ trái phép tổng cộng 37,826 gam ma túy Ketamine mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng
