Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ SẦM SƠN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 33/2025/HS-ST

Ngày: 28 - 05 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SẦM SƠN, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Hồng Nhung.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trịnh Thị Cúc.

Ông Nguyễn Viết Mai.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Khánh Linh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sầm Sơn, Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sầm Sơn tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Văn Nhung - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sầm Sơn, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 27/2025/TLST- HS ngày 05 tháng 05 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2025/QĐXXST- HS ngày 09 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo:

Phan Viết V - sinh năm 1991; Nơi cư trú: TDP T, phường T, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa; CCCD số: [...]; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Viết T (đã chết) và bà Trương Thị N; vợ con: Không có; tiền án: Ngày 06/01/2023 bị TAND quận 12, TP . xử phạt 18 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”, ngày 10/4/2024 chấp hành xong án phạt tù; tiền sự: Không;

Bị bắt tạm giữ từ ngày 24/9/2024, chuyển tạm giam ngày 03/10/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực S, Trại tạm giam Công an tỉnh T. (Có mặt).

- Bị hại:

  1. Anh Lê Nhữ T1 - sinh năm 1985;
  2. Địa chỉ: TDP B, phường T, TP ., tỉnh Thanh Hóa.

  3. Anh Nguyễn Thế V1 - sinh năm 1987;
  4. Địa chỉ: TDP H, phường B, TP ., tỉnh Thanh Hóa.

- Người làm chứng:

  1. Chị Trần Thị T2 - sinh năm 1990;
  2. Địa chỉ: TDP H, phường T, TP ., tỉnh Thanh Hóa.

  3. Anh Nguyễn Hữu M - sinh năm 1969;
  4. Địa chỉ: TDP B, phường T, TP ., tỉnh Thanh Hóa.

  5. Chị Nguyễn Thị N1 - sinh năm 1979;
  6. Địa chỉ: TDP T, phường T, TP ., Thanh Hóa.

  7. Anh Lường Viết T3 - sinh năm 2001;
  8. Địa chỉ: TDP Q, phường Q, TP ., tỉnh Thanh Hóa.

  9. Bà Trương Thị N - sinh năm 1959;
  10. Địa chỉ: TDP T, phường T, TP ., tỉnh Thanh Hóa.

  11. Ông Đỗ Thái B - sinh năm 1958;
  12. Địa chỉ: TDP H, phường B, TP ., tỉnh Thanh Hóa.

(Tại phiên tòa có mặt bị hại anh Nguyễn Thế V1, người làm chứng bà Trương Thị N2. Bị hại anh Lê Nhữ T1 và những người làm chứng khác vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Để có tiền để chi tiêu cá nhân, Phan Viết V, sinh năm 1991 ở tổ dân phố T, phường T, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa đã nảy sinh ý định đến cửa hàng mua bán điện thoại Lê Thống M1 do anh Lê Nhữ T1, sinh năm 1985 (làm chủ) ở số B N thuộc TDP B, phường T, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Sau khi nảy sinh ý định, vào hồi 00 giờ ngày 24/9/2024 Phan Viết V đem một dây dù màu xanh, một kìm, một áo mưa và một đôi găng tay để làm công cụ thực hiện hành vi trộm cắp. Do biết cạnh cửa hàng điện thoại có một ngôi nhà hai tầng bỏ hoang, Phan Viết V đi vào nhà rồi trèo qua lan can tầng hai để lên nóc cửa hàng điện thoại. V sử dụng kìm để vặn ốc vịt mái tôn, sau khi vặn được ốc vít V đeo găng tay vào hai tay để lật mái tôn, quan sát thấy trong cửa hàng anh Lê Nhữ T1 đã ngủ, V lấy dây dù buộc một đầu vào xà gồ sắt, thả một đầu dây dù xuống dưới nền nhà và trèo xuống. Khi xuống dưới cửa hàng điện thoại, biết tại cửa hàng có lắp đặt camera an ninh nên V đã sử dụng tay rút phích cắm camera và đi lại tủ kính trưng bày điện thoại để trộm cắp. V đã lấy một túi bóng tại cửa hàng để đựng số điện thoại trộm cắp. V trộm cắp 20 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone gồm: 03 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax; 09 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax; 06 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XSMax, quá trình trộm cắp điện thoại do túi bóng đựng điện thoại nặng nên đã bị trượt 02 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro xuống dưới nền nhà. Sau khi trộm cắp được điện thoại thấy trong tủ kính có số tiền 3.200.000 đồng, V đã lấy toàn bộ số tiền bỏ vào túi quần. V buộc túi bóng chứa điện thoại trộm cắp vào một đầu dây dù, kéo quạt hơi nước để dưới nền nhà để đặt chân trèo lên trên trần nhà đồng thời kéo túi bóng có

chứa điện thoại lên. Do biết trên đường L có mặt bằng Trung tâm thương mại đang xây dựng thuộc TDP S, phường T, thành phố S không có người trông coi nên V mang toàn bộ số tài sản trộm cắp vào một ngôi nhà tôn để kiểm đếm thì có 18 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone. V chọn 01 chiếc điện thoại Iphone 12 Promax và 01 chiếc điện thoại Iphone 14 Promax để sử dụng, đồng thời cất giấu 16 chiếc điện thoại để đi tiêu thụ và công cụ sử dụng khi đi trộm cắp tại nhà ngôi nhà tôn bỏ hoang. Sau đó, V đến quán I ở phường T, thành phố S để chơi điện tử đến sáng. Do đang nợ Nguyễn Hữu M, sinh năm 1969 ở TDP B, phường T, thành phố S, số tiền 2.300.000 đồng nên V đã sử dụng số tiền trộm cắp được trả nợ (trả nợ cho M số tiền 2.300.000 đồng) và sử dụng số tiền 730.000 đồng để mua quần áo và dép tại cửa hàng chị Nguyễn Thị N1, sinh năm 1979 ở số G L, phường T, thành phố S, số tiền còn lại là 170.000 đồng V sử dụng cá nhân hết. Đến chiều cùng ngày, V quay lại khu nhà T4, nơi cất giấu tài sản trộm cắp thì bị Cơ quan điều tra phát hiện bắt giữ. Cơ quan điều tra đã thu giữ: 02 chiếc điện thoại di động tại túi quần bên phải của V (01 chiếc Iphone 14 promax màu tím và 01 chiếc ĐTDĐ Iphone, màu xanh) và 16 chiếc điện thoại các loại trong túi ni-long màu đen cùng công cụ mà V sử dụng thực hiện hành vi trộm cắp, gồm: 01 đôi bao tay màu xanh trắng, 01 bộ áo mưa màu tím, 01 dây dù, 01 kìm điện.

Theo báo cáo của anh Lê Nhữ T1: Tài sản bị trộm cắp gồm 20 chiếc điện thoại hiệu Iphone các loại đã qua sử dụng trị giá 227.500.000 đồng và số tiền 3.200.000 đồng, tổng cộng là 230.700.000 đồng.

Tại Bản kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 27/KL - HĐĐG, ngày 26/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản, UBND thành phố S. Kết luận: 20 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone gồm 03 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax; 09 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax; 06 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XSMax có giá trị tại thời điểm trộm cắp ngày 24/9/2024 là 205.700.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản và tiền Phan Viết V trộm cắp tại cửa hàng điện thoại di động của anh Lê Nhữ T1 là: 205.700.000 đồng + 3.200.000 đồng = 208.900.000 đồng.

Tại Kết luận giám định số 3863/KL-KTHS ngày 15/10/2024 của Phòng K - Công an tỉnh T, kết luận: Trên bộ Á và đôi găng tay gửi đi giám định đều có tế bào của Phan Viết V; trên các mẫu vật còn lại gửi giám định đều có tế bào người, do lượng tế bào ít nên không xác định được kiểu gen; lưu kiểu gen (theo hệ Globalfiler) của Phan Viết V tại Phòng K Công an tỉnh T.

Tại Kết luận giám định số 3875/KL-KTHS ngày 16/10/2024 Phòng K - Công an tỉnh T, kết luận:

  • + Phát hiện được 01 dấu vết vân lòng bàn chân đủ yếu tố giám định trên tấm tôn; 01 dấu vết vân ngón tay thu tại hiện trường đủ yếu tố giám định.
  • + Dấu vết vân lòng bàn chân thu được so với dấu vân lòng bàn chân trái đứng tên Phan Viết V ở mẫu so sánh (kí hiệu M8) là của cùng một người.
  • + Dấu vết vân ngón tay thu được so với dấu vân tay ô "Cái phải" của chỉ bản mẫu so sánh đứng tên Lê Nhữ T1 (kí hiệu M4) là của cùng một người.

Tại Kết luận giám định số 3973/KL-KTHS ngày 22/10/2024 của Phòng K - Công an tỉnh T, kết luận: Không phát hiện dấu vết chỉnh sửa, cắt ghép nội dung hình ảnh trong 16 tệp video của 04 USB gửi giám định; Không xác định được tập video “CH21-20240924-025039-02139001000000000.mp4" của 01 USB gửi giám định có bị cắt ghép, chỉnh sửa không do nội dung hình ảnh bị gián đoạn, không liên tục, không xác định được nguyên nhân.

Quá trình điều tra Phan Viết V đã thành khẩn khai báo hành vi trộm cắp tài sản ngày 24/9/2024.

Về vật chứng:

  • - 20 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone gồm: 03 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax, 09 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, 06 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XSMax; 01 tấm tôn màu xanh, kích thước khoảng (142x310)cm. Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng bằng thức trả lại cho chủ sở hữu là anh Lê Nhữ T1.
  • - 01 đôi găng tay màu trắng xanh; 01 đoạn dây dù màu vàng; 01 túi ni lông màu vàng; 01 túi ni lông màu đen; 01 bộ áo mưa màu tím; 01 kìm điện có vỏ bọc thân kìm màu đỏ đen. Đây là số công cụ Phan Viết V sử dụng để thực hiện hành vi trộm cắp; 01 đôi dép lê màu nâu, có chữ Big W Wonderful đây là đôi dép Phan Viết V sử dụng khi đi trộm cắp, sau đó V đến quán chị Nguyễn Thị N1 mua quần áo, dép lê và để lại đôi dép (do chị Nguyễn Thị N1 giao nộp); 01 áo Polo màu xanh đã qua sử dụng và 01 quần sóc bò màu xanh, thu giữ tại khu vực để gỗ gần đường T thuộc tổ dân phố B, phường T, thành phố S hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Sầm Sơn.
  • Đối với khẩu trang y tế màu xanh do Phan Viết V sử dụng khi đi trộm cắp tài sản ngày 24/9/2024, sau khi trộm cắp được tài sản V đã vứt đi không xác định được vị trí, do đó Cơ quan điều tra không đủ căn cứ để xác minh truy tìm.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Lê Nhữ T1 yêu cầu Phan Thế V2 phải bồi thường số tiền: 3.200.000 đồng, là số tiền V2 đã trộm cắp tại cửa hàng.

Ngoài ra qua đấu tranh, Phan Viết V còn khai nhận: Rạng sáng ngày 06/10/2022 Phan Viết V quan sát thấy cửa hàng điện thoại Anh H ở K đường N thuộc phường B, thành phố S, do anh Nguyễn Thế V1 sinh năm 1987 ở TDP L, phường B, thành phố S (làm chủ cửa hàng), V đã nảy sinh ý định đột nhập vào bên trong cửa hàng để trộm cắp tài sản. Sau đó V trèo lên tường rào cổng nhà khách của Công an tỉnh N rồi lên mái nhà, đi đến vị trí quán điện thoại Anh H, V quan sát bảng đèn led của quán và xác định vị trí mái nhà quán Anh H, xong V dùng kìm mở ốc vít mái tôn, lật tấm tôn rồi đột nhập vào bên trong xuống gác xếp, đi cầu thang xuống quán. V quan sát qua ánh sáng điện mờ thấy cầu dao điện nằm trên vách tường quán nên dùng tay ngắt cầu giao để tắt hệ thống điện và camera an ninh. Do trong cửa hàng vẫn còn ánh sáng điện led nên V đi lại vị trí bàn gỗ gần vách tường phía Nam, lục ngăn kéo bàn

thấy có tiền nên lấy trộm số tiền là 2.100.000 đồng cất vào túi quần, V tiếp tục quan sát thấy có tủ kính gần vách tường phía Bắc, bên trong tủ có nhiều điện thoại di động nên đi lại mở cửa tủ kính lấy trộm điện thoại di động gồm: 02 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen và 03 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG, sau đó V cho vào túi ni lông màu xanh trong quán rồi đi theo hướng đột nhập ban đầu ra ngoài. Khi lên đến mái nhà, V kiểm tra túi bóng đựng điện thoại di động và tiền vừa trộm cắp được. Kiểm tra xong, V đi theo mái nhà trèo xuống cổng nhà khách Học viện Q, cất giấu túi ni lông bên trong có chứa điện thoại di động vừa trộm cắp được vào bụi cây giáp hàng rào nhà khách. Sau đó V cầm theo tiền trộm cắp được, bắt xe khách H đi Hà Nội để trốn tránh cơ quan Công an và sử dụng chi tiêu hết số tiền trộm cắp.

Đến tối ngày 06/10/2022 V từ Hà Nội về nhà thì được mẹ là Trương Thị N thông báo Công an quận A, thành phố Hồ Chí Minh yêu cầu vào làm việc vì có liên quan đến vụ án trộm cắp tài sản ngày 17/4/2022 tại Quận A, thành phố Hồ Chí Minh. Ngay trong đêm, V cùng bà N bắt xe khách để vào Công an A, thành phố Hồ Chí Minh làm việc thì bị bắt giam và đưa ra xét xử về tội Trộm cắp tài sản. Đến ngày 10/4/2024 V chấp hành án xong trở về địa phương, V tìm đến vị trí bụi cây giáp hàng rào nhà khách Học viện Q, là nơi cất giấu điện thoại di động trộm cắp nhưng không còn thấy tài sản (điện thoại).

Theo báo cáo của anh Nguyễn Thế V1 ngày 06/10/2022: Tài sản bị trộm cắp 13 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Ipone gồm: 01 Iphone 12 Promax 256Gb màu vàng; 01 Iphone 12 Promax 256Gb màu xanh; 01 Iphone 12 Promax 128Gb màu đen; 01 Iphone 11 Promax 64Gb màu vàng; 02 Iphone 11 Promax 64Gb màu xanh; 01 Iphone 11 Promax 64Gb màu đen; 01 Iphone 11 Promax 256Gb màu xanh; 01 Iphone XSmax 64Gb màu vàng; 02 Iphone XSmax 64Gb màu đen; 01 Iphone XS 64Gb màu vàng; 01 Iphone 8Plus 64Gb màu đen để và số tiền 17.600.000 đồng. Tổng trị giá tài sản (điện thoại di động) và tiền bị trộm cắp khoảng 210.000.000 đồng.

Tại bản Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số: 43/KL-HĐĐG, ngày 24/11/2022 của hội đồng định giá tài sản - UBND thành phố S, kết luận: Tổng giá trị tài sản bị trộm cắp (13 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone) là: 141.500.000 đồng.

Về vật chứng: 01 chiếc kìm điện, Phan Viết V khai đã nhặt được ngoài đường để thực hiện hành vi phạm tội, sau khi sử dụng xong thì vứt bỏ không xác định được vị trí. Vì vậy, Cơ quan điều tra không có căn cứ truy tìm.

Đối với 13 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone (các loại), Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không thu giữ được.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Thế V1 yêu cầu Phan Thế V2 phải bồi thường tổng giá trị tài sản là: 159.100.000 đồng.

Ngày 24/3/2025 Tòa án nhân dân thành phố Sầm Sơn trả hồ sơ điều tra bổ sung để yêu cầu làm rõ số tiền, số lượng điện thoại bị cáo trộm cắp là bao nhiêu và chủng loại điện thoại bị cáo trộm cắp là những loại gì.

Cơ quan cảnh sát điều tra công an tỉnh T đã ban hành quyết định trưng cầu giám định số 4459/QĐ-CSHS (Đ2) ngày 10/4/2025 để giám định hình ảnh và tiến hành hỏi cung, lấy lời khai của bị cáo, bị hại, người làm chứng. Tại bản Kết luận giám định số 3096/KL-KTHS ngày 16/4/2025 của V3 Bộ C kết luận 02 ảnh do bị hại giao nộp không bị cắt ghép, chỉnh sửa.

Ngày 28/4/2025 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sầm Sơn ban hành công văn số 01/CV-VKS-HS giữ nguyên nội dung bản Cáo trạng số 31/CTr-VKS-HS ngày 10/3/2025 truy tố bị cáo Phan Viết V về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 173 Bộ luật hình sự với tổng giá trị tài sản và tiền Phan Viết V trộm cắp ngày 06/10/2022 và ngày 24/9/2024 là: 368.000.000 đồng.

Cáo trạng số 31/CTr-VKS-HS ngày 10/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sầm Sơn truy tố bị cáo Phan Viết V về tội “ Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 173 BLHS.

Tại phiên tòa:

Bị hại anh Nguyễn Thế V1 trình bày, do tiền anh để trong ngăn kéo, hình ảnh không thể hiện được số tiền bị trộm cắp là bao nhiêu nên anh thống nhất với lời khai của bị cáo về số tiền bị trộm cắp vào ngày 06/10/2022 là 2.100.000 đồng. Bị hại V1 yêu cầu bị cáo bồi thường tổng giá trị tài sản và tiền trộm cắp là 143.600.000 đồng.

Đại diện Viện kiểm sát kết luận tổng giá trị tài sản và tiền Phan Viết V trộm cắp ngày 06/10/2022 và ngày 24/9/2024 là 352.500.000 đồng. Đề nghị áp dụng: điểm a khoản 3 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2, Điều 51; điểm g, điểm h, khoản 1 Điều 52; Điều 38 BLHS. Đề nghị xử phạt Phan Viết V mức hình phạt từ 08 năm đến 09 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 24/9/2024.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS. Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01 đôi găng tay màu trắng xanh; 01 đoạn dây dù màu vàng; 01 túi ni lông màu vàng; 01 túi ni lông màu đen; 01 bộ áo mưa màu tím; 01 kìm điện có vỏ bọc thân kìm màu đỏ đen là công cụ bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi trộm cắp. Tịch thu tiêu hủy 01 đôi dép lê màu nâu, có chữ Big Win Wonderful; 01 áo Polo màu xanh đã qua sử dụng và 01 quần sóc bò màu xanh, do tại phiên tòa bị cáo không muốn nhận lại những đồ vật này vì không còn giá trị.

Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo bồi thường số tiền 3.200.000đ cho bị hại T1; bồi thường số tiền 143.600.000 đồng cho bị hại V1.

Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự, dân sự sơ thẩm theo quy định.

Tại phiên tòa bị cáo nhận tội và giữ nguyên phần trình bày về tài sản trộm cắp diễn ra ngày 06/10/2022. Không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, không có ý kiến gì về yêu cầu bồi thường dân sự của bị hại và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật. Bị cáo cùng gia đình sẽ cố gắng khắc phục, bồi thường tài sản trộm cắp cho các bị hại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về phần thủ tục tố tụng: Về hành vi, thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng của cơ quan, người tiến hành tố tụng trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố trong vụ án này đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Bị cáo, người bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng.

Bị hại anh Lê Nhữ T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, việc vắng mặt này không ảnh hưởng đến việc xét xử của vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự quyết định tiến hành xét xử vắng mặt bị hại Lê Nhữ T1.

[2]. Về hành vi phạm tội: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai nhận Khoảng 00 giờ 00 phút ngày 24/9/2024 tại cửa hàng mua bán điện thoại Lê Thống M1 ở số B N thuộc tổ dân phố B, phường T, thành phố S do anh Lê Nhữ T1 làm chủ, Phan Viết V đã trộm cắp 20 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone các loại có giá trị là 205.700.000 đồng và số tiền 3.200.000 đồng.

Ngoài ra, trước đó khoảng 00 giờ 00 phút ngày 06/10/2022, tại Ki ốt số 3, cửa hàng mua bán, sửa chữa điện thoại di động Anh Huy S, ở đường N, thuộc phường B, thành phố S, do anh Nguyễn Thế V1 làm chủ, Phan Viết V đã thực hiện hành vi trộm cắp điện thoại. Theo bị cáo khai nhận tại cửa hàng điện thoại Anh Huy S bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp 02 điện thoại Oppo và 03 điện thoại Samsung. Tuy nhiên, theo trình báo của bị hại số điện thoại bị hại mất tại cửa hàng vào ngày 06/10/2022 là 13 chiếc điện thoại Iphone. Qua nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thì thấy rằng, ngay sau khi xảy ra sự việc bị trộm cắp điện thoại tại cửa hàng của mình, bị hại anh Nguyễn Thế V1 đã đến trình báo cơ quan công an và giao nộp 04 hình ảnh camera tại cửa hàng thể hiện tủ kính trưng bày điện thoại trước và sau khi bị trộm cắp. Ngày 16/4/2025 V3 Bộ C có bản Kết luận giám định số 3096/KL-KTHS kết luận hình ảnh bị hại giao nộp không bị cắt ghép, chỉnh sửa. Đồng thời, bị hại còn giao nộp hình ảnh về thông tin 13 chiếc điện thoại có IMEI 4 số được in ra từ ổ lưu máy tính trong quá trình nhập điện thoại về để sau khi bán theo dõi bảo hành cho khách, hình ảnh bị cáo V đứng trước cửa hàng vào thời điểm xảy ra vụ trộm cắp tài sản và tài liệu về việc nhập hàng hóa của cửa hàng Anh Huy S. Việc giao nộp tài liệu, tiếp nhận tài liệu từ bị hại là đúng trình tự thủ tục tố tụng nên có giá trị chứng minh tội phạm và hành vi phạm tội của bị cáo. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thừa nhận thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản vào ngày 06/10/2022 và khai nhận trộm cắp 05 chiếc điện thoại gồm: 02 điện thoại Oppo và 03 điện thoại Samsung. Tuy nhiên, bị cáo khai nhận theo trí nhớ về số lượng và chủng loại điện thoại đã trộm cắp vì hành vi thực hiện từ năm 2022 nên không có cơ sở để chấp nhận lời khai của bị cáo. Như vậy, căn cứ vào lời khai của bị hại, người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, biện bản thực nghiệm điều tra, bản kết luận giám định hình ảnh và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án do bị hại giao nộp có đủ căn cứ để xác định số điện thoại bị cáo trộm cắp tại cửa hàng Anh Huy S ngày 06/10/2022 là 13 chiếc điện thoại Iphone các loại.

Đối với số tiền bị cáo trộm cắp tại cửa hàng A1 ngày 06/10/2022, tại phiên tòa bị hại V1 thay đổi lời khai về số tiền bị chiếm đoạt tại cửa hàng vào ngày 06/10/2022 là 2.100.000 đồng. Xét thấy lời khai của bị hại là phù hợp với lời khai của bị cáo và

phù hợp với việc áp dụng nguyên tắc có lợi cho bị cáo nên xác định số tiền bị cáo trộm cắp tại cửa hàng Anh Huy S ngày 06/10/2022 là 2.100.000 đồng.

Như vậy, tổng giá trị tài sản và tiền Phan Viết V trộm cắp ngày 06/10/2022 và ngày 24/9/2024 là: 352.500.000 đồng.

Căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa, lời khai tại cơ quan điều tra, báo cáo của người bị hại, lời khai của người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác được phản ánh trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi nêu trên của bị cáo Phan Viết V đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 173 BLHS như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là đúng pháp luật.

[3]. Về tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Đây là vụ án rất nghiêm trọng. Bị cáo là người thành niên, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Với mục đích có tiền để sử dụng vào việc cá nhân mà không phải bỏ sức lao động, lợi dụng sơ hở của người bị hại, bị cáo đã lén lút chiếm đoạt tài sản. Hành vi phạm tội của bị cáo thể hiện sự táo bạo, gây mất trật tự trị an, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân. Vì vậy, cần xử lý nghiêm để giáo dục và phòng ngừa chung.

[4]. Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

Bị cáo V 02 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản tại cửa hàng điện thoại Lê Thống M1 và Anh H. Ngày 06/01/2023 bị Tòa án nhân dân Quận 12 thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 18 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội do cố ý. Vì vậy, bị cáo chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” và “Tái phạm” quy định tại điểm g, h khoản 1 Điều 52 BLHS.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải; bị cáo có bố đẻ là ông Lê Viết T5 là người có công với cách mạnh. Vì vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.

Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, xét thấy hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, tài sản bị cáo chiếm đoạt có giá trị lớn. Do đó, cần phải xử lý nghiêm minh và áp dụng Điều 38 BLHS cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian là cần thiết, nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho xã hội và cũng nhằm mục đích răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung, đảm bảo công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm.

[5] Về vật chứng:

  • - Đối với 20 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone gồm: 03 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax, 09 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, 06 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XSMax; 01 tấm tôn màu xanh, kích thước khoảng (142x310)cm. Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu anh Lê Nhữ T1 là phù hợp nên HĐXX không xem xét.
  • - Đối với 01 đôi găng tay màu trắng xanh; 01 đoạn dây dù màu vàng; 01 túi ni lông màu vàng; 01 túi ni lông màu đen; 01 bộ áo mưa màu tím; 01 kìm điện có vỏ bọc thân kìm màu đỏ đen là công cụ bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi trộm cắp nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS;
  • - Đối với 01 đôi dép lê màu nâu, có chữ Big Win Wonderful; 01 áo Polo màu xanh đã qua sử dụng và 01 quần sóc bò màu xanh là trang phục bị cáo mặc khi đi trộm cắp, tại phiên tòa bị cáo không muốn nhận lại. Xét thấy không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 106 BLTTHS.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Lê Nhữ T1 đề nghị bị cáo bồi thường số tiền bị chiếm đoạt 3.200.000 đồng là có căn cứ nên được chấp nhận.

Bị hại anh Nguyễn Thế V1 đề nghị bị cáo bồi thường số tiền 143.600.000 đồng tương đương với giá trị 13 chiếc điện thoại Iphone và 2.100.000 đồng bị chiếm đoạt là có căn cứ nên được chấp nhận.

Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì về phần bồi thường dân sự và đề nghị cùng gia đình cố gắng khắc phục thiệt hại cho các bị hại.

[7] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Phan Viết V hiện đang bị tạm giam nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[8] Về vấn đề khác:

Đối với Nguyễn Hữu M là người nhận số tiền 2.300.000 đồng do Phan Viết V trả nợ, do không biết đây là tiền V trộm cắp ngày 24/9/2024 mà có, do đó không đủ căn cứ để xử lý.

Đối với Nguyễn Thị N1 là người bán quần, áo và dép cho Phan Viết V với số tiền 730.000 đồng do không biết đây là tiền V trộm cắp ngày 24/9/2024 mà có, do đó không đủ căn cứ để xử lý.

[9] Án phí: Căn cứ khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH14 buộc bị cáo phải chịu án phí HSST và án phí dân sự trong vụ án hình sự theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: điểm a khoản 3 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, h Điều 52; Điều 38; Điều 47 BLHS. Điểm a, c khoản 2 Điều 106; Khoản 2 Điều 136; Điều 331, Điều 333 BLTTHS. Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 589 BLDS. Điểm a, điểm c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Phan Viết V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Phan Viết V 08 (T6) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/9/2024.

Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo có trách nhiệm trả lại số tiền 3.200.000₫ (Ba triệu hai trăm nghìn đồng) cho anh Lê Nhữ T1 và trả số tiền 143.600.000đ (Một trăm bốn mươi ba triệu sáu trăm nghìn đồng) cho anh Nguyễn Thế V1.

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm thi hành thì phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 bộ luật dân sự 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành.

Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 đôi găng tay màu trắng xanh; 01 đoạn dây dù màu vàng; 01 túi ni lông màu vàng; 01 túi ni lông màu đen; 01 bộ áo mưa màu tím; 01 kìm điện có vỏ bọc thân kìm màu đỏ đen; 01 đôi dép lê màu nâu, có chữ Big Win Wonderful; 01 áo Polo màu xanh đã qua sử dụng và 01 quần sóc bò màu xanh. Vật chứng trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Sầm Sơn theo biên bản giao nhận vật chứng số 29/BBVC-CCTHA ngày 19/3/2025.

Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí HSST và 7.340.000₫ (Bảy triệu ba trăm bốn mươi nghìn đồng) án phí dân sự trong vụ án hình sự.

Án xử công khai, bị cáo, bị hại Nguyễn Thế V1 có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại Lê Nhữ T1 có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận (hoặc ngày niêm yết) bản án.

Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP. Sầm Sơn;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - Bị cáo;
  • - Các bị hại;
  • - CQCSĐT công an tỉnh Thanh Hóa;
  • - UBND xã, phường nơi bị cáo cư trú;
  • - Thi hành án DS TP. Sầm Sơn;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hồng Nhung

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Thị Luyến

Trần Thị Ngọc

Nguyễn Hồng Nhung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 33/2025/HS-ST ngày 28/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SẦM SƠN, TỈNH THANH HÓA về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 33/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SẦM SƠN, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger