Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ TÂY NINH

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2025/HS-ST

Ngày 27-3-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂY NINH, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Thị Bảo Ngọc.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Minh Hoàng.

Ông Trần Tấn Phát

- Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Ngọc Dung – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Trương Đức Hoàng – Kiểm sát viên.

Trong ngày 27 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 40/2025/TLST-HS ngày 14 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2025/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:

Lê Thái S, sinh năm 1976; nơi sinh: Tỉnh Tây Ninh; nơi đăng ký thường trú: Ấp B, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: không có; trình độ văn hoá: không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn T (đã chết) và bà Võ Thị H (đã chết); vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: Không có.

Nhân thân:

  • - Tại bản án số 72 ngày 27/4/1994 của Toà án nhân dân tỉnh Tây Ninh xử phạt 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và 06 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, tổng hợp hình phạt 30 tháng tù, đã chấp hành xong hình phạt tù, chưa đóng án phí và hình phạt bổ sung, nhưng thuộc trường hợp đương nhiên được xoá án tích.
  • - Tại bản án số 68 ngày 11/02/1995 của Toà án nhân dân huyện Tân Biên xử phạt 06 tháng tù về tội “Trốn khỏi nơi giam” đã chấp hành xong hình phạt tù, đã hết thời hiệu thi hành án phí, đã được xoá án tích;
  • - Tại bản án số 54 ngày 12/12/1996 của Toà án nhân huyện Tân Biên xử phạt 48 tháng tù về tội “Trốn khỏi nơi giam”, đã chấp hành xong hình phạt tù, Cơ quan Thi hành án dân sự huyện G đã ban hành Quyết định số 172 ngày 30/9/2010 về việc đình chỉ thi hành án phí hình sự sơ thẩm 50.000 đồng, đã được xoá án tích;
  • - Tại bản án số 96 ngày 18/6/2002 của Toà án nhân dân tỉnh Tây Ninh xử phạt 10 năm tù về tội “Cướp tài sản” và 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, tổng hợp hình phạt là 11 năm tù, đã chấp hành xong hình phạt tù, đã hết thời hiệu thi hành án phí, đã được xoá án tích;
  • - Tại bản án số 83 của Toà án nhân dân huyện Hoà Thành (nay là thị xã H), tỉnh Tây Ninh xử phạt 02 năm tù về tội “Đánh bạc” và 02 năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, tổng hợp hình phạt với bản án số 96 ngày 18/6/2002 là 15 năm tù, đã chấp hành xong hình phạt, đã hết thời hiệu thi hành án phí, đã được xoá án tích.
  • - Tại bản án số 48 ngày 10/9/2014 của Toà án nhân dân huyện Dương Minh Châu xử phạt 04 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đã chấp hành xong hình phạt tù, đã đóng án phí, đã được xoá án tích.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 08-12-2024 tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T (nay là Phân trại tạm giam Khu vực thành phố T) cho đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên toà.

- Bị hại: Nguyễn Minh H1, sinh năm 199; cư trú tại: Ấp T, xã T, thành phố T, tỉnh Tây Ninh, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Thái Sống lang thang tại Công viên huyện T, tỉnh Tây Ninh và quen với người tên T1 (không rõ họ tên, địa chỉ) từ chiều ngày 07/12/2024, đến khoảng 18 giờ cùng ngày T1 rủ S cùng đi cầm đồ xe máy nhãn hiệu Wave (không rõ biển số) của T1 để lấy tiền tiêu xài, cả hai cùng nhau đi đến tiệm cầm đồ “Huy Hoàng” tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, do anh Nguyễn Văn H2, sinh năm 1972 làm chủ, xe không có giấy tờ nên anh H2 chỉ đồng ý cho T1 mượn 1.100.000 đồng và yêu cầu viết giấy hẹn sáng hôm sau phải mang giấy tờ xe đến. S quay lại công viên, T1 đi đâu không rõ.

Đến khoảng 20 giờ cùng ngày không thấy T1 quay lại, S đi bộ đến khu vực Cầu M thuộc xã T, thành phố T, tỉnh Tây Ninh, khi đến khu vực vườn cao su thuộc ấp T, xã T, thành phố T, tỉnh Tây Ninh, S nhìn thấy xe mô tô biển số 70B1-175.73 của anh Nguyễn Minh H1, sinh năm 1999, nơi cư trú: Ấp T, xã T, thành phố T, tỉnh Tây Ninh đang để trong lô cao su nên nảy sinh ý định lấy trộm đem bán lấy tiền tiêu xài, S lén lút đến gần, đẩy xe ra ngoài và khởi động xe điều khiển về công viên huyện T, đến khoảng 05 giờ ngày 08/12/2024 S gặp T1, cả hai cùng nhau mang xe đến tiệm cầm đồ Huy Hoàng để cầm lấy 3.000.000 đồng và chuộc lại xe của T1, chủ tiệm cầm đồ hỏi giấy tờ xe và căn cước công dân thì cả hai không ai có, nghi ngờ xe trộm cắp nên anh H2 giữ S lại và báo Công an, riêng T1 nhanh chóng bỏ chạy.

  • * Kết luận định giá tài sản số 98 ngày 12/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố T kết luận: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đen trắng, biển số 70B1-175.73, số khung CS5C640CY737106, số máy 5C6473110; Đăng ký lần đầu ngày 03/4/2012, đã qua sử dụng trị giá 8.000.000 đồng vào ngày 08/12/2024.

Quá trình điều tra Lê Thái S thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên.

  • * Kết quả thu giữ và xử lý vật chứng còn lại: Không có.
  • * Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Minh H1 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường.

Qua xác minh Lê Thái S không có tài sản nên không tiến hành kê biên.

Tại bản Cáo trạng số: 42/CT-VKSTPTN ngày 14-3-2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh đã truy tố bị cáo Lê Thái S về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố Lê Thái S về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lê Thái S từ 02 năm đến 03 năm tù.

Hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với bị cáo.

- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 của Bộ luật Hình sự; Ghi nhận bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã ăn năn hối cải, xin Hội đồng xét xử xem xét mức hình phạt nhẹ, để bị cáo trở về với gia đình, sớm tái hòa nhập với xã hội, sống trở thành người có ích.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. [2] Về tội danh:

    Tại phiên tòa, bị cáo S khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như sau: Do muốn có tiền tiêu xài cá nhân, vào ngày 08-12-2024, tại khu vực ấp T, xã T, thành phố T bị cáo S đã thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản là 01 xe mô tô biển số 70B1-175.73 của anh Nguyễn Minh H1 với giá trị tài sản chiếm đoạt là 8.000.000 đồng.

    Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận định giá tài sản. Do đó, có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, với tài sản chiếm đoạt trị giá từ trên 2.000.000 đồng dưới 50.000.000 đồng, thuộc tình tiết định khung hình phạt tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

    Cáo trạng số: 42/CT-VKSTPTN ngày 14-3-2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh truy tố bị cáo tội “Trộm cắp tài sản” là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

    Tuy nhiên, Cáo trạng của Viện kiểm sát xác định tại các bản án số 68/1995, 96/2002; 83/2002, bị cáo Lê Thái S chưa chấp hành xong tiền án phí, chưa được xoá án tích nên lần phạm tội này là tái phạm nguy hiểm, truy tố bị cáo theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự thì thấy rằng: Kết quả xác minh thể hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Dầu không thụ lý để ra quyết định thi hành án chủ động về tiền án phí đối với bị cáo. Các bản án nêu trên có hiệu lực trước ngày Luật Thi hành án dân sự năm 2008 có hiệu lực. Do đó áp dụng Điều 21 của Pháp lệnh Thi hành án dân sự, điểm d mục 11 Nghị quyết số 01/2000/NQ-HĐTP ngày 04/8/2000 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao có hiệu lực thi hành từ 01/9/2000, xác định phần án phí bị cáo S phải chịu đã hết hiệu lực thi hành. Theo Điều 70, 73 của Bộ luật Hình sự cần xác định bị cáo thuộc trường hợp đương nhiên xoá án tích. Hơn nữa, trong bản án gần nhất với lần phạm tội này là bản án số 48/2014 của Toà án nhân dân huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh đã áp dụng tình tiết tái phạm nguy hiểm đối với bị cáo dựa trên các bản án số 96/2002; 83/2002; lần phạm tội này xác định bị cáo tái phạm nguy hiểm là chưa phù hợp với Điều 53 của Bộ luật Hình sự.

  3. [3] Vụ án mang tính chất ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội; xâm phạm đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ; bị cáo có nhân thân xấu, nhiều lần phạm tội xâm phạm sở hữu, bị xử phạt nhưng không lấy làm bài học, tiếp tục phạm tội nên cần xử lý nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống một thời gian mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
  4. [4] Khi quyết định hình phạt, cần xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
    • - Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có.
    • - Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo nên cân nhắc cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
  5. [5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  6. [6]Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu gì thêm nên cần ghi nhận.
  7. [7] Về án phí: Bị cáo phải chịu bị cáo 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Lê Thái S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

    Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt bị cáo Lê Thái S 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 08-12-2024.

  2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào Điều 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 589 của Bộ luật Dân sự.

    Ghi nhận anh Nguyễn Minh H1 đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường gì thêm.

  3. Về án phí: Căn cứ vào Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Về quyền kháng cáo:

    Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Những người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt, niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tây Ninh;
  • - Phòng KTNV. TA tỉnh Tây Ninh;
  • - VKSND tỉnh Tây Ninh;
  • - VKSND thành phố Tây Ninh;
  • - Sở Tư pháp Tây Ninh;
  • - Chi cục THADS thành phố Tây Ninh;
  • - Phòng PV 06;
  • - Văn phòng;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Đương sự;
  • - Hồ sơ vụ án;
  • - Lưu tập án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Hồ Thị Bảo Ngọc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 33/2025/HS-ST ngày 27/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂY NINH, TỈNH TÂY NINH về hình sự sơ thẩm (trộm cắp tài sản)

  • Số bản án: 33/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Trộm cắp tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂY NINH, TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Do muốn có tiền tiêu xài cá nhân, vào ngày 08-12-2024, tại khu vực ấp T, xã T, thành phố T bị cáo S đã thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản là 01 xe mô tô biển số 70B1-175.73 của anh Nguyễn Minh H1 với giá trị tài sản chiếm đoạt là 8.000.000 đồng.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger