Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 8 – VĨNH LONG

Bản án số: 33/2025/HS-ST

Ngày: 25/11/2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Triều.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lưu Văn Hiếu.

2. Ông Nguyễn Văn Tiến.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Hữu Lộc - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 8 – Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Vĩnh Long tham gia phiên tòa: 1. Ông Trần Văn Tư - Kiểm sát viên.

2. Ông Phan Hoàng Q - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 11 năm 2025, Tòa án nhân dân khu vực 8 – Vĩnh Long tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 30/2025/TLST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:

Lê Hoàng H

, sinh ngày 19/9/2000; Tên gọi khác: Không; Nơi sinh: tỉnh Bến Tre; Nơi cư trú: số C, ấp G, xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre (nay là: số 348/GCA, ấp G, xã B, tỉnh Vĩnh Long); Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: Lớp 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn H1 và bà Nguyễn Thị P; Vợ, con: Chưa có; Bị cáo có 01 chị sinh năm 1996;

+ Tiền án: Bị cáo có 01 tiền án tội về tội “Cố ý gây thương tích”, bị Tòa án nhân dân huyện Ba Tri (nay là Tòa án nhân dân khu vực 8 – Vĩnh Long) xét xử tại Bản án số 22/2021/HS-ST ngày 20/9/2021, tuyên xử bị cáo 01 (Một) năm tù. Chấp hành xong hình phạt từ ngày 10/10/2022 (Giấy chứng nhận chấp hành xong hình phạt tù số 621/GCN ngày 10/10/2022). Chưa thi hành xong về phần trách nhiệm dân sự.

+ Tiền sự: Bị cáo có 01 tiền sự về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, bị Công an xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre ra xử phạt vi phạm hành chính theo Quyết định số 15/QĐ-XPHC ngày 27/02/2025. Chưa nộp phạt.

Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 12/8/2025 tại xã B, tỉnh Vĩnh Long và tạm hoãn xuất cảnh từ ngày 18/8/2025 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Huỳnh Thị Ngọc T, sinh ngày 24/8/2009;

Nơi cư trú: ấp A, xã T, tỉnh Vĩnh Long. (Vắng mặt, có đơn xin vắng).

- Người đại diện theo ủy quyền của người đại diện theo pháp luật của bị hại: Nguyễn Văn K, sinh năm 1953;

Nơi cư trú: Nơi cư trú: ấp A, xã T, tỉnh Vĩnh Long. (Vắng mặt, có đơn xin vắng).

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại: Bà Đỗ Thị T1 – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm T4, tỉnh Vĩnh Long. (Có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Trần Thị Mỹ X, sinh năm 1992;

    Nơi cư trú: ấp A, xã A, tỉnh Vĩnh Long. (Vắng mặt).

  2. Huỳnh Thanh T2, sinh năm 2004;

    Nơi cư trú: ấp A, xã T, tỉnh Vĩnh Long. (Vắng mặt, có đơn xin vắng).

- Người làm chứng:

  1. Mô Ha Mét M, sinh năm 1980;

    Chỗ ở: ấp G, xã B, tỉnh Vĩnh Long. (Vắng mặt).

  2. Nguyễn Công T3, sinh năm 1988;

    Nơi cư trú: ấp B, xã B, tỉnh Vĩnh Long. (Vắng mặt).

  3. Lê Văn H1, sinh năm 1972;

    Nơi cư trú: ấp G, xã B, tỉnh Vĩnh Long. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 12 giờ 20 phút ngày 14/5/2025, Lê Hoàng H, sinh năm 2000, đăng ký thường trú: ấp G, xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre (nay là ấp G, xã B, tỉnh Vĩnh Long) đến ấp G, xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre (nay là ấp G, xã B, tỉnh Vĩnh Long) gặp Mô Ha Mét Mi S, sinh năm 1980 (cha là người gốc Ấn Độ, mẹ là người Việt Nam) để nhờ Mô Ha Mét Mi Shen chở đến nhà ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1953 thuộc ấp A, A, huyện B, tỉnh Bến Tre (nay là ấp A, xã T, tỉnh Vĩnh Long).

Đến khoảng 12 giờ 50 phút cùng ngày thì M2 điều khiển xe gắn máy không rõ biển kiểm soát chở Lê Hoàng H đến nhà ông K. Sau đó, Mô Ha Mét Mi S điều khiển xe trở về. H đi vào sân nhà gọi ông K nhưng không ai trả lời. H đi qua nhà dì ruột bên cạnh nhà ông K là bà Nguyễn Thị Thi E, sinh năm 1984 và gọi V (con của bà Thi E) nhưng không ai trả lời. Lúc này, H thấy cửa trước nhà bà Thi E đang khép hờ, nên đi vào bên trong nhìn thấy chiếc xe gắn máy hiệu VERA, màu xanh – xám, biển kiểm soát 71AC-114.82 của cháu Huỳnh Thị Ngọc T, sinh ngày 24/8/2009, đăng ký thường trú: ấp A, xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre (nay là ấp A, xã T, tỉnh Vĩnh Long) đang đậu bên trong nhà, nên H nảy sinh ý định lấy trộm xe. Lúc này, H đi vào bên trong phòng ngủ của cháu Huỳnh Thị Ngọc T (là cháu ruột, sống chung nhà với bà Thi E) tìm chìa khóa xe thì thấy chìa khóa trên nền gạch, nên lấy chìa khóa này mở khóa xe, mang đôi dép nhựa màu trắng của T để cạnh xe, dẫn xe ra khỏi nhà và nhanh chóng tẩu thoát.

H điều khiển xe gắn máy biển kiểm soát 71AC-114.82 đi qua đường C bà H2 rồi dừng lại bên con sông trên địa bàn thị trấn T, huyện B (nay là xã T) để tắm. Lúc tắm, H làm mất đôi dép nhựa màu trắng vừa lấy trộm được. Sau khi tắm xong, H điều khiển xe gắn máy biển kiểm soát 71AC-114.82 đến khu vực nuôi gà của anh M Ha Mét Mi Shen tại ấp G, xã B, tỉnh Vĩnh Long để lấy biển kiểm soát 71C3-576.76 do H nhặt được trước đó và cất giấu tại đây. Thời điểm H đến không có ai ở đây nên H lấy biển kiểm soát 71C3-576.76 rồi tiếp tục điều khiển xe đến tiệm sửa xe của anh Nguyễn Công T3, sinh năm 1988 tại ấp B, xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre (nay là ấp B, xã B, tỉnh Vĩnh Long) là bạn của H để dùng máy cắt (anh T3 không biết H dùng máy cắt) để cắt dãy chữ số “114.82” của biển kiểm soát 71AC-114.82; rồi cắt dãy chữ số “576.76” của biển kiểm soát 71C3-576.76. Đối với dãy chữ số “114.82” thì H cắt thành “11”, “4.8”, “2”. Sau đó, H dán dãy chữ số “576.76” vào “71AC” thành biển kiểm soát số 71AC-576.76 gắn vào xe vừa trộm được và điều khiển về nhà của H cất giấu.

Ngay sau khi bị mất trộm, gia đình bị hại làm đơn tố giác. Quá trình điều tra, Lê Hoàng H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Vật chứng thu giữ:

  • + 01 (một) xe gắn máy hai bánh (dung tích 49cm³) hiệu VERA, màu xanh – xám, số máy: RNA139QMBVA000735; số khung: RL9VCBBHVRBG00735 (Cơ quan điều tra đã xử lý giao trả cho bị hại Huỳnh Thị Ngọc T và người đại diện theo ủy quyền của người đại diện hợp pháp cho bị hại vào ngày 13/8/2025).
  • + 06 (sáu) mảnh kim loại có chữ số, chữ cái của biển kiểm soát xe hai bánh gồm: “71AC”, “576.76”, “71-C3”, “11”, “4 .8”, “2” là phần còn lại của 02 biển số bị cắt ghép; (chưa xử lý).
  • + Quần, áo, dụng cụ mà bị cáo H mang theo khi thực hiện hành vi lấy trộm tài sản gồm: 01 (một) cái kéo; 01 (một) áo tay dài bằng vải màu đen hiệu Alex, rộng 40cm, dài 69cm; 01 (một) quần dài bằng vải thun màu xanh, có đường viền màu xanh lá, dài 88cm, lưng quần có chu vi 29cm, ống quần có chu vi 16,5cm; 01 (một) nón lưỡi trai bằng vải màu sọc đỏ - trắng – đen, nền vàng; 01 (một) túi hiệu KUWiN bằng da, vải màu đen dài 33cm, rộng 25cm, cao 09cm, quai đeo dài 105cm; 01 (một) đôi dép kẹp màu đỏ; (chưa xử lý).

Tại Kết luận định giá tài sản số 35/KL-HĐĐGTS ngày 20 tháng 6 năm 2025 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện B, tỉnh Bến Tre kết luận giá trị của xe gắn máy dung tích 49cm³, hiệu VERA, màu xanh – xám, số máy RNA139QMBVA000735, số khung RL9VCBBHVRBG00735, biển kiểm soát 71AC-114.82, tài sản được đăng ký giấy phép lần đầu tháng 6 năm 2024 là 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng); 01 đôi dép nhựa màu trắng, đã qua sử dụng là 20.000 đồng (hai mươi nghìn đồng), 01 biển kiểm soát 71AC-114.82, trình trạng bị cắt hư hỏng là 120.000 đồng.

Tại Bản Cáo trạng số: 11/CT-VKSKV8 ngày 30/10/2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Vĩnh Long đã truy tố bị cáo Lê Hoàng H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Vĩnh Long giữ nguyên Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) tuyên bố bị cáo Lê Hoàng H phạm tội “Trộm cắp tài sản”, đồng thời đề nghị:

* Về trách nhiệm hình sự:

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h, i khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Lê Hoàng H từ 01 năm đến 02 năm tù.

* Về xử lý vật chứng:

Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự, đề nghị HĐXX:

  • - Ghi nhận Cơ quan điều tra đã xử lý giao trả 01 (một) xe gắn máy hai bánh (dung tích 49cm³) hiệu VERA, màu xanh – xám, số máy: RNA139QMBVA000735; số khung: RL9VCBBHVRBG00735 cho bị hại Huỳnh Thị Ngọc T và người đại diện theo ủy quyền của người đại diện hợp pháp cho bị hại vào ngày 13/8/2025.
  • - Tịch thu tiêu hủy:
  • + Quần, áo, dụng cụ mà bị cáo H mang theo khi thực hiện hành vi lấy trộm tài sản gồm: 01 (một) cái kéo; 01 (một) áo tay dài bằng vải màu đen hiệu Alex, rộng 40cm, dài 69cm; 01 (một) quần dài bằng vải thun màu xanh, có đường viền màu xanh lá, dài 88cm, lưng quần có chu vi 29cm, ống quần có chu vi 16,5cm; 01 (một) nón lưỡi trai bằng vải màu sọc đỏ - trắng – đen, nền vàng; 01 (một) túi hiệu KUWiN bằng da, vải màu đen dài 33cm, rộng 25cm, cao 09cm, quai đeo dài 105cm; 01 (một) đôi dép kẹp màu đỏ.
  • + 06 (sáu) mảnh kim loại có chữ số, chữ cái của biển kiểm soát xe hai bánh gồm: “71AC”, “576.76”, “71-C3”, “11”, “4 .8”, “2” là phần còn lại của 02 biển số bị cắt ghép.

- Về trách nhiệm dân sự:

Ghi nhận bị hại đã nhận lại tài sản 01 (một) xe gắn máy hai bánh (dung tích 49cm³) hiệu VERA, màu xanh – xám nên không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm. Riêng đối với 01 (một) đôi dép nhựa màu trắng mà bị cáo H lấy trộm không thu hồi được của bị hại có giá trị là 20.000 đồng (theo Kết luận định giá tài sản số 35/KL-HĐĐGTS ngày 20 tháng 6 năm 2025 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện B, tỉnh Bến Tre), bị hại không yều cầu bị cáo bồi thường nên không đề cập xử lý. Đối với 01 (một) biển kiểm soát 71AC-114.82, trình trạng bị cắt hư hỏng là 120.000 đồng (theo Kết luận định giá tài sản số 35/KL-HĐĐGTS ngày 20 tháng 6 năm 2025 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện B, tỉnh Bến Tre) bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường và hành vi này của bị cáo đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh V tách ra để xử phạt vi phạm hành chính. Đối với việc bị cáo cắt làm hư hỏng biển soát số 71C3 – 576.76 của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Trần Thị Mỹ X nhưng do bà X không yêu cầu bị cáo bồi thường công làm lại và bồi thường gì khác nên không đặt vấn đề giải quyết trong vụ án này.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lê Hoàng H đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản đã thực hiện như nội dung Cáo trạng đã xác định là đúng người đúng tội, không oan cho bị cáo. Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị hại Huỳnh Thị Ngọc T và người đại diện theo ủy quyền của người đại diện theo pháp luật của bị hại đã nhận lại 01 xe gắn máy hiệu VERA, màu xanh – xám, biển kiểm soát 71AC-114.82 nên không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm. Đối với việc bị cáo cắt hư hỏng biển số xe 71AC-114.82 và lấy đôi dép nhựa màu trắng không tìm được thì phía bị hại cũng không yêu cầu bị cáo bồi thường các khoản này. Về trách nhiệm hình sự, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt và xin bãi nại cho bị cáo.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Huỳnh Thanh T2 trình bày: Xe gắn máy hiệu VERA, màu xanh – xám, biển kiểm soát 71AC-114.82 mà bị cáo lấy trộm là do anh đứng tên đăng ký, nhưng thực tế là tài sản cá nhân của bị hại Huỳnh Thị Ngọc T. Do T chưa đủ tuổi đứng tên đăng ký xe nên cha mẹ T có nhờ anh đứng tên hộ.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Thị Mỹ X trình bày: Biển kiểm soát xe số 71C3 – 576.76 do chị sở hữu, nhưng trên đường di chuyển đã bị mất từ tháng 5/2023 cho nay khi được Công an mời làm việc chị mới biết người nhặt được là bị cáo Lê Hoàng H. Đối với biển số xe này không còn giá trị nên chị không yêu cầu nhận lại và không yêu cầu bị cáo bồi thường.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại Huỳnh Thị Ngọc T trình bày: Thống nhất tội danh, điều luật áp dụng, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà Kiểm sát viên đề nghị đối với bị cáo. Về tài sản của bị hại Huỳnh Thị Ngọc T là 01 xe gắn máy hiệu VERA, màu xanh – xám, biển kiểm soát 71AC-114.82 đã được thu hồi trả lại cho bị hại và bị cáo có hành vi cắt hư hỏng biển kiểm soát 71AC-114.82 và lấy 01 đôi dép màu trắng của bị hại không thu hồi được theo Kết luận định giá tài sản số 35/KL-HĐĐGTS ngày 20 tháng 6 năm 2025 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện B, tỉnh Bến Tre lần lượt là 120.000 đồng và 20.000 đồng nhưng bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên đề nghị HĐXX ghi nhận. Về trách nhiệm hình sự: Bị hại có đơn xin bãi nại, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Kiểm sát viên tranh luận: Quan điểm của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại thống nhất với luận tội của Kiểm sát viên nên Kiểm sát viên không tranh luận gì thêm.

Bị cáo nói lời nói sau cùng, xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Tại phiên tòa, bị hại Huỳnh Thị Ngọc T, người đại diện theo ủy quyền của người đại diện theo pháp luật của bị hại là Nguyễn Văn K, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Huỳnh Thanh T2 vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Thị Mỹ X, người làm chứng Mô Ha Mét M, Nguyễn Công T3 và Lê Văn H1 vắng mặt không có lý do. Do phía bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng đã có lời khai rõ trong quá trình điều tra, đồng thời bị cáo, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại và những người tiến hành tố tụng khác không có ý kiến gì về việc vắng mặt của những người nêu trên. HĐXX, căn cứ vào Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, tiến hành xét xử vắng mặt những người nêu trên trong vụ án.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Vĩnh Long, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[3] Lời khai nhận của bị cáo Lê Hoàng H phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, vật chứng được thu giữ cùng các tài liệu liên quan khác do Cơ quan điều tra thu thập được trong quá trình điều tra vụ án. Đã đủ cơ sở xác định: Do động cơ tư lợi bất chính nên vào lúc 12 giờ 50 phút ngày 14 tháng 5 năm 2025, tại nhà của bà Nguyễn Thị Thi E thuộc ấp A, A, huyện B, tỉnh Bến Tre (nay là ấp A, xã T, tỉnh Vĩnh Long) - Lê Hoàng H, sinh năm 2000, ĐKTT: ấp G, xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre (nay là ấp G, xã B, tỉnh Vĩnh Long) có hành vi trộm cắp 01 xe gắn máy hiệu VERA, màu xanh – xám, biển kiểm soát 71AC-114.82 trị giá 15.000.000 đồng; 01 đôi dép nhựa màu trắng trị giá 20.000 đồng của cháu Huỳnh Thị Ngọc T ( khi T 15 tuổi 8 tháng 20 ngày). Do đó, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Vĩnh Long đã truy tố bị cáo Lê Hoàng H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[4] Hành vi lén lút trộm cắp tài sản của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm hại trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ. Khi thực hiện hành vi, bị cáo đủ tuổi và đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo nhận thức được việc chiếm đoạt tài sản của người khác là sai trái, vi phạm pháp luật nhưng vì bản tính tham lam, muốn có tiền tiêu xài mà không cần phải lao động nên bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi và hậu quả xảy ra đúng như bị cáo mong muốn. Việc làm của bị cáo không những vi phạm pháp luật mà còn gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây tâm lý hoang mang, lo sợ trong quần chúng nhân dân, mỗi khi sơ hở là bị kẻ gian đột nhập lấy cắp tài sản mà bản thân đã lao động cực nhọc, tích góp qua nhiều tháng, nhiều năm mới có được. Bản thân bị cáo có nhân thân xấu, hiện có 01 tiền án và 01 tiền sự chưa được xóa, nhưng không biết tự sửa đổi mà vẫn tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội mới. Vì vậy, việc đưa bị cáo ra xét xử là cần thiết và cần xử lý bị cáo bằng hình phạt tù giam mới đủ sức răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo thành người tốt, có ích cho xã hội, đồng thời cũng nhằm răn đe, phòng ngừa chung.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phải chịu 02 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm” và “Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi” được quy định tại điểm h, i khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, HĐXX xét thấy: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị hại có đơn xin bãi nại, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, đề nghị về áp dụng các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo của đại diện Viện kiểm sát có cơ sở nên được HĐXX chấp nhận.

[7] Về xử lý vật chứng:

  • - Đối với 01 (một) xe gắn máy hai bánh (dung tích 49cm³) hiệu VERA, màu xanh – xám, số máy: RNA139QMBVA000735; số khung: RL9VCBBHVRBG00735, Cơ quan điều tra đã xử lý giao bị hại T và người đại diện theo ủy quyền của người đại diện hợp pháp cho bị hại là phù hợp với quy định pháp luật nên được HĐXX ghi nhận.
  • - Đối với 06 (sáu) mảnh kim loại có chữ số, chữ cái của biển kiểm soát xe hai bánh gồm: “71AC”, “576.76”, “71-C3”, “11”, “4 .8”, “ 2” là phần còn lại của 02 biển số bị cắt ghép do chủ sở hữu là chị Trần Thị Mỹ X và bị hại không yêu cầu nhận lại và không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
  • - Đối với 01 (một) cái kéo; 01 (một) áo tay dài bằng vải màu đen hiệu Alex, rộng 40cm, dài 69cm; 01 (một) quần dài bằng vải thun màu xanh, có đường viền màu xanh lá, dài 88cm, lưng quần có chu vi 29cm, ống quần có chu vi 16,5cm; 01 (một) nón lưỡi trai bằng vải màu sọc đỏ - trắng – đen, nền vàng; 01 (một) túi hiệu KUWiN bằng da, vải màu đen dài 33cm, rộng 25cm, cao 09cm, quai đeo dài 105cm; 01 (một) đôi dép kẹp màu đỏ là quần áo, dụng cụ bị cáo thực hiện hành vi phạm tội và không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

[8] Về trách nhiệm dân sự:

  • - Ghi nhận việc bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm khoản nào khác.
  • - Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Trần Thị Mỹ X không yêu cầu bị cáo bồi thường công làm lại biển số 71C3 – 576.76 và không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên không đặt vấn đề giải quyết trong vụ án này.

[9] Đối với Nguyễn Công T3, chủ tiệm sửa xe, khi H đến và tự ý dùng dụng cụ để cắt biển số xe, T3 không biết nên không xử lý trách nhiệm hình sự đối với T3 là đúng pháp luật.

[10] Đối với Mô Ha Mét M, có hành vi điều khiển xe gắn máy chở Lê Hoàng H đến nhà ông K, không biết H thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nên không xử lý trách nhiệm hình sự đối với Mô Ha M1 Mi Shen là đúng pháp luật.

[11] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Lê Hoàng H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h, i khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự;

    Xử phạt bị cáo Lê Hoàng H 01 (Một) năm 03 (ba) tháng tù.

    Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt tù.

  3. Về trách nhiệm dân sự:
    • - Ghi nhận việc bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm khoản nào khác.
    • - Ghi nhận người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Trần Thị Mỹ X không yêu cầu bị cáo bồi thường công làm lại biển số 71C3 – 576.76 trong vụ án này và không còn yêu cầu gì khác.
  4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự:
    • - Ghi nhận Cơ quan điều tra đã giao 01 (một) xe gắn máy hai bánh (dung tích 49cm³) hiệu VERA, màu xanh – xám, số máy: RNA139QMBVA000735; số khung: RL9VCBBHVRBG00735, cho bị hại Huỳnh Thị Ngọc T và người đại diện theo ủy quyền của người đại diện hợp pháp cho bị hại.
    • - Tịch thu tiêu hủy: 06 (sáu) mảnh kim loại có chữ số, chữ cái của biển kiểm soát xe hai bánh gồm: “71AC”, “576.76”, “71-C3”, “11”, “4 .8”, “ 2” và 01 (một) cái kéo; 01 (một) áo tay dài bằng vải màu đen hiệu Alex, rộng 40cm, dài 69cm; 01 (một) quần dài bằng vải thun màu xanh, có đường viền màu xanh lá, dài 88cm, lưng quần có chu vi 29cm, ống quần có chu vi 16,5cm; 01 (một) nón lưỡi trai bằng vải màu sọc đỏ - trắng – đen, nền vàng; 01 (một) túi hiệu KUWiN bằng da, vải màu đen dài 33cm, rộng 25cm, cao 09cm, quai đeo dài 105cm; 01 (một) đôi dép kẹp màu đỏ.

    (Theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 05/11/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh V với Phòng Thi hành án dân sự khu vực 8 – Vĩnh Long).

  5. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14;

    Buộc bị cáo Lê Hoàng H phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.

  6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị hại, người đại diện theo ủy quyền của người đại diện theo pháp luật của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt theo quy định pháp luật.

* Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Đại diện của bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - TAND tỉnh Vĩnh Long;
  • - VKSND tỉnh Vĩnh Long;
  • - CQ CSĐT Công an tỉnh Vĩnh Long;
  • - Phòng Hồ sơ nghiệp vụ (PV06) Công an tỉnh Vĩnh Long;
  • - VKSND khu vực 8 – Vĩnh Long;
  • - Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long;
  • - Phòng Thi hành án dân sự khu vực 8 - Vĩnh Long;
  • - UBND xã Ba Tri, tỉnh Vĩnh Long;
  • - Công an xã Ba Tri, tỉnh Vĩnh Long;
  • - Lưu (VP, HSVA, HS.THAHS).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Xuân Triều

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 33/2025/HS-ST ngày 25/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – VĨNH LONG về trộm cắp tài sản (hình sự)

  • Số bản án: 33/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – VĨNH LONG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Do động cơ tư lợi bất chính nên vào lúc 12 giờ 50 phút ngày 14 tháng 5 năm 2025, tại nhà của bà Nguyễn Thị Thi E thuộc ấp A, A, huyện B, tỉnh Bến Tre (nay là ấp A, xã T, tỉnh Vĩnh Long) - Lê Hoàng H, sinh năm 2000, ĐKTT: ấp G, xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre (nay là ấp G, xã B, tỉnh Vĩnh Long) có hành vi trộm cắp 01 xe gắn máy hiệu VERA, màu xanh – xám, biển kiểm soát 71AC-114.82 trị giá 15.000.000 đồng; 01 đôi dép nhựa màu trắng trị giá 20.000 đồng của cháu Huỳnh Thị Ngọc T ( khi T 15 tuổi 8 tháng 20 ngày). Do đó, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Vĩnh Long đã truy tố bị cáo Lê Hoàng H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger