|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC TỈNH AN GIANG Bản án số: 33/2025/HS-ST Ngày 25 tháng 3 năm 2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC-TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Nam
Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Anh; Bà Võ Thị Thanh Phương
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Minh Tấn – Thư ký viên
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc tham gia phiên tòa: Ông Lâm Hải Huy - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 3 năm 2025, tại Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số: 27/2025/TLST-HS ngày 14/3/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2025/QĐXXST-HS ngày 14/3/2025 đối với bị cáo:
Bùi Văn P, sinh năm 1984, tại huyện C, tỉnh An Giang; Nơi cư trú: ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang; Nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Đạo Phật; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn Đ và bà Bùi Thị D; Bị cáo có vợ tên Đỗ Thị Q và có 02 con, lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực C, tỉnh An Giang từ ngày 27/12/2024 cho đến nay và có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Dương Văn N, sinh năm 1996. Nơi cư trú: ấp V, xã V, huyện A, tỉnh An Giang. Có mặt
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Âu Văn T, sinh năm 1989. Nơi cư trú: tổ A, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ ngày 14/9/2024, Bùi Văn P đi bộ trên đường T, hướng lên chợ C để tìm người quen xin tiền đi xe về nhà ở huyện C, tỉnh An Giang. Khi đến trước quán cà phê “N1” thuộc tổ B, khóm C, phường V, thành phố C thì P thấy xe mô tô biển số 67N1-076.29 của anh Dương Văn N đậu ở lề đường (cặp quán cà phê “N1”), có sẵn chìa khoá trên xe, không người trong giữ nên P nảy sinh ý định lấy trộm xe mô tô đem bán lấy tiền mua ma tuý sử dụng. Để thực hiện, P đi đến dẫn xe ra đường và điều khiển xe chạy đi về hướng chợ C. Do sợ chủ xe phát hiện, P đem xe đến khu đất trống, sử dụng tua vít có sẵn trong xe tháo bỏ bửng, mặt nạ, bara xe, rỗ phía trước, biển số xe, thanh sắt nằm ngang ở phía sau yên xe và 02 cái giỏ xách, trong lúc P đang tháo thì có 02 người nam (chưa rõ họ tên, địa chỉ) đi ngang qua, thấy P nên vào tiếp tháo phụ tùng xe. Sau đó, P đưa xe cho Âu Văn T, sinh năm 1989, nơi cư trú tổ A, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang (bạn mới quen của P) đem đến khu vực khóm G, phường C, thành phố C bán cho người đàn ông tên P1 (không rõ họ tên, địa chỉ) được 1.600.000 đồng và đưa lại cho P. P lấy 700.000 đồng mua ma tuý sử dụng cùng với với hai người nam thanh niên phụ tháo phụ tùng xe với P, còn lại 900.000 đồng, P tiêu xài cá nhân hết. Ngày 27/12/2024, biết Công an truy tìm người lấy trộm xe mô tô của anh N nên P đến Công an phường V đầu thú. Ngày 03/01/2025, P bị khởi tố để điều tra.
Căn cứ Kết luận định giá tài sản số 3689/KL-ĐG ngày 02/01/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố C, ghi nhận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S, màu đen xám, biển số 67N1-076.29, trị giá 8.000.000 đồng.
Cáo trạng số: 33/CT-VKSCĐ ngày 14/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc truy tố Bùi Văn P về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà sơ thẩm:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử,
Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Bùi Văn P từ 09 tháng đến 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự, Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật Dân sự, đề nghị buộc bị cáo bồi thường giá trị chiếc xe mô tô cho bị hại Dương Văn N là 8.000.000 đồng.
Tại phiên tòa cũng như tại Cơ quan điều tra, Bùi Văn P khai nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố. Bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát về tội danh, khung hình phạt và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt, bị cáo đã ăn năn hối cải về hành vi vừa qua.
Bị hại Dương Văn N trình bày nội dung như Cáo trạng truy tố. Ông N yêu cầu bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường giá trị chiếc xe mô tô là 8.000.000 đồng và yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình cho bị cáo.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Âu Văn T vắng mặt tại phiên tòa nhưng quá trình điều tra, trình bày: Ngày 14/9/2024, bị cáo P có nhờ T đem giao chiếc xe mô tô biển số 67N1- 076.29 cho người tên P1 tại khu vực khóm G, phường C, thành phố C. Bị cáo P không nhờ T bán xe cho ai và không biết xe do P trộm cắp mà có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về trình tự, thủ tục tố tụng:
Về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa, không lý do. Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa, người tham gia tố tụng không có ý kiến và đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án. Xét thấy, quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tiến hành lấy lời khai, đối chất làm rõ các tình tiết trong vụ án nên việc vắng mặt người tham gia tố tụng nêu trên không ảnh hưởng đến việc xét xử. Do đó, căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về trách nhiệm hình sự:
Ngày 14/9/2024, bị cáo Bùi Văn P thừa nhận đã thực hiện hành vi lén lút lấy trộm xe mô tô biển số 67N1- 076.29 là tài sản của ông Dương Văn N, mục đích để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người tham gia tố tụng khác cùng các chứng cứ khác được thu thập trong quá trình điều tra vụ án. Như vậy, hành vi phạm tội của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 có khung hình phạt từ 06 tháng đến 03 năm theo đề nghị của Viện kiểm sát là có căn cứ, phù hợp với quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử xem xét, chấp nhận.
Đối với việc bị cáo khai nhờ Âu Văn T đem xe mô tô 67N1-076.29 bán cho người đàn ông tên P1 (không rõ họ tên, nơi cư trú) với số tiền 1.600.000 đồng nhưng qua đối chất tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, T không thừa nhận. Như vậy, ngoài lời khai của bị cáo không còn chứng cứ nào khác để quy kết trách nhiệm hình sự đối với T về hành vi “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Riêng, 02 người nam thanh niên (không rõ họ tên, nơi cưtrus) đã hỗ trợ bị cáo tháo phụ tùng xe và người tên P1 đã mua xe mô tô theo lời khai của bị cáo, Cơ quan Cảnh sát điều tra sẽ tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ xử lý sau là có căn cứ.
[3] Về tính chất mức độ của hành vi phạm tội:
Bị cáo là người đã trưởng thành, khỏe mạnh, nhận thức và điều khiển được hành vi của bản thân. Bị cáo thừa nhận và biết rõ hành vi trên là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội bằng việc lợi dụng sở hở của bị hại để lén lút lấy trộm tài sản, điều này thể hiện bị cáo xem thường pháp luật và bất chấp tất cả để chiếm đoạt tài sản. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân biết tôn trọng pháp luật, đồng thời răn đe, phòng ngừa chung.
[4] Về nhân thân và tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Bị cáo có nhân thân tốt và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015.
[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Đại diện Viện kiểm sát đề nghị cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ thuộc trường hợp người phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và đầu thú được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự là có căn cứ, phù hợp với quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử xem xét khi áp dụng hình phạt cho bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại yêu cầu bồi thường thiệt hại giá trị chiếc xe mô tô là 8.000.000 đồng và được bị cáo đồng ý bồi thường nên Hội đồng xét xử công nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa các bên.
[7] Về án phí:
Bị cáo phải chịu án phí hình sự, dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
[1] Về hình phạt: Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Bùi Văn P3 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/12/2024.
[2] Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 584, Điều 589 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường giá trị chiếc xe mô tô biển số 67N1-076.29 cho ông Dương Văn N là 8.000.000 đồng.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
[3] Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 400.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
[4] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
(Đã giải thích Điều 26 Luật Thi hành án dân sự)
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Quốc Nam |
Bản án số 33/2025/HS-ST ngày 25/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về trộm cắp tài sản (hình sự)
- Số bản án: 33/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bùi Văn P - Trộm cắp tài sản
