| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 -THANH HOÁ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 33/2025/HS-ST | |
| Ngày 21 tháng 11 năm 2025. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thanh Hương.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Văn Hiếu và ông Trịnh Đình Hồng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hiến - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 6 - Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Doãn Thị Luyến – Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6 - Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 26/2025/TLST-HS ngày 13 tháng 10 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2025/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2025, đối với bị cáo:
Mai Văn T; sinh ngày 21 tháng 4 năm 1971; tại tỉnh Thanh Hóa; nơi ĐKTT và chỗ ở trước khi bị bắt: Tiểu khu P, thị trấn H, huyện H (nay là thôn P, xã H), tỉnh Thanh Hóa; căn cước công dân số: [...]; nghề nghiệp: lái xe; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mai Văn N và bà Trịnh Thị N1; bị cáo có vợ là Lê Thị H và có 02 con; tiền án, tiền sự: không; tạm giữ, tạm giam: bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/4/2025 đến ngày 28/4/2025 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam, Công an tỉnh T cho đến nay; có mặt.
Người làm chứng: - Anh Trần Viết S; sinh năm 1987; nơi cư trú: Thôn V, xã C, tỉnh Hà Tĩnh, vắng mặt.
- Anh Trần Trọng T1; sinh năm 1986; nơi cư trú: Phường Q, tỉnh Thanh Hóa, vắng mặt.
- Anh Vũ Xuân S1; sinh năm 1995 nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, tỉnh Thanh Hóa, vắng mặt.
1
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 10 giờ 00 ngày 18/4/2025, Phòng PC04, Công an tỉnh T phối hợp với Công an xã Y, huyện H (nay là xã H), tỉnh Thanh Hóa tiến hành rà soát các đối tượng nghiện ma tuý trên địa bàn thì phát hiện Trần Viết S, sinh năm 1987, trú tại thôn V, xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh và Trần Trọng T1, sinh năm 1986, trú tại Tổ dân phố P, phường Q, thành phố T có biểu hiện nghi vấn sử dụng trái phép chất ma tuý nên đã yêu cầu về trụ sở Công an xã Y (nay là xã H) để làm việc.
Tiến hành xét nghiệm ma tuý trong nước tiểu đối với Trần Viết S và Trần Trọng T1. Kết quả cả hai dương tính với chất ma túy Hêrôin. S và T1 khai nhận: Cả hai hiện đang cai nghiện tại Cơ sở cai nghiện ma tuý tự nguyện Tiêu V tự phát do Mai Văn T, SN 1971, trú tại tiểu khu P, thị trấn H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa làm chủ. Sự và T1 đã sử dụng ma tuý, loại Hêrôin tại đây, quá trình cai nghiện cả hai được T cung cấp Methadone để uống.
Đến 11 giờ, ngày 19/4/2025 Mai Văn T đã đến Cơ quan cảnh sát điều tra, Công an Tỉnh T đầu thú khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và khai nhận T mở cơ sở Cai nghiện tự nguyện bằng thuốc nam Tiêu Vĩnh T2, hiện tại cơ sở cai nghiện của T đang có 03 học viên cai nghiện gồm: Trần Viết S, Trần Trọng T1 và Vũ Xuân S1.
Cơ quan cảnh sát điều tra, Công an tỉnh T đã triệu tập đối tượng Vũ Xuân S1, sinh năm 1995, trú tại thôn Đ, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa để làm việc, tiến hành test ma túy đối với Vũ Xuân S1. Kết quả: Dương tính với M.
Tiến hành khám xét khẩn cấp Cơ sở cai nghiện ma tuý tự nguyện Tiêu V, Cơ quan CSĐT, Công an tỉnh T phát hiện, thu giữ:
- - Thu giữ tại ngăn mát tủ lạnh trong phòng bếp nhà ở: 01 (một) chai nhựa màu trắng, hình trụ tròn, dán nhãn màu xanh, cao khoảng 15cm, đường kính khoảng 06cm bên trong chứa chất lỏng màu hồng; 02 (hai) chai nhựa hình trụ tròn màu trắng, nắp nhọn cao khoảng 10cm, đường kính khoảng 03cm bên trong mỗi chai đều chứa chất lỏng màu hồng;
- - Thu giữ tại sân thượng tầng 2: 40 (bốn mươi) xi lanh mới chưa qua sử dụng được bọc bằng túi nilon.
- - Thu giữ dưới đệm trong phòng phục hổi ở khu nhà phía sau: 01 (một) ống thuỷ tinh bên trong bám dính chất màu đen; 01 (một) chai nhựa màu trắng, nắp chai được gắn 02 (hai) ống nhựa màu trắng và 01 (một) bật lửa màu xanh.
Quá trình điều tra bị cáo khai nhận:
2
Mai Văn T là nhân viên lái xe của Trung tâm y tế huyện H, tỉnh Thanh Hóa từ năm 2012 đến nay. Năm 2023, T đã tự mở cơ sở cai nghiện ma túy tự nguyện Tiêu Vĩnh N2 ngay tại nhà của T ở địa chỉ tiểu khu P, thị trấn H, huyện H (nay là xã H), tỉnh Thanh Hóa. Cơ sở không được cấp giấy phép hoạt động nhưng T vẫn tổ chức tiếp nhận và cai nghiện tự nguyện cho những người nghiện, người sử dụng ma túy. Trong số những người cai nghiện tại đây có Trần Viết S, Trần Trọng T1, Vũ Xuân S1 và Lê Thanh C. Quá trình tiếp nhận và cai nghiện tự nguyện cho các đối tượng, Mai Văn T đã 03 (ba) lần cung cấp ma tuý Methadone cho Trần Viết S sử dụng, ngoài ra có 01 lần T cung cấp xi lanh (dụng cụ sử dụng Hêrôin) cho cho Trần Viết S. Cụ thể như sau:
Lần thứ nhất: Ngày 10/4/2025, Trần Viết S đang cai nghiện tại cơ sở cai nghiện ma tuý tự nguyện của Mai Văn T thì lên cơn nghiện ma tuý, S xin T cho sử dụng điều trị để đỡ lên cơn nghiện thì T đi ra khu vực bếp tiếp giáp với nhà ở của T lấy chai nhựa đựng Methadone để trong tủ lạnh rồi rót ra chén sứ mang xuống sân trước cửa phòng đưa cho S, S cầm lấy chén Methadone uống hết rồi đưa trả lại chén cho T. Sau khi sử dụng Methadone xong S nằm nghỉ ở trong phòng.
Lần thứ hai: Vào ngày 13/4/2025, Trần Viết S tiếp tục lên cơn nghiện ma tuý và hỏi xin Trường M2 để uống. T không nói gì, tiếp tục đi ra khu vực bếp nơi đặt tủ lạnh có chứa chai nhựa đựng Methadone rồi rót ra chén sứ mang xuống sân trước cửa phòng đưa cho S, S cầm lấy chén Methadone uống hết rồi vào trong phòng nằm nghỉ.
Lần thứ ba: Sáng ngày 14/4/2025, Trần Viết S xin Mai Văn T cho S đi Ninh Bình để mua ma túy, loại Hêrôin về sử dụng, T đồng ý và mở cửa phòng cho S đi mua ma túy. Sự ra đường bắt taxi đi dọc theo Quốc lộ A đến địa phận huyện K, tỉnh Ninh Bình thì gặp một người nam giới khoảng 35 tuổi tên T3, S hỏi mua 500.000đ (năm trăm nghìn đồng) đưa tiền mặt cho T3, T3 đưa lại cho S 01 (một) gói giấy ô ly có chứa Hêrôin. S cầm ma tuý rồi đi về cơ sở cai nghiện của T. Sự gặp T tại chân cầu thang tầng một, T nói với S: “Cho tao ít ma túy Hêrôin”. S đồng ý và mở gói ma túy ra, đưa cho T một ít H1 rồi hỏi T có xi lanh không cho S một cái để sử dụng. T đi lên nhà kho trên tầng hai lấy 01 (một) chiếc xi lanh mang xuống chân cầu thang tầng một đưa cho S. S cầm chiếc xi lanh và gói ma túy H1 đi vào nhà vệ sinh sử dụng hết số H1 mới mua, còn T cầm số H1 mà S cho đi vào phòng ngủ của T ở tầng một sử dụng hết số Hêrôin trên.
-Tại bản Kết luận giám định số: 1422/KL-KTHS ngày 24/4/2025 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận:
+Tìm thấy chất ma tuý, loại Methamphetamine trong ống thuỷ tinh và chai nhựa gửi giám định. Không xác định được khối lượng chất ma tuý.
3
+Tìm thấy chất ma tuý, loại Methamphetamine trong mẫu nước tiểu của Vũ Xuân S1.
- Bản Kết luận giám định số: 3296/KL-KTHS ngày 24/4/2025 của V Bộ C1 kết luận: Chất lỏng gửi giám định là dung dịch Methadone.
+ Thể tích mẫu chất lỏng trong chai nhựa hình trụ tròn màu trắng, nhãn màu xanh cao khoảng 15cm, đường kính khoảng 06cm là 87,5mL. Nồng độ M1 là 0,3mg/mL. Khối lượng M1 là 0,02gam.
+ Thể tích mẫu chất lỏng trong 02 (hai) chai nhựa hình trụ tròn màu trắng, nắp nhọn cao khoảng 10cm, đường kính khoảng 03cm là 55,0mL. Nồng độ M3 là 1,2mg/mL. Khối lượng M1 là 0,06gam.
- Bản Kết luận giám định số: 3295/KL-KTHS ngày 25/4/2025 của V Bộ C1 kết luận:
+ Đều tìm thấy chất ma tuý Methadone và các sản phẩm chuyển hoá của H2 (Hêrôin) trong các mẫu nước tiểu của Trần Viết S, Trần Trọng T1, Mai Văn T.
+ Đều tìm thấy chất ma tuý Methadone và các sản phẩm chuyển hoá của H2 (Hêrôin) trong các mẫu máu của Trần Viết S, Trần Trọng T1, Mai Văn T.
Cáo trạng số 03/CT-VKSKV6 ngày 10/10/2025 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Thanh Hóa đã truy tố bị cáo về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm a, khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi như cáo trạng đã truy tố, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Thanh Hóa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị áp dụng điểm a, khoản 2 Điều 255; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Khoản 2, Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; Điều 6, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: xử phạt bị cáo từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù. Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bật lửa màu xanh; 01 (một) ống thuỷ tinh bên trong bám dính chất màu đen; 01 (một) chai nhựa màu trắng, nắp chai được gắn 02 (hai) ống nhựa màu trắng; 40 (bốn mươi) xi lanh mới chưa qua sử dụng. Trả lại cho Mai Văn T 01 (một) điện thoại di động. Về án phí: buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
4
[1]. Quá trình điều tra, truy tố bị cáo không có khiếu nại về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng. Các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng với trình tự, thủ tục, thẩm quyền và hợp pháp theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2]. Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo ở giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai của những người làm chứng và vật chứng thu giữ được, đủ cơ sở khẳng định: Từ ngày 10 đến ngày 14 tháng 4 năm 2025 tại cơ sở cai nghiện tự phát “Tiêu V” do Mai Văn T làm chủ ở tiểu khu P, Thị trấn H, huyện H (nay là thôn P, xã H), tỉnh Thanh Hóa, Mai Văn T đã 03 (ba) lần thực hiện hành vi tổ chức cho Trần Viết S sử dụng trái phép chất ma túy, trong đó có 02 lần tổ chức bằng hình thức cung cấp ma tuý loại Methadone cho S sử dụng và 01 lần cung cung cấp xi lanh để S sử dụng Hêrôin tại địa điểm do T quản lý. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Thanh Hoá truy tố bị cáo về tội “tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo điểm a, khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước về kiểm soát, quản lý, sử dụng các chất ma tuý, làm ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của con người và trật tự xã hội. Vì vậy, phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội trong một thời gian để cải tạo, giáo dục các bị cáo, đồng thời để răn đe, phòng ngừa chung.
[3]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phạm tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1, Điều 52 Bộ luật hình sự.
[4]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo theo điểm s, khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo đầu thú; quá trình công tác bị cáo được tặng thưởng nhiều giấy khen; mẹ đẻ bị cáo là bà Trịnh Thị N1 được tặng bằng khen. Ngoài ra, bị cáo còn có bố đẻ là ông Mai Văn N được tặng thưởng nhiều huân, huy chương kháng chiến, thuộc gia đình có công với cách mạng. Đây được coi là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 2, Điều 51 Bộ luật hình sự. Cần áp dụng các tình tiết này để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[5]. Các tình tiết liên quan trong vụ án gồm:
Về nguồn gốc ma túy, loại Hêrôin mà Trần Viết S và Trần Trọng T1 sử dụng: Quá trình điều tra S, T1 đều khai nhận mua của một nam giới khoảng 40 tuổi giới thiệu tên là
5
T3 ở khu vực dọc đường quốc lộ 10 thuộc địa phận huyện K, tỉnh Ninh Bình. Sự, T1 đều không biết rõ họ tên, năm sinh, địa chỉ của T3 và không xác định được địa điểm chính xác mua ma tuý ở đâu nên không có cơ sở để xủ lý trong cùng vụ án này.
Đối với lời khai của Trần Trọng T1 về việc xin T đi mua ma túy về sử dụng, khi về đến nhà Trường thì T có cung cấp xi lanh cho T1 sử dụng, tuy nhiên T không thừa nhận. Ngoài lời khai của T1 ra, không còn tài liệu chứng cứ nào để chứng minh nên không có căn cứ để xử lý.
Về nguồn gốc ma túy, loại Methamphetamine mà Vũ Xuân S1 sử dụng: Quá trình điều tra S1 khai nhận mua của một nam giới khoảng 40 tuổi ở khu vực nghĩa địa đi qua cầu K thuộc địa phận huyện K, tỉnh Ninh Bình. S1 không biết rõ họ tên, năm sinh, địa chỉ của người nam giới và không xác định được địa điểm chính xác mua ma tuý ở đâu. Do đó, cũng không có cơ sở để xử lý trong cùng vụ án này.
Trong vụ án này, tuy Trần Viết S đang cai nghiện ma túy nhưng quá trình điều tra đã làm rõ: Sự là đối tượng nghi sử dụng ma túy, chính quyền địa phương nơi S cư trú đã nhiều lần tét nhanh ma túy đối với S nhưng S đều âm tính đối với ma túy. Vì vậy không có căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Mai Văn T về hành vi tổ chức sử dụng ma túy đối với người đang cai nghiện theo điểm đ, khoản 2, Điều 255 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, Trần Viết S còn có hành vi đưa ma tuý, loại Hêrôin cho T để sử dụng, tuy nhiên T dùng ma tuý xin của S để sử dụng cho riêng mình nên S không phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”. Số ma tuý T xin của S cũng không thu giữ được để xác định khối lượng nên hành vi của S và T cũng không cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
Đối với Trần Viết S, Trần Trọng T1, Vũ Xuân S1 đã thực hiện hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” nên Cơ quan cảnh sát điều tra đã chuyển hồ sơ cho Công an tỉnh T để xử phạt vi phạm hành chính đối với Trần Viết S, Trần Trọng T1 và Vũ Xuân S1 là phù hợp với quy định.
Đối với hành vi cất giấu Methadol của Mai Văn T do khối lượng chất ma tuý, loại methadone không đủ mức truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “tàng trữ trái phép chất ma túy” nên Cơ quan cảnh sát điều tra đã chuyển xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này theo điểm a, khoản 2, Điều 23 Nghị định số: 144/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính Phủ. Đối với hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý” của Mai Văn T ngày 17/4/2025 đã vi phạm quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 23 Nghị định số: 144/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính Phủ; đối với hành vi “Tổ chức cai nghiện ma túy tự nguyện khi chưa được đăng ký hoặc cấp phép hoạt động” của Mai Văn T đã vi phạm tại khoản 7, Điều 23, Nghị định số 144/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính Phủ, Cơ quan cảnh sát
6
điều tra đã chuyển hồ sơ để xử phạt vi phạm hành chính đối với Mai Văn T về các hành vi này là đúng quy định.
Đối với Lê Thanh C, quá trình điều tra C không thừa nhận số Methadone Công an thu giữ tại Cơ sở cai nghiện của Mai Văn T là do C mang đến, ngoài lời khai của T thì không có tài liệu, chứng cứ nào khác nên không đủ căn cứ để xác định số M1 đã thu giữ tại cơ sở cai nghiện của Mai Văn T là của Lê Thanh C mang đến. Do đó, không có căn cứ để xem xét trách nhiệm hình sự đối với Lê Thanh C.
[6]. Về vật chứng: Đối với 01 (một) bật lửa màu xanh, 01 (một) ống thuỷ tinh bên trong bám dính chất màu đen, 01 (một) chai nhựa màu trắng, nắp chai được gắn 02 (hai) ống nhựa màu trắng, đây là công cụ sử dụng trái phép chất ma túy nên phải tịch thu tiêu hủy; 40 (bốn mươi) xi lanh mới chưa qua sử dụng nhưng do giá trị nhỏ, không đáng kể nên cũng phải tịch thu tiêu huỷ. Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 promax màu vàng thu giữ của Mai Văn T đây không phải là phương tiện liên lạc để phạm tội nên trả lại cho bị cáo là phù hợp.
[7]. Hình phạt bổ sung: Hiện nay bị cáo đang bị tạm giam, cơ sở cai nghiện cũng đã ngừng hoạt động, bị cáo không có nguồn thu nhập nào khác nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[8]. Về án phí: bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Mai Văn T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.
Căn cứ điểm a, khoản 2 Điều 255; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2, Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Mai Văn T 07 (bảy) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ là ngày 19/4/2025.
Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025); khoản 2, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) bật lửa màu xanh; 01 (một) ống thuỷ tinh bên trong bám dính chất màu đen; 01 (một) chai nhựa màu trắng, nắp chai được gắn 02 (hai) ống nhựa màu trắng; 40 (bốn mươi) chiếc xi lanh.
Trả lại cho bị cáo Mai Văn T 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 promax màu vàng.
Đặc điểm của các vật chứng trên theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 14/10/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H (nay là Cơ quan cảnh sát
7
điều tra, Công an tỉnh T) và Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Hà Trung (nay là Phòng thi hành án dân sự số 6 - Thanh Hoá).
Căn cứ khoản 2, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 6, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Buộc bị cáo Mai Văn T phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Các hội thẩm nhân dân | Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà |
| Vũ Văn Hiếu Trịnh Đình Hồng |
Trịnh Thanh Hương |
8
Nơi nhận:
- - VKSND khu vực 6 - Thanh Hoá;
- - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
- - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Thanh Hoá;
- - Cơ quan THAHS, Công an tỉnh Thanh Hoá;
- - Trại tạm giam, Công an tỉnh Thanh Hoá;
- - Bị cáo;
- - Lưu hồ sơ vụ án.
9
Bản án số 33/2025/HS-ST ngày 21/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - THANH HÓA về tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 33/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án HS số 33/2025/HS-ST ngày 21/11/2025 đối với Mai Văn Tr phạm tội Tổ chức SD trái phép chất ma tuý
