|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT TỈNH BÌNH DƯƠNG Bản án số: 33/2025/HS-ST Ngày: 21-02-2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Thiện.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Nữ
Bà Nguyễn Thị Thu Hương
Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thảo Vy - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Tuyết - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 06/2025/TLST-HS ngày 14 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2025/QĐXXST-HS ngày 06/02/2025, đối với các bị cáo:
- Nguyễn Văn L, sinh năm 1974. Tại: Bình Dương. CCCD số [...]; Nơi cư trú: Khu phố A, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: làm nông; trình độ học vấn: 08/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn M và bà Trương Thị H; bị cáo có vợ và 02 người con; tiền án; tiền sự: không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 05/10/2024 đến ngày 08/10/2024, bị áp dụng biện pháp C đi khỏi nơi cư trú đến nay; Có mặt.
- Nguyễn Thị Thúy K, sinh năm 1979. Tại: Bình Dương. CCCD số [...]; Nơi cư trú: Khu phố D, phường V, thành phố T, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Nội trợ; trình độ học vấn: 08/12; dân tộc: kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn H1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị C1; bị cáo có chồng và 02 người con; tiền án; tiền sự: không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 05/10/2024 đến ngày 08/10/2024, bị áp dụng biện pháp C đi khỏi nơi cư trú đến nay; Có mặt.
- Huỳnh Văn N, sinh năm 1980. Tại: Bình Dương. CCCD số [...]; Nơi cư trú: Khu phố B, phường H, thành phố B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 06/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Huỳnh Văn S (đã chết) và bà Trần Thị N1; bị cáo có vợ và 02 người con; tiền án; tiền sự: không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 05/10/2024 đến ngày 08/10/2024, bị áp dụng biện pháp C đi khỏi nơi cư trú đến nay; Có mặt.
- Mai Khắc D, sinh năm 1985. Tại: Bình Dương. CCCD số [...]; Nơi cư trú: Tổ F, Khu phố B, phường H, thành phố B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Mai Văn T (đã chết) và bà Phạm Thị L1; bị cáo có vợ và 02 người con; tiền án; tiền sự: không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 05/10/2024 đến ngày 08/10/2024, bị áp dụng biện pháp C đi khỏi nơi cư trú đến nay; Có mặt.
- Nguyễn Ngọc P, sinh năm 1987. Tại: Bình Dương. CCCD số [...]; Nơi cư trú: Khu phố A, phường H, thành phố B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Kinh doanh; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn H2 (đã chết) và bà Nguyễn Thị S1; bị cáo có vợ và 02 người con; tiền án; tiền sự: không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 05/10/2024 đến ngày 08/10/2024, bị áp dụng biện pháp C đi khỏi nơi cư trú đến nay; Có mặt.
- Lê Hoàng D1, sinh năm 1972. Tại: Bình Dương. CCCD số [...]; Nơi cư trú: Khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 06/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn Ầ và bà Nguyễn Thị Tuyết M1; bị cáo có vợ và 02 người con; tiền án; tiền sự: không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 05/10/2024 đến ngày 08/10/2024, bị áp dụng biện pháp C đi khỏi nơi cư trú đến nay; Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ ngày 05/10/2024, Lực lượng Cảnh sát hình sự Công an tỉnh B và Công an thành phố T nhận được thông tin tố giác về tội phạm của quần chúng nhân dân về việc: Tại nhà không số ở Khu tái định cư, địa chỉ tại khu phố D, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương có khoảng 5-6 người đang tụ tập chơi đánh bạc dưới hình thức lắc “Bầu Cua” thắng thua bằng tiền nên đến 21 giờ cùng ngày, lực lượng Cảnh sát hình sự Công an tỉnh B chủ trì và phối hợp với Công an thành phố T tiến hành kiểm tra, phát hiện và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với các đối tượng Nguyễn Văn L, Nguyễn Ngọc P, Lê Hoàng D1, Huỳnh Văn N, Mai Khắc D và Nguyễn Thị Thúy K về hành vi đánh bạc dưới hình thức Nguyễn Văn L là người làm cái, Nguyễn Ngọc P, Lê Hoàng D1, Huỳnh Văn N, Mai Khắc D, Nguyễn Thị Thúy K là những người đặt cược. Khi chơi, những người đặt cược sẽ tự lựa chọn và đặt tiền từ 100 nghìn đồng đến 200 nghìn đồng vào các ô tương ứng với hình bầu, cua, tôm, cá, nai, gà. Sau đó, L sẽ lắc, nếu ra hình người chơi đặt thì người chơi sẽ thắng tương ứng với số tiền đã đặt, nếu không có các hình người chơi đặt thì L sẽ thắng số tiền tương ứng với số tiền người chơi đã đặt và thu giữ số vật chứng, gồm:
- 01 bộ lắc bầu cua, gồm: 01 nắp đậy hình tròn bằng giấy đường kính 10 cm, một đĩa bằng nhôm đường kính 25 cm, 03 hột bầu cua, 01 tờ giấy có in hình bầu, cua, tôm, cá, nai, gà kích thước 50 cm x 80 cm.
- Tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc là 41.300.000đ (bốn mươi mốt triệu, ba trăm nghìn đồng), trong đó: Tiền thu giữ trên chiếu bạc là 8.200.000đ (tám triệu hai trăm nghìn đồng), tiền thu giữ trên người các con bạc khai dùng để đánh bạc là 33.100.000đ (ba mươi ba triệu một trăm nghìn đồng).
Quá trình xác minh, điều tra, các đối tượng khai nhận hành vi phạm tội như sau: Nhà không số ở Khu tái định cư, địa chỉ tại khu phố D, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương là nhà của bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1945, sinh sống cùng con gái là Nguyễn Thị G, sinh năm 1972. Bà Đ là người già yếu, không có thu nhập còn chị G là người bị bệnh trầm cảm và ung thư giai đoạn cuối còn Nguyễn Văn L, Nguyễn Ngọc P, Lê Hoàng D1, Huỳnh Văn N và Mai Khắc D thường xuyên đến đây để thăm hỏi bà Đ và chị G. Khoảng 19 giờ ngày 05/10/2024, trong lúc Nguyễn Văn L đến thăm hỏi bà Đ và chị G thì nảy sinh ý định đánh bạc tại nhà bà Đ nên L gọi điện thoại rủ Huỳnh Văn N và Lê Hoàng D1 đi đến nhà bà Đ để đánh bạc dưới hình thức lắc bầu cua thắng thua bằng tiền thì N và D1 đồng ý. Sau đó, D1 rủ Nguyễn Ngọc P và Mai Khắc D cùng đi đến nhà không số ở Khu tái định cư để tham gia đánh bạc thì P và D đồng ý. Đến khoảng 20 giờ, cả nhóm gồm L, D1, N, P và D cùng tập trung tại nhà không số ở Khu tái định cư để thực hiện hành vi đánh bạc dưới hình thức lắc bầu cua thắng thua bằng tiền. Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, Nguyễn Thị Thúy K đến nhà bạn chơi (cạnh nhà không số) thì nhìn thấy nhóm của L đang đánh bạc nên K vào tham gia chung. Hình thức chơi: Nguyễn Văn L là người làm cái, Nguyễn Ngọc P, Lê Hoàng D1, Huỳnh Văn N, Mai Khắc D, Nguyễn Thị Thúy K là những người đặt cược. Khi chơi, những người đặt cược sẽ tự lựa chọn và đặt tiền từ 100 nghìn đồng đến 200 nghìn đồng vào các ô tương ứng với hình bầu, cua, tôm, cá, nai, gà. Sau đó, L sẽ lắc; nếu ra hình người chơi đặt thì người chơi sẽ thắng tương ứng với số tiền đã đặt, nếu không có các hình người chơi đặt thì L sẽ thắng số tiền tương ứng với số tiền người chơi đã đặt. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày thì bị lực lượng Công an tiến hành bắt quả tang và đưa L, P, D1, N, D, K về trụ sở để làm việc. Cụ thể:
- Nguyễn Văn L sử dụng số tiền 10.700.000 đồng để đánh bạc, đến lúc bị bắt quả tang L thắng số tiền 8.900.000 đồng. Bị tạm giữ số tiền 19.600.000 đồng (trong đó: Thu giữ giữa chiếu bạc là 1.700.000 đồng và thu giữ trên người của L là 17.900.000đồng).
- Nguyễn Ngọc P sử dụng số tiền 6.400.000 đồng để đánh bạc, đến lúc bị bắt quả tang P thua số tiền 500.000 đồng. Bị tạm giữ số tiền 5.900.000 đồng (trong đó: Thu giữ giữa chiếu bạc là 1.300.000 đồng và thu giữ trên người của P là 4.600.000 ngàn đồng).
- Lê Hoàng D1 sử dụng số tiền 8.100.000 đồng để đánh bạc, đến lúc bị bắt quả tang D1 thua số tiền 2.000.000 đồng. Bị tạm giữ số tiền 6.100.000 đồng (trong đó: Thu giữ giữa chiếu bạc là 1.300.000 đồng và thu giữ trên người của D1 là 4.800.000đồng)
- Huỳnh Văn N sử dụng số tiền 4.300.000 đồng để đánh bạc, đến lúc bị bắt quả tang N thua số tiền 500.000 đồng. Bị tạm giữ 3.800.000 đồng (trong đó: Thu giữ giữa chiểu bạc là 1.300.000 đồng và thu giữ trên người của N là 2.500.000đồng).
- Mai Khắc D sử dụng số tiền 5.300.000 đồng để đánh bạc, đến lúc bị bắt quả tang D thua số tiền 3.500.000 đồng. Bị tạm giữ 1.800.000 đồng. Trong đó: Thu giữ giữa chiếu bạc là 1.300.000 đồng và thu giữ trên người của D là 500.000đồng).
- Nguyễn Thị Thúy K sử dụng số tiền 6.500.000 đồng để đánh bạc, đến lúc bị bắt quả tang Kiều thua số tiền 2.400.000 đồng. Bị tạm giữ 4.100.000 đồng (trong đó: Thu giữ giữa chiếu bạc là 1.300.000 đồng và thu giữ trên người của K là 2.800.000đồng).
Đối với số tiền thu giữ trên chiếu bạc là 8.200.000đ (tám triệu, hai trăm nghìn đồng), tiền thu giữ trên người các con bạc là 33.100.000đ (ba mươi ba triệu, một trăm nghìn đồng) quá trình điều tra xác định đây là số tiền của các đối tượng trên sử dụng vào mục đích đánh bạc nên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một đã ra Quyết định chuyển vật chứng đến Chi cục thi hành án dân sự để đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một quyết định tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước.
Đối với 01 bộ lắc bầu cua gồm: Một nắp đậy hình tròn bằng giấy đường kính 10 cm, một đĩa bằng nhôm đường kính 25 cm, 03 hột bầu cua, 01 tờ giấy có in hình bầu, cua, tôm, cá, nai, gà kích thước 50 cm x 80 cm, các đối tượng sử dụng vào mục đích đánh bạc và không còn giá trị sử dụng nên Viện kiểm sát nhân dân thành phố T đã ra Quyết định chuyển vật chứng đến Chi cục thi hành án dân sự để đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một quyết định tịch thu, tiêu hủy.
Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T tiến hành thu giữ 01 điện thoại di động (không rõ nhãn hiệu), màu đen, gắn sim số 0921.412.494 của Nguyễn Thị Thúy K; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S, màu hồng, gắn sim số 0949.738.378 của Nguyễn Văn L; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu trắng, gắn sim số 0356.525.200 của Mai Khắc D; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, màu đen, gắn sim số 0353.011.464; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu trắng, gắn sim số 0947.272.800 của Nguyễn Ngọc P; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung Note, màu trắng, gắn sim số 0917.538.648 của Huỳnh Văn N. Xét thấy, đây là phương tiện để các bị can liên hệ nhau đến nhà bà Nguyễn Thị Đ để tham gia đánh bạc nên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một đã ra Quyết định chuyển vật chứng đến Chi cục thi hành án dân sự để đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một quyết định theo quy định của pháp luật.
Đối với bà Nguyễn Thị Đ, quá trình điều tra xác định, Nguyễn Văn L, Nguyễn Thị Thúy K, Lê Hoàng D1, Huỳnh Văn N, Mai Khắc D và Nguyễn Ngọc P đánh bạc tại nhà bà Đ thì bà Đ không biết và không thu tiền xâu nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T không đề cập xử lý.
* Cáo trạng số 18/CT-VKSTDM ngày 07 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương truy tố các bị cáo Nguyễn Văn L, Nguyễn Thị Thúy K, Huỳnh Văn N, Mai Khắc D, Nguyễn Ngọc P và Lê Hoàng D1 về tội “Đánh bạc”, quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa,
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn L, Nguyễn Thị Thúy K, Huỳnh Văn N, Mai Khắc D, Nguyễn Ngọc P và Lê Hoàng D1 phạm tội “Đánh bạc".
Về hình phạt:
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58 và Điều 35 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017):
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L mức hình phạt từ 60.000.000đồng đến 70.000.000đồng. - Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 và Điều 35 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017):
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thúy K mức hình phạt từ 25.000.000đồng đến 30.000.000đồng. - Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58 và Điều 35 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017):
Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn N mức hình phạt từ 30.000.000đồng đến 35.000.000đồng. - Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 và Điều 35 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017):
Xử phạt bị cáo Mai Khắc D mức hình phạt từ 25.000.000đồng đến 30.000.000đồng. - Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58 và Điều 35 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017):
Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc P mức hình phạt từ 35.000.000đồng đến 40.000.000đồng. - Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58 và Điều 35 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017):
Xử phạt bị cáo Lê Hoàng D1 mức hình phạt từ 40.000.000đồng đến 45.000.000đồng.
Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước Đối với:
- Số tiền thu giữ trên chiếu bạc là 8.200.000đ (tám triệu, hai trăm nghìn đồng) và tiền thu giữ trên người các con bạc là 33.100.000đ (ba mươi ba triệu, một trăm nghìn đồng);
- 01 (một) điện thoại di động đã qua sử dụng (không rõ nhãn hiệu), màu đen bị trầy, tróc sơn nhiều; có sim bên trong nhưng không kiểm tra số thuê bao (không kiểm tra chi tiết, tình trạng hoạt động);
- 01 (một) điện thoại di động đã qua sử dụng nhãn hiệu Iphone 6S, màu hồng bị trầy nhiều; có sim bên trong nhưng không kiểm tra số thuê bao (không kiểm tra chi tiết, tình trạng hoạt động);
- 01 (một) điện thoại di động đã qua sử dụng nhãn hiệu Samsung, màu trắng bị trầy, tróc sơn nhiều, màn hình bị bể; có sim bên trong nhưng không kiểm tra số thuê bao (không kiểm tra chi tiết, tình trạng hoạt động);
- 01 (một) điện thoại di động đã qua sử dụng nhãn hiệu Oppo, màu đen bị trầy, tróc sơn nhiều, màn hình và camera bị bể; có sim bên trong nhưng không kiểm tra số thuê bao (không kiểm tra chi tiết, tình trạng hoạt động);
- 01 (một) điện thoại di động đã qua sử dụng nhãn hiệu Samsung, màu trắng bị trầy, tróc sơn nhiều; có sim bên trong nhưng không kiểm tra số thuê bao (không kiểm tra chi tiết, tình trạng hoạt động);
- Tịch thu, tiêu huỷ: Đối với 01 (một) đĩa nhôm hình tròn, đường kính khoảng 25 cm (đã qua sử dụng); 01 (một) bộ ba hột xúc xắc vuông bằng giấy có in hình bầu, cua, tôm, cá, gà, nai; 01 (một) tờ giấy kích thước khoảng (50x80)cm có in hình bầu, cua, tôm, cá, gà, nai; 01 (một) nắp hộp hình tròn, bằng giấy đường kính khoảng 10cm.
Tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát về tội danh, khung hình phạt và mức hình phạt đã đề nghị. Trong nói lời sau cùng, các bị cáo đều nhận thức được hành vi phạm tội của mình, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là phù hợp với quy định của pháp luật.
- [2] Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp Biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, biên bản hỏi cung bị can, cùng những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Vào lúc 21 giờ 30 phút ngày 05/10/2024, tại nhà không số ở Khu tái định cư, địa chỉ tại khu phố D, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với các bị cáo Nguyễn Văn L, Nguyễn Thị Thúy K, Lê Hoàng D1, Huỳnh Văn N, Mai Khắc D và Nguyễn Ngọc P đang đánh bạc thắng thua bằng tiền dưới hình thức chơi lắc bầu cua, với tổng số tiền dùng để đánh bạc là 41.300.000đ (bốn mươi mốt triệu, ba trăm nghìn đồng). Do đó, hành vi của các bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” được quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương truy tố các bị cáo theo tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
- [3] Hành vi mà các bị cáo Nguyễn Văn L, Nguyễn Thị Thúy K, Huỳnh Văn N, Mai Khắc D, Nguyễn Ngọc P và Lê Hoàng D1 thực hiện đã xâm phạm đến trật tự công cộng tại địa phương nơi gây án. Các bị cáo nhận thức được Nhà nước ta nghiêm cấm việc đánh bạc trái phép dưới mọi hình thức nhưng các bị cáo đã bất chấp sự trừng phạt của pháp luật, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Do đó, để có tác dụng giáo dục các bị cáo đồng thời nhằm đấu tranh phòng chống tội phạm chung, cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội mà mỗi bị cáo đã thực hiện.
- [4] Về vai trò của các bị cáo: Trong vụ án có đồng phạm nhưng mang tính chất giản đơn, do bột phát ý định đánh bạc được thua bằng tiền nên các bị cáo rủ nhau cùng chơi. Tuy nhiên, bản thân bị cáo Nguyễn Văn L là người cầm cái. Vì vậy, đối với bị cáo L cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo và cao hơn so với các bị cáo còn lại. Đối với các bị cáo Nguyễn Thị Thúy K, Huỳnh Văn N, Mai Khắc D, Nguyễn Ngọc P và Lê Hoàng D1 sử dụng số tiền khác nhau khi tham giá đánh bạc. Vì vậy, Hội đồng xét xử xem xét áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ thực hiện hành vi của từng bị cáo.
- [5] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng
- [6] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Đối với các bị cáo Nguyễn Văn L, Huỳnh Văn N, Nguyễn Ngọc P và Lê Hoàng D1: Quá trình điều tra và tại phiên toà đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Đối với bị cáo Nguyễn Thị Thúy K và Mai Khắc D: Quá trình điều tra và tại phiên toà đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; Các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo K được Giám đốc Công an tỉnh B tặng Giấy khen trong công tác tham gia bắt cướp; bị cáo Mai Khắc D có ông ngoại là Liệt sĩ, bà ngoại là người có công với cách mạng. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- [7] Căn cứ vào nhân thân, tính chất mức độ cũng như vai trò từng bị cáo, căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, xét mức hình phạt mà Đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với các bị cáo là tương đối phù hợp.
- [8] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Căn cứ quy định tại Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Đối với số tiền thu giữ trên chiếu bạc là 8.200.000đ (tám triệu, hai trăm nghìn đồng), tiền thu giữ trên người các con bạc là 33.100.000đ (ba mươi ba triệu, một trăm nghìn đồng); 01 điện thoại di động (không rõ nhãn hiệu), màu đen, gắn sim số 0921.412.494 của Nguyễn Thị Thúy K; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S, màu hồng, gắn sim số 0949.738.378 của Nguyễn Văn L; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu trắng, gắn sim số 0356.525.200 của Mai Khắc D; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, màu đen, gắn sim số 0353.011.464; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu trắng, gắn sim số 0947.272.800 của Nguyễn Ngọc P; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung Note, màu trắng, gắn sim số 0917.538.648 của Huỳnh Văn N. Đây là tiền, công cụ, phương tiện các bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước.
- Đối với 01 bộ lắc bầu cua gồm: Một nắp đậy hình tròn bằng giấy đường kính 10cm, một đĩa bằng nhôm đường kính 25 cm, 03 hột bầu cua, 01 tờ giấy có in hình bầu, cua, tôm, cá, nai, gà kích thước 50 cm x 80 cm. Đây là công cụ, phương tiện các bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ.
- [9] Án phí sơ thẩm: Các bị cáo phải nộp theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào các Điều 136, 260, 292, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn L, Nguyễn Thị Thúy K, Huỳnh Văn N, Mai Khắc D, Nguyễn Ngọc P và Lê Hoàng D1 phạm tội “Đánh bạc”.
- Về hình phạt:
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58 và Điều 35 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017):
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L số tiền 50.000.000đồng (năm mươi triệu đồng). - Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 và Điều 35 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017):
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thúy K số tiền 25.000.000đồng (hai mươi lăm triệu đồng). - Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58 và Điều 35 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017):
Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn N số tiền 30.000.000đồng (ba mươi triệu đồng). - Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 và Điều 35 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017):
Xử phạt bị cáo Mai Khắc D số tiền 25.000.000đồng (hai mươi lăm triệu đồng). - Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58 và Điều 35 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017):
Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc P số tiền 35.000.000đồng (ba mươi lăm triệu đồng). - Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58 và Điều 35 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017):
Xử phạt bị cáo Lê Hoàng Dân số tiền 35.000.000đồng (ba mươi lăm triệu đồng).
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58 và Điều 35 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017):
- Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước đối với:
- Số tiền 41.300.000đồng (Bốn mươi mốt triệu ba trăm nghìn đồng);
- 01 (một) điện thoại di động đã qua sử dụng (không rõ nhãn hiệu), màu đen bị trầy, tróc sơn nhiều; có sim bên trong nhưng không kiểm tra số thuê bao (không kiểm tra chi tiết, tình trạng hoạt động);
- 01 (một) điện thoại di động đã qua sử dụng nhãn hiệu Iphone 6S, màu hồng bị trầy nhiều; có sim bên trong nhưng không kiểm tra số thuê bao (không kiểm tra chi tiết, tình trạng hoạt động);
- 01 (một) điện thoại di động đã qua sử dụng nhãn hiệu Samsung, màu trắng bị trầy, tróc sơn nhiều, màn hình bị bể; có sim bên trong nhưng không kiểm tra số thuê bao (không kiểm tra chi tiết, tình trạng hoạt động);
- 01 (một) điện thoại di động đã qua sử dụng nhãn hiệu Oppo, màu đen bị trầy, tróc sơn nhiều, màn hình và camera bị bể; có sim bên trong nhưng không kiểm tra số thuê bao (không kiểm tra chi tiết, tình trạng hoạt động);
- 01 (một) điện thoại di động đã qua sử dụng nhãn hiệu Samsung, màu trắng bị trầy, tróc sơn nhiều; có sim bên trong nhưng không kiểm tra số thuê bao (không kiểm tra chi tiết, tình trạng hoạt động);
- 01 (một) điện thoại di động đã qua sử dụng nhãn hiệu Samsung Note, màu trắng bị trầy, màn hình bị bể, vỏ bị bung ra khỏi thân máy; có sim bên trong nhưng không kiểm tra số thuê bao (không kiểm tra chi tiết, tình trạng hoạt động).
- Tịch thu, tiêu huỷ đối với: Đối với 01 (một) đĩa nhôm hình tròn, đường kính khoảng 25 cm (đã qua sử dụng); 01 (một) bộ ba hột xúc xắc vuông bằng giấy có in hình bầu, cua, tôm, cá, gà, nai; 01 (một) tờ giấy kích thước khoảng (50x80)cm có in hình bầu, cua, tôm, cá, gà, nai; 01 (một) nắp hộp hình tròn, bằng giấy đường kính khoảng 10cm.
(Theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 056.25 ngày 02 tháng 01 năm 2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố T và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một)
- Tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước đối với:
- Về án phí: Buộc các bị cáo Nguyễn Văn L, Nguyễn Thị Thúy K, Huỳnh Văn N, Mai Khắc D, Nguyễn Ngọc P và Lê Hoàng D1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Các bị cáo được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc ngày Bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Văn Thiện |
Bản án số 33/2025/HS-ST ngày 21/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về đánh bạc
- Số bản án: 33/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn L, Nguyễn Thị Thuý K, Huỳnh Văn N, Mai Khắc D, Nguyễn Ngọc P và Lê Hoàng D phạm tội “Đánh bạc”
