|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN TP. ĐÀ NẴNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 33/2025/HS-ST
Ngày: 25 - 3 - 2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Đoàn Công Quốc |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Ông Nguyễn Tuấn Ngọc |
| Ông Trần Văn Sơn |
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Bích Hậu – Thư ký Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Dương Hoàng Tú - Kiểm sát viên
Ngày 25 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 24/2025/HSST ngày 26 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 3 năm 2025 đối với các bị cáo:
1/ Lê Công B, sinh ngày 16/10/1988 tại Đà Nẵng; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Tổ A, phường N, quận S, thành phố Đà Nẵng; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Không; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn G và bà Nguyễn Thị B1, có vợ là Mai Thị Tuyết S (đã ly hôn) và 01 con sinh năm 2013; Tiền án, Tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt giam ngày 02/12/2024. Có mặt.
2/ Nguyễn Văn T, sinh ngày 04/12/1989 tại Đà Nẵng; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và chỗ ở: E T, phường T, quận S, thành phố Đà Nẵng; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Không; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn H (chết) và bà Lê Thị N, có vợ là Vũ Diệp L (đã ly hôn) và 01 con sinh năm 2016; Tiền án, Tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt giam ngày 02/12/2024. Có mặt.
* Người bị hại: Chị Nguyễn Quỳnh C, sinh năm 2004; Trú tại: D A, phường M, quận N, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị Thanh N1, sinh năm 1996; Trú tại: A N, phường N, quận S, thành phố Đà Nẵng;
1
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và qua diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ 30 ngày 28/11/2024, Nguyễn Văn T và Lê Công B chơi game và thua hết tiền. B nảy sinh ý định đi cướp giật tài sản để lấy tiền trả nợ và tiêu xài cá nhân nên rủ T cùng tham gia và T đồng ý. B điều khiển xe mô tô hiệu Honda Vision, BKS: 71B3-430.81 mượn của chị Nguyễn Thị Thanh N1 chở B ngồi sau, di chuyển trên các tuyến đường thuộc địa bàn quận S - N, thành phố Đà Nẵng tìm người sơ hở để cướp giật tài sản. Khi đến giao lộ A - N thì B phát hiện chị Nguyễn Quỳnh C đang đi bộ trên đường, vai phải đeo túi xách màu trắng và tay trái cầm 01 điện thoại di động nên thông báo cho T, ngay lúc này T điều khiển xe áp sát lại gần chị C rồi B dùng tay giật túi xách chị C đang đeo, cú giật làm chị C bị bất ngờ, đánh rơi chiếc điện thoại đang cầm trên tay trái xuống đường. Sau khi giật được tài sản, T tăng ga chở theo B chạy về hướng đường biển Võ Nguyên G1, thành phố Đà Nẵng tẩu thoát.
Sau khi lấy được túi xách, B kiểm tra bên trong túi xách phát hiện: 01 chìa khóa xe ô tô hiệu Huyndai Elantra được bọc da màu nâu, 01 ví da xám bên trong có 01 căn cước công dân, 01 bằng lái xe B1, 01 thẻ ngân hàng V, tất cả đều mang tên Nguyễn Quỳnh C. B sử dụng thẻ ATM để rút tiền nhưng nhập sai mật khẩu nhiều lần nên thẻ đã bị cây ATM của ngân hàng S2, địa chỉ E Đ, thành phố Đà Nẵng thu hồi; túi xách B thấy cũ, không có giá trị nên vứt ở bãi cỏ trên đường Đ, thành phố Đà Nẵng (hiện tài sản không thu hồi được). Đến sáng ngày 29/11/2024, Lê Công B chở Nguyễn Văn T tới quán C1 trên đường L, thành phố Đà Nẵng và bỏ T lại đây, còn B đem chìa khóa xe, ví da, căn cước công dân và bằng lái xe của chị Nguyễn Quỳnh C đi vứt tại trạm xe buýt ở đường P, thành phố Đà Nẵng (hiện tài sản đã thu hồi được) rồi sau đó đem xe mô tô hiệu Honda Vision, BKS 71B3-430.81 cùng với 02 mũ bảo hiểm về trả lại cho chị N1. Khi gặp B, chị N1 yêu cầu B phải trả chiếc điện thoại Iphone 15 Promax mà N1 cho B mượn trước đó để làm phương tiện liên lạc nhưng B đã cầm chiếc điện thoại trên lấy tiền tiêu xài, do B chưa có tiền nên mượn tiền N1 chuộc lại điện thoại thì N1 đồng ý rồi N1 lấy lại xe máy cùng mũ bảo hiểm rồi cùng B quay về nhà trọ của N1. Sau khi đưa N1 về phòng trọ xong, B bắt G2 quay về ở tại khu N, chung cư P, thành phố Đà Nẵng. Đến ngày 02/12/2024 thì Lê Công B, Nguyễn Văn T bị Cơ quan Công an phát hiện bắt giữ.
Tang vật thu giữ:
+ 01 áo khoác có logo Adidas màu xanh; 01 áo thun ngắn tay màu đen trên áo có dòng chữ Hafof; 01 quần short bằng vải màu xám trên quần có dòng chữ GAB; 01 mũ lưỡi trai vải màu đen trên mũ có logo Nike; 01 đôi dép xỏ ngón bằng nhựa màu xám trên quai dép có dòng chữ GIVENCHY (trang phục B sử dụng khi thực hiện hành vi phạm tội).
+ 01 đôi dép xỏ ngón màu đen trên quai dép có logo GIDA. (trang phục T sử dụng khi thực hiện hành vi phạm tội).
+ 01 chìa khóa xe ô tô Huynhdai Elantra 2024; 01 ví nhỏ màu xám bên trong có 01 căn cước công dân, 01 Giấy phép lái xe hạng B1 mang tên Nguyễn Quỳnh C; (tài sản B – Tình cướp giật của chị C).
- Tang vật tạm giữ của chị Nguyễn Thị Thanh N1:
+ 01 xe mô tô hiệu Honda Vision màu đỏ, BKS 71B3-430.81; 01 mũ bảo hiểm màu xanh đỏ; 01 mũ bảo hiểm màu trắng có sọc đỏ (phương tiện B – Tình sử dụng thực hiện hành vi phạm tội).
- Tang vật tạm giữ của chị Nguyễn Quỳnh C:
+ 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 13 PROMAX SỐ IMEI: 351016092615393.
* Theo Kết luận định giá tài sản số 99/KL-HĐĐGTS ngày 12/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận N xác định: Chìa khóa xe Huynhdai Elantra 2024 có giá trị là: 1.800.000đ.
* Theo Kết luận định giá tài sản số 05/KL-HĐĐGTS ngày 06/02/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận N xác định: 01 túi xách da màu trắng chưa thu hồi nên không có cơ sở định giá và 01 ví màu xám đã quá cũ không có giá trị.
Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại Nguyễn Quỳnh C đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường đối với tài sản bị mất đồng thời có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho Lê Công B, Nguyễn Văn T; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị Thanh N1 đã nhận lại được số tiền 20.000.000đ cho Lê Công B mượn để chuộc lại điện thoại di động từ gia đình của Lê Công B và không yêu cầu gì thêm về phần dân sự.
Tại bản Cáo trạng số 27/CT -VKS - NHS ngày 25 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng đã truy tố các bị cáo Lê Công B, Nguyễn Văn T về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự;
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt Lê Công B từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù.
- Áp dụng điểm điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Văn T từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.
Về xử lý vật chứng, đề nghị tịch thu tiêu hủy đối với toàn bộ trang phục áo khoác, áo thun, quần, mũ, dép thu giữ của các bị cáo để phục vụ nhận dạng điều tra.
Các bị cáo Lê Công B, Nguyễn Văn T đều thừa nhận đúng diễn biến hành vi của mình như cáo trạng đề cập. Bị cáo không có ý kiến gì về tội danh, điều luật Viện kiểm sát đã truy tố và đề nghị áp dụng. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng các bị cáo cũng không có ý kiến gì, chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm có điều kiện về với gia đình.
Người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có lời khai tại hồ sơ vụ án phù hợp với lời khai của bị cáo và các tài liệu chứng cứ khác do cơ quan tiến hành tố tụng thụ thập.
3
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm vấn công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Xét lời khai nhận tội của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa là phù hợp với biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm, lời khai của người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có cơ sở khẳng định: Do cần tiền tiêu xài cá nhân nên Lê Công B rủ Nguyễn Văn T điều khiển xe trên các tuyến đường thuộc thành phố Đà Nẵng tìm người sơ hở để giật tài sản và T đồng ý. Khoảng 12h00' ngày 28/11/2024, T chở B đến khu vực đường A 03 giao nhau với Ngô Thì S1, phường M, quận N thì phát hiện chị Nguyễn Quỳnh C đang đi bộ trên đường, vai phải đeo túi xách màu trắng và tay trái cầm 01 điện thoại di động. T điều khiển xe áp sát, B ngồi sau giật túi xách sau đó tăng ga tẩu thoát. Giá trị tài sản các bị cáo chiếm đoạt trị giá 1.800.000đ. Do đó Cáo trạng số 27/CT -VKS - NHS ngày 25 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng đã truy tố các bị cáo về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng tội.
[3] Xét hành vi của bị cáo là nghiêm trọng, vì muốn có tiền sử dụng cho nhu cầu bản thân, các bị cáo đã rủ nhau đi cướp giật tài sản và cùng sử dụng xe mô tô phân khối lớn dạo trên các tuyến đường tìm người đi đường sơ hở để giật tài sản. Quá trình đi trên đường các bị cáo thay đổi người lái qua lại để tránh phát hiện. Khi thấy chị C đeo túi xách trên vai, T điều khiển xe áp sát để B giật tài sản sau đó tăng ga tẩu thoát. Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác mà còn tìm ẩn nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng của người bị hại và những người đi đường. Do đó đối với các bị cáo cần phải bị xử phạt thỏa đáng.
[3.1] Trong vụ án này, Lê Công B là người khởi xướng và dùng xe mô tô chở Nguyễn Văn T đi tìm kiếm người sơ hở để cướp giật, bị cáo cũng là người nghĩ ra việc tháo biển số xe cất vào cốp xe để tránh phát hiện. Trên đường đi, bị cáo đổi cho T cầm lái và khi tiếp cận bị hại thì bị cáo là người trực tiếp giật tài sản. Xét vai trò bị cáo là người chủ mưu và cũng là người thực hành tích cực. Do đó đối với bị cáo phải xử phạt mức án cao hơn so với Nguyễn Văn T là phù hợp.
[3.2] Nguyễn Văn T là người bị rủ rê nhưng cũng là người hưởng ứng và thực hành tích cực, bị cáo thống nhất ý chí, ngồi sau xe để Lê Công B chở đi tìm sơ hở, sau đó đổi sang là người trực tiếp lái xe, khi phát hiện bị hại, bị cáo cáo điều khiển xe áp sát để Lê Công B giật tài sản, hành vi của bị cáo cũng hết sức nguy hiểm, cần phải bị xử phạt thỏa đáng.
[4] Về các tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo đều có nhân thân tốt, quá trình điều tra và tại phiên tòa có thái độ khai báo thành khẩn, tài sản đã được thu hồi trả lại cho người bị hại
và các bị cáo được người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, ông bà nội bị cáo Nguyễn Văn T là người có công cách mạng, được nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến, Kỷ niệm chương chiến sỹ cách mạng bị địch bắt tù, đầy. Do đó cần xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo khi lượng hình như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
[5] Đối với người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và vấn đề liên quan trong vụ án:
[5.1] Đối với Nguyễn Thị Thanh N1 cho Lê Công B mượn xe mô tô Honda Vision màu đỏ, BKS 71B3-430.81 và 02 mũ bảo hiểm để sử dụng. Chị N1 không biết việc B sử dụng các tài sản trên vào việc phạm tội, Cơ quan Công an, Viện kiểm sát không đề cập xem xét trách nhiệm của chị N1 nên Hội đồng xét xử không đề cập.
[5.2] Đối với hành vi của bị cáo mượn 01 điện thoại di động hiệu Iphone 15 promax sau đó đem đi cầm cố để lấy tiền tiều xài cá nhân. Quá trình điều tra bị cáo và chị N1 đều thừa nhận có quan hệ yêu đương, sau khi cầm điện thoại bị cáo cũng đã mượn tiền của chị N1 để chuộc lại điện thoại di động. Giao dịch mượn điện thoại, mượn tiền để chuộc lại điện thoại nói trên là quan hệ dân sự. Cơ quan Công an, Viện kiểm sát không đề cập, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5.3] Đối với việc Lê Công B có ở nhà anh Trương Văn L1 tại khu N, chung cư P, thành phố Đà Nẵng. Tuy nhiên anh L1 không biết việc B trước đó có thực hiện hành vi phạm tội nên Cơ quan Công an, Viện kiểm sát không đề cập xử lý là có căn cứ, Hội đồng xét xử không xem xét.
[5.4] Đối với việc Lê Công B tự mình khai nhận chơi đánh bạc online được thua bằng tiền tại quán "LU GAMING 2" vào ngày 28/11/2024. Quá trình điều tra chỉ có lời khai duy nhất của B, qua xác minh không thu thập được các tài liệu liên quan khác chứng minh hành vi đánh bạc của B nên chưa đủ cơ sở để xác định hành vi phạm tội đánh bạc Cơ quan Công an tiếp tục điều tra làm rõ xử lý sau. Phạm vi vụ án này Viện kiểm sát không đề cập nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5.5] Đối với chị Nguyễn Thị Thanh N1 cho bị cáo mượn số tiền 20.000.000₫ để chuộc lại điện thoại như đề cập tại mục [5.2], quá trình điều tra đại diện gia đình bị cáo đã trả lại cho chị N1 số tiền 20.000.000đ. Đây là giao dịch dân sự không liên quan đến vụ án này nên Hội đồng xét xử không đề cập. Trường hợp có tranh chấp phát sinh thì các bên có quyền khởi kiện bằng vụ án khác.
[6] Về dân sự: Người bị hại Nguyễn Quỳnh C đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường đối với tài sản bị mất. Do đó Hội đồng xét xử không đề cập.
[7] Về xử lý vật chứng:
[7.1] Đối với 01 chìa khóa xe ô tô Huynhdai Elantra 2024; 01 ví nhỏ màu xám; 01 căn cước công dân, 01 Giấy phép lái xe hạng B1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 13 Promax là tài sản của chị Nguyễn Quỳnh C. Cơ quan Công an đã xử lý vật chứng trả lại
cho chị C là phù hợp. Chị C đã nhận lại tài sản và không có ý kiến hay yêu cầu gì, Viện kiểm sát không tiếp tục đề cập nên HĐXX không xem xét.
[7.2] Đối với các vật chứng gồm xe mô tô hiệu Honda Vision màu đỏ, BKS 71B3-430.81; 01 mũ bảo hiểm màu xanh đỏ; 01 mũ bảo hiểm màu trắng có sọc đỏ. Qua điều tra xác định, xe trên của anh Nguyễn Văn L2 đứng tên, anh L2 giao lại xe cho chị Nguyễn Thị Thanh N1 quản lý, sử dụng còn 02 mũ bảo hiểm là tài sản của chị Nguyễn Thị Thanh N1. Chị N1 cho Lê Công B mượn các tài sản trên nhưng không biết việc B sử dụng vào việc phạm tội. Cơ quan Công an đã xử lý vật chứng trả lại cho chị Nguyễn Thị Thanh N1 là có căn cứ. Viện kiểm sát không tiếp tục đề cập nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7.3] Đối với các vật chứng gồm: 01 áo khoác có logo Adidas màu xanh; 01 áo thun ngắn tay màu đen trên áo có dòng chữ Hafof; 01 quần short bằng vải màu xám trên quần có dòng chữ GAB; 01 mũ lưỡi trai vải màu đen trên mũ có logo Nike; 01 đôi dép xỏ ngón bằng nhựa màu xám trên quai dép có dòng chữ GIVENCHY, 01 đôi dép xỏ ngón màu đen trên quai dép có logo GIDA là trang phục Lê Công B – Nguyễn Văn T sử dụng khi thực hiện hành vi phạm tội xét không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Các bị cáo Lê Công B, Nguyễn Văn T phạm tội “Cướp giật tài sản”.
1. Căn cứ vào: điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;
Xử phạt: Lê Công B 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02/12/2024.
2. Căn cứ vào: điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;
Xử phạt: Nguyễn Văn T 03 (Ba) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02/12/2024.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
* Tịch thu tiêu hủy 01 gói ni lon màu xanh ký hiệu A trong đó có có các vật chứng gồm: 01 áo khoác có logo Adidas màu xanh; 01 áo thun ngắn tay màu đen trên áo có dòng chữ Hafof; 01 quần short bằng vải màu xám trên quần có dòng chữ GAB; 01 mũ lưỡi trai vải màu đen trên mũ có logo Nike; 01 đôi dép xỏ ngón bằng nhựa màu xám trên quai dép có dòng chữ GIVENCHY; 01 đôi dép xỏ ngón màu đen trên quai dép có logo GIDA.
(Vật chứng trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/02/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an quận N và Chi cục thi hành án dân sự quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng).
4. Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Buộc các bị cáo Lê Công B, Nguyễn Văn T mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm, báo cho các bị cáo có mặt tại phiên tòa biết có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hôm nay. Riêng người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết hợp lệ bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà (Đã ký) Đoàn Công Quốc |
7
Bản án số 33/2025/HS-ST ngày 25/03/2025 của Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng về cướp giật tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 33/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Công B cùng đồng phạm bị xét xử về tội cướp giật tài sản
