|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NÔNG CỐNG TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 33/2025/HS-ST Ngày 20-6-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NÔNG CỐNG, TỈNH THANH HÓA
---
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Kỳ Anh
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Dệt và bà Bùi Thị Vân
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Thảo - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân huyện Nông Cống, Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nông Cống, Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 6 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nông Cống xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 25/2025/TLST-HS ngày 09 tháng 6 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/QĐXXST-HS ngày 10/6/2025, đối với các bị cáo:
-
Họ và tên: Nguyễn Thị Thu H, sinh ngày 08/10/1990, tại: xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc; Số CCCD: [...]; nơi ĐKHKTT: thôn Đ, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; nơi ở hiện nay: thôn T, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: buôn bán; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn C (đã chết); con bà: Nguyễn Thị C1, sinh năm 1966; gia đình có 3 chị em, bị cáo là con đầu; bị cáo có chồng là Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1989 và có 3 con, lớn nhất sinh năm 2016, nhỏ nhất sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: không;
Bị cáo bị tạm giữ 03 ngày, từ ngày 16/4/2025 đến ngày 19/4/2025 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
-
Họ và tên: Nguyễn Văn Q, sinh ngày 15/10/1993, tại: xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Số CCCD:[...]; nơi ĐKHKTT: thôn Y, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; nơi ở hiện nay: thôn T, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Cắt tóc; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn C2 (đã chết), con bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1969; gia đình có 3 chị em, bị cáo là con thứ 3; bị cáo có vợ là Lê Thị H1, sinh năm: 1994 và có 03 con, lớn nhất sinh năm 2016, nhỏ nhất sinh năm 2024; tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giữ 03 ngày, từ ngày 16/4/2025 đến ngày 19/4/2025 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
-
Họ và tên: Lê Thị Đ1, sinh 28/10/1994, tại: xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; số CCCD: [...]; nơi ĐKHKTT: thôn T, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; nơi ở hiện nay: thôn T, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa lớp: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Đình N, sinh năm 1971; con bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1976; gia đình có 3 chị em, bị cáo là con đầu; bị cáo có chồng là Nguyễn Văn B, sinh năm: 1989 và có 2 con, lớn sinh năm 2018, nhỏ sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: không;
Bị cáo bị tạm giữ 03 ngày, từ ngày 16/4/2025 đến ngày 19/4/2025 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
-
Họ và tên: Nguyễn Thị Trang A, sinh ngày 25/9/2000, tại: xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; số CCCD: [...]; nơi ĐKHKTT và nơi ở hiện nay: thôn Y, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn B1, sinh năm 1964; con bà Nguyễn Thị H2, sinh năm 1966; gia đình có 3 anh em, bị cáo là con thứ 3; bị cáo có có chồng là Đặng Đình N1, sinh năm 1997 và có 01 con sinh năm 2024; tiền án, tiền sự: không;
Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
-
Họ và tên: Nguyễn Văn T1, sinh ngày 19/8/1978, tại: xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Số CCCD: [...]; nơi ĐKHKTT và nơi ở hiện nay: thôn T, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn T2 (đã chết); con bà Nguyễn Thị T3 (đã chết); gia đình có 2 anh em, bị cáo là con đầu; bị cáo có vợ là Nguyễn Thị L, sinh năm: 1978 và có 02 con, lớn sinh năm 2004, nhỏ sinh năm 2008; tiền án, tiền sự: không;
Bị cáo bị tạm giữ 03 ngày, từ ngày 16/4/2025 đến ngày 19/4/2025 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 21 giờ 30 phút ngày 15/4/2025, Nguyễn Thị Thu H gọi Nguyễn Văn Q, Lê Thị Đ1, Nguyễn Văn T1 và Nguyễn Thị Trang A đến nhà H để uống nước (Q, T1, Trang A, Đ1 cùng thuê ki ốt bán hàng ở gần nhau tại thôn T, xã T và gần nhà H). Một lúc sau thì Q, Đ1, T1, Trang A đến nhà H. Trong lúc mọi người đang ngồi uống nước thì H nói “làm tí không” (ý H nói là có đánh bạc không?) thì được Q, Đ1, T1, Trang A đồng ý rồi đi vào phòng ngủ nhà H. Trong phòng đã có sẵn một chiếc chiếu bằng nhựa và bộ bài tú lơ khơ, H lấy chiếu và bộ bài tú lơ khơ rồi cùng các bị cáo ngồi đánh bạc dưới hình thức “ba cây” cộng điểm ăn tiền và thống nhất mức cược thấp nhất mỗi ván là 50.000 đồng, cao nhất là 100.000 đồng. Cách đánh: các bị cáo sử dụng bộ bài tú lơ khơ 52 cây, bỏ các cây từ 10 đến K, lấy 36 cây gồm từ át (A) đến 9. Trong số người chơi thì có 01 người cầm cái (còn gọi là cầm chương), những người còn lại đặt cửa với người cầm cái. Quy định mỗi ván đặt cược số tiền thấp nhất 50.000 đồng. Khi chơi, người cầm cái chia mỗi người ba cây bài, cách tính điểm: điểm 10 là cao nhất, điểm 1 thấp nhất; chất được tính từ cao xuống thấp theo thứ tự rô, cơ, nhép, bích; khi có ba cây giống nhau gọi là “sáp”; ba cây liên tiếp cùng chất gọi là “đồng hoa”. Khi chia bài xong, người chơi lật bài để tính điểm so sánh với người cầm cái, ai cao bài hơn người cầm cái thì thắng và được người cầm cái trả tiền và ngược lại. Nếu người chơi có 10 điểm thì được nhân đôi số tiền đặt cược, nếu “sáp” thì được nhân ba số tiền đặt cược, còn nếu “đồng hoa” thì được nhân bốn số tiền đặt cược. Người nào được 10 điểm và cao hơn người cầm cái thì người đó cầm cái ván tiếp theo. Các bị cáo đánh bạc đến 22 giờ cùng ngày thì bị tổ tuần tra Công an xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ tại chiếu bạc số tiền 6.000.000 đồng, 01 chiếc chiếu nhựa đã qua sử dụng, 36 lá bài tú lơ khơ. Quá trình điều tra các bị cáo khai nhận số tiền mang đi để đánh bạc như sau: Nguyễn Thị Thu H có 1.200.000 đồng (một triệu hai trăm nghìn đồng); Nguyễn Văn Q có 1.300.000 đồng (một triệu ba trăm nghìn đồng); Lê Thị Đ1 có 1.200.000 đồng (một triệu hai trăm nghìn đồng); Nguyễn Văn T1 có 1.100.000 đồng (một triệu một trăm nghìn đồng), Nguyễn Thị Trang A có 1.200.000 đồng (một triệu hai trăm nghìn đồng).
Vật chứng thu giữ gồm:
- Tiền Ngân hàng N2 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng)
- 36 lá bài tú lơ khơ đã qua sử dụng.
- 01 (một) chiếc chiếu nhựa đã qua sử dụng. Toàn bộ vật chứng đã được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa chờ xử lý theo quy định.
Tại bản cáo trạng số 32/CTr - VKS ngày 09/6/2025 VKSND huyện Nông Cống truy tố các bị cáo Nguyễn Thị Thu H, Nguyễn Văn Q, Nguyễn Văn T1, Nguyễn Thị Trang A, Lê Thị Đ1 về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các quy định của pháp luật và quyết định hình phạt với các bị cáo cụ thể như sau:
Áp dụng khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự. Tuyên bố Nguyễn Thị Thu H, Nguyễn Văn Q, Lê Thị Đ1, Nguyễn Thị Trang A, Nguyễn Văn T1 phạm tội "Đánh bạc".
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt Nguyễn Thị Thu H từ 06 tháng đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo cho UBND xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa giáo dục, Công an xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa giám sát trong thời gian thử thách của án treo.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt Nguyễn Văn Q, Lê Thị Đ1, Nguyễn Thị Trang A, Nguyễn Văn T1 mỗi bị cáo từ 25.000.000đ đến 30.000.000đ để nộp vào ngân sách nhà nước.
Về hình phạt bổ sung: Nguyễn Thị Thu H thuộc diện hộ cận nghèo nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo
Về vật chứng vụ án: Tịch thu nộp ngân sách 6.000.000đ đã sử dụng vào việc đánh bạc. Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tú lơ khơ 36 cây và 01 chiếc chiếu nhựa đã qua sử dụng hiện đang tạm giữ tại Chi cục THADS huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Văn Q, Lê Thị Đ1, Nguyễn Thị Trang A, Nguyễn Văn T1 phải chịu án phí HSST theo quy định, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho Nguyễn Thị Thu H.
Các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, không có ý kiến tranh luận với đại diện viện kiểm sát. Lời nói sau cùng của bị cáo xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong phạm vi Tòa án xét xử đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai của các bị cáo tại giai đoạn điều tra, vật chứng thu được trong quá trình điều tra, phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đủ cơ sở chứng minh:
Vào khoảng 21 giờ 30 phút ngày 15/4/2025, Nguyễn Thị Thu H gọi Nguyễn Văn Q, Lê Thị Đ1, Nguyễn Văn T1 và Nguyễn Thị Trang A là những người cùng thuê kiot bán hàng ở gần nhau tại thôn T, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa và gần nhà H đến nhà H để uống nước. Một lúc sau thì Q, Đ1, T1, Trang A đến nhà H. Trong lúc mọi người đang ngồi uống nước thì H rủ mọi người đánh bạc, được mọi người đồng ý rồi đi vào phòng ngủ nhà H. Trong phòng đã có sẵn một chiếc chiếu bằng nhựa và bộ bài tú lơ khơ, H lấy chiếu và bộ bài tú lơ khơ rồi cùng các bị cáo ngồi đánh bạc dưới hình thức “ba cây” cộng điểm ăn tiền và thống nhất mức cược thấp nhất mỗi ván là 50.000 đồng, cao nhất là 100.000 đồng. Các bị cáo đánh bạc đến 22 giờ cùng ngày thì bị tổ tuần tra Công an xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ tại chiếu bạc số tiền 6.000.000 đồng, 01 chiếc chiếu nhựa đã qua sử dụng và 36 lá bài tú lơ khơ.
Vì vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận Nguyễn Thị Thu H, Nguyễn Văn Q, Lê Thị Đ1, Nguyễn Văn T1 và Nguyễn Thị Trang A phạm tội "Đánh bạc" theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.
Do đó, bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa truy tố các bị cáo về tội "đánh bạc" theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.
[3] Đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm của tội phạm và vài trò của các bị cáo trong vụ án như sau: Hành vi đánh bạc là sự sát phạt nhau về tiền, có người được người thua. Hành vi của các bị cáo không đem lại lợi ích gì cho xã hội còn ảnh hưởng xấu đến sức khỏe và kinh tế gia đình của những người tham gia đánh bạc và xâm phạm nếp sống văn minh, lành mạnh, xâm phạm trật tự công cộng, ảnh hưởng trật tự trị an địa bàn. Hoạt động này là tệ nạn xã hội, là nguyên nhân làm ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình và cũng là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các tội phạm khác. Tuy nhiên, các bị cáo đều là người nhất thời phạm tội, quy mô nhỏ, mức độ ít nghiêm trọng.
Trong vụ án này, trước và trong khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo không có sự bàn bạc, phân công vai trò của từng bị cáo trong vụ án, là chỗ quen biết, từ việc rủ nhau uống nước rồi rủ nhau đánh bạc. Vì vậy đây là vụ án đồng phạm giản đơn.
Đánh giá vai trò của các bị cáo trong vụ án này thấy rằng: Nguyễn Thị Thu H là người khởi sướng việc đánh bạc và bị cáo đã cho các bị cáo khác trong vụ án sử dụng nhà của mình làm địa điểm đánh bạc nên có dấu hiệu của tội gá bạc hoặc tổ chức đánh bạc, tuy nhiên tính chất, mức độ chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự bằng một tội độc lập và bị cáo cũng tham gia đánh bạc cùng những bị cáo khác trong vụ án. Vì vậy bị cáo giữ vai trò số một trong vụ án. Các bị cáo khác cùng tham gia đánh bạc nên giữ vai trò tiếp theo trong vụ án
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo:
Các bị cáo trong vụ án đều là người có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, thuộc các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của BLHS.
Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5] Về quyết định hình phạt:
Trên cơ sở đánh giá toàn diện về hành vi phạm tội, vai trò của từng bị cáo trong vụ án, tính chất mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và nhân thân của các bị cáo thấy rằng:
[5.1] Về hình phạt chính: Nguyễn Thị Thu H là người khởi sướng, sử dụng nhà của mình để cho các bị cáo khác đánh bạc và cùng tham gia đánh bạc với các bị cáo khác dẫn đến việc phạm tội của các bị cáo khác. Vì vậy cần tuyên phạt bị cáo một mức án thật nghiêm khắc để giáo dục bị cáo và giáo dục phòng ngừa chung. Tuy nhiên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự để cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ điều kiện để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Đối với các bị cáo khác trong vụ án đều tham gia thực hiện hành vi phạm tội do sự rủ rê của Nguyễn Thị Thu H và mục đích phạm tội vì hám lời. Vì vậy cần căn cứ vào khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Hình sự để xử phạt các bị cáo bằng tiền là hình phạt chính cũng đủ sức giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung.
[5.2] Về hình phạt bổ sung:
Nguyễn Thị Thu H là người thuộc diện hộ cận nghèo, vì vậy miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng vụ án:
Xác định số tiền 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng) các bị cáo đã sử dụng vào việc đánh bạc là công cụ phạm tội nên cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
Đối với bộ bài tú lơ khơ 36 cây và chiếc chiếu nhựa đã qua sử dụng là phương tiện phạm tội, vì vậy cần tịch thu tiêu hủy.
[7] Về án phí: Các bị cáo có tội, bị kết án, Nguyễn Văn Q, Lê Thị Đ1, Nguyễn Văn T1 và Nguyễn Thị Trang A không thuộc trường hợp được miễn án phí nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định. Đối với Nguyễn Thị Thu H thuộc diện hộ cận nghèo nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Nguyễn Thị Thu H, Nguyễn Văn Q, Lê Thị Đ1, Nguyễn Văn T1 và Nguyễn Thị Trang A phạm tội "Đánh bạc".
2. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1, khoản 2 và khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt Nguyễn Thị Thu H 09(chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18(Mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (20/6/2025).
Giao bị cáo cho UBND xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa giáo dục; giao cho Công an xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa giám sát trong thời gian thử thách của án treo.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Nguyễn Văn Q, Lê Thị Đ1, Nguyễn Văn T1 và Nguyễn Thị Trang A mỗi bị cáo 30.000.000đ(Ba mươi triệu đồng) để nộp vào ngân sách nhà nước.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 BLHS; Điều 106 Bộ luật TTHS:
Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 6.000.000đ (Sáu triệu đồng) các bị cáo đã sử dụng vào việc đánh bạc.
Tịch thu tiêu hủy 01 cỗ bài tú lơ khơ 36 cây và 01 chiếc chiếu nhựa đã qua sử dụng.
(Đặc điểm chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng số 36 giữa Cơ quan CSĐT Công tỉnh T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa ngày 11/6/2025).
4. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 BLHS; điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Buộc Nguyễn Văn Q, Lê Thị Đ1, Nguyễn Văn T1 và Nguyễn Thị Trang A mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ án phí HSST.
Miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho Nguyễn Thị Thu H.
5. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai có mặt các bị cáo. Các bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Kỳ Anh |
Bản án số 33/2025/HS-ST ngày 20/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NÔNG CỐNG, TỈNH THANH HÓA về hình sự sơ thẩm
- Số bản án: 33/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NÔNG CỐNG, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Thu H và 4 Đồng phạm khác phạm tội đánh bạc
