|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY TỈNH THÁI BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 33/2025/HS-ST Ngày: 20/3/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH
* Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Huệ
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Thúy và ông Đỗ Hữu Thuấn.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoài Thanh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy tham gia phiên tòa:
Ông Đỗ Xuân Long - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 3 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 32/2025/TLST-HS ngày 25 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 3 năm 2025, đối với:
Bị cáo Trịnh Văn K, sinh ngày 20/6/1965 tại Thái Bình; nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: lao động tự do; giới tính: nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; trình độ học vấn: 5/10; căn cước công dân số [...], con ông Trịnh Văn K1 và bà Đào Thị L (đều đã chết); có vợ là Bùi Thị H, sinh năm 1967; có 02 con, con lớn sinh năm 1992, con nhỏ sinh năm 2002.
Nhân thân: Năm 1986 tham gia nghĩa vụ quân sự đóng quân tại tiểu đoàn 264, thị xã M, tỉnh Quảng Ninh, năm 1989 xuất ngũ về địa phương.
Tiền án, tiền sự: không;
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/12/2024 đến ngày 21/12/2024 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực Thái T.
Trích xuất có mặt tại phiên tòa.
* Người chứng kiến:
- - Ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1960.
- - Ông Lại Lương T, sinh năm 1952.
Đều có địa chỉ: Thôn A, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 15/12/2024, bị cáo Trịnh Văn K đi bộ từ nhà ở thôn T đến thôn A, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình để tìm mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Tại đây bị cáo gặp và mua được 01 gói ma túy loại Heroin với giá 100.000 đồng của một người đàn ông khoảng 40 tuổi, bị cáo không biết tên, địa chỉ. Sau đó bị cáo cầm gói ma túy ở tay trái rồi đi bộ để về nhà, bị cáo vừa đi được một đoạn thì bị lực lượng Công an xã T tuần tra phát hiện yêu cầu kiểm tra. Tại đây trước sự chứng kiến của ông Nguyễn Văn H1 và ông Lại Lương T, sau khi được cơ quan Công an giải thích quyền và nghĩa vụ bị cáo đã tự giác giao nộp 01 gói nhỏ được gói bằng giấy màu trắng, bên trong có chứa chất bột màu trắng dạng cục cho Công an xã T. Bị cáo khai đó là 01 gói ma túy loại Heroin của bị cáo vừa mua được về để sử dụng. Cơ quan Công an đã niêm phong vật chứng, đưa bị cáo và mời người chứng kiến về trụ sở Công an xã T để làm các thủ tục theo quy định của pháp luật. Cùng ngày Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của bị cáo nhưng không phát hiện, thu giữ gì.
Tại Bản kết luận giám định số 1827/KL-KTHS ngày 19/12/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh T kết luận: Vật chứng trong phong bì niêm phong thu giữ của Trịnh Văn K gửi giám định là ma túy, loại Heroin (Heroine), có khối lượng 0,1228 gam. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về Kết luận giám định nêu trên.
Bản cáo trạng số 41/CT-VKSTT ngày 25/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy đã truy tố bị cáo Trịnh Văn K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trong bản Cáo trạng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Trịnh Văn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, xử phạt bị cáo từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Đề nghị tịch thu tiêu hủy ma túy và bao gói trong phong bì niêm phong. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Bị cáo không tranh luận gì đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về quyết định tố tụng, hành vi tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Trịnh Văn K đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố, phù hợp với các tài liệu chứng cứ sau: Biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ do Công an xã T lập ngày 15/12/2024; Bản kết luận giám định số 1827/KL-KTHS ngày 19/12/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh T; Biên bản ghi lời khai của những người chứng kiến là ông: Nguyễn Văn H1, ông Lại Lương T cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận: Hồi 14 giờ 40 phút ngày 15/12/2024, tại trục đường xã thuộc thôn A, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình, bị cáo Trịnh Văn K đã có hành vi tàng trữ trái phép ở bàn tay trái 0,1228 gam ma túy loại Heroin mục đích để sử dụng cho bản thân, bị Công an xã T bắt quả tang. Hành vi của bị cáo Trịnh Văn K đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy:
"1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
......
c) Heroine, C, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam."
[3] Đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo Trịnh Văn K là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về ma tuý; ảnh hưởng đến an ninh, trật tự tại địa phương, là nguyên nhân phát sinh nhiều tệ nạn xã hội và các hành vi vi phạm pháp luật khác.
[4] Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy: Bị cáo có nhân thân tốt, không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, bị cáo có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự, có bố vợ là liệt sỹ nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử thấy cần phải áp dụng mức hình phạt nghiêm minh, tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.
Bị cáo tàng trữ ma túy để sử dụng cho bản thân, trước khi bị bắt làm nghề lao động tự do, thu nhập không ổn định và không có tài sản riêng. Do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng: Số ma túy thu giữ của bị cáo thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cần tịch thu tiêu hủy.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố: Bị cáo Trịnh Văn K phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
- Hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trịnh Văn K 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 15/12/2024.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ 0,0857 gam ma túy Heroin còn lại sau giám định và toàn bộ bao gói trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 1827/KL-KTHS của Phòng K2 Công an tỉnh T.
(Theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T và Chi cục thi hành án dân sự huyện Thái Thụy ngày 26/02/2025).
- Về án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Trịnh Văn K phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo Trịnh Văn K có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 20/3/2025.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Huệ |
5
Bản án số 33/2025/HS-ST ngày 20/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH về tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 33/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
