|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - NINH BÌNH Bản án số: 33/2025/HS-ST Ngày 18-11-2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9, TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Hoàng Giang
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Nguyễn Thế Bình
- Ông Nguyễn Văn Chuyết
- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Ngát - Thư ký viên TAND khu vực 9, tỉnh Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Quân - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 11 năm 2025, tại Trụ sở, TAND khu vực 9, tỉnh Ninh Bình xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 35/2025/TLST-HS ngày 24 tháng 10 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2025/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 11 năm 2025, đối với bị cáo:
Họ và tên: Đào Quang T, sinh ngày 07/01/1995; Căn cước công dân số [...], cấp ngày 13/8/2021
Nơi thường trú, nơi ở hiện nay: Thôn T, xã N, tỉnh Ninh Bình; Giới tính: Nam; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Đào Trọng B, sinh năm 1968; con bà: Đoàn Thị T1, sinh năm 1975; Gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ 2; Vợ: Vũ Thị H, sinh năm 2002 (đã ly hôn); Có 01 con, sinh năm 2019. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07/9/2025, chuyển tạm giam từ ngày 16/9/2025 đến nay tại Trại tạm giam số 3 - Công an tỉnh N (Có mặt).
* Người chứng kiến:
- Anh Trần Văn T2 (vắng mặt).
- Anh Phạm Văn H1 (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ 30 phút, ngày 06/9/2025, Đào Quang T đi bộ một mình từ nhà tại thôn T, xã N, tỉnh Ninh Bình đến khu vực Đ thuộc thôn A, xã N, tỉnh Ninh Bình gặp và hỏi mua ma tuý của một người đàn ông khoảng 25 tuổi không rõ lai lịch, địa chỉ cụ thể, có đặc điểm cao khoảng 1,68 mét, dáng người gầy, đeo khẩu trang, gồm 02 (hai) viên ma tuý tổng hợp MDMA với giá 700.000 đồng và nửa chỉ Ketamine với giá 1.300.000 đồng. Người đàn ông nhận tiền và đưa cho T 01 túi ni lông màu trắng bên trong chứa các loại ma tuý như trên. T cất giấu vào túi quần bên phải đang mặc và đi bộ về nhà để sử dụng thì bị tổ công tác Công an xã N, tỉnh Ninh Bình làm nhiệm vụ tại khu vực đường tỉnh lộ 490C (đoạn trước cửa quán “83 billiards club”) thuộc xóm A, xã N, tỉnh Ninh Bình phát hiện, bắt giữ.
Vật chứng thu giữ: 01 túi ni lông màu trắng kích thước khoảng (4,2 x7,4) cm bên trong có 02 viên nén đều màu xám có hình lục giác và 01 túi ni lông màu trắng kích thước khoảng (2x2,5) cm bên trong có chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng, T khai là ma tuý dạng “kẹo”, và ma tuý tổng hợp dạng “ke”.
Tổ công tác lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với T và niêm phong 02 viên nén đều màu xám có hình lục giác vào 01 phong bì thư, kí hiệu M1 và niêm phong chất rắn dạng tinh thể màu trắng vào 01 (một) phong bì thư, kí hiệu M2; thu mẫu nước tiểu của Đào Quang T niêm phong vào 01 chai nhựa dung tích 500ml theo quy định, ký hiệu N. Ngoài ra không thu giữ của T đồ vật, tài sản nào khác.
Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Đào Quang T tại thôn T, xã N, tỉnh Ninh Bình: Không phát hiện, thu giữ, tạm giữ bất kì đồ vật, tài liệu gì liên quan đến hành vi phạm tội của T.
Kết luận giám định số 907/KL-KTHS ngày 11/9/2025 của Phòng K - Công an tỉnh N kết luận:
- Mẫu gồm 02 (hai) viên nén màu xám hình lục giác được niêm phong ký hiệu M1 là ma túy, loại MDMA. Tổng khối lượng 0,771 gam.
- Mẫu chất rắn dạng tinh thể màu trắng được niêm phong ký hiệu M2 là ma túy, loại Ketamine. Khối lượng 0,406 gam.
Kết luận giám định số 908/KL-KTHS ngày 12/9/2025 của Phòng K - Công an tỉnh N kết luận: Có tìm thấy các chất gồm MDMA, Ketamine, N và D trong 01 mẫu nước tiểu được niêm phong ký hiệu N.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội nêu trên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9, tỉnh Ninh Bình luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật đã viện dẫn tại bản Cáo trạng số 05/CT-VKS-KV9 ngày 22/10/2025. Sau khi xem xét, đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9, tỉnh Ninh Bình đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đào Quang T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS xử phạt bị cáo Đào Quang T từ 42 (Bốn mươi hai) tháng đến 48 (Bốn mươi tám) tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Đề nghị HĐXX tuyên tịch thu tiêu huỷ toàn bộ số ma túy đã thu giữ của bị cáo trong quá trình điều tra còn lại sau giám định đựng trong 01 phong bì niêm phong có mã số PS3 24298312 mặt trước có ghi số 907/KL-KTHS của Phòng KTHS - Công an tỉnh N.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Đào Quang T phải nộp 200.000 (hai tram nghìn) đồng.
Bị cáo nói lời sau cùng, xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9, tỉnh Ninh Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, xác định các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
[2] Về tội danh:
Lời khai nhận tội của bị cáo Đào Quang T tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 06 tháng 9 năm 2025, Đào Quang T (không thuộc trường hợp nào trong thời hạn đang cai nghiện ma túy) có hành vi cất giấu trái phép 1,177 gam ma tuý gồm: 0,771 gam ma tuý MDMA và 0,406 gam ma tuý Ketamine trong người mục đích để sử dụng thì bị Tổ công tác Công an xã N, tỉnh Ninh Bình phát hiện bắt quả tang tại khu vực tỉnh lộ 490C (đoạn trước cửa quán “83 billiards club"), thuộc thôn A, xã N, tỉnh Ninh Bình. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Vì vậy, Cáo trạng số 05/CT-VKS-KV9 ngày 22/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9, tỉnh Ninh Bình truy tố bị cáo Đào Quang T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2025) là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thuộc trường hợp nghiêm trọng, đã xâm phạm độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu cho xã hội, là một trong các nguyên nhân gây phát sinh các tệ nạn xã hội và tội phạm khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và có năng lực nhận thức điều khiển hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Vì vậy, hành vi phạm tội của bị cáo cần phải xử lý nghiêm trước pháp luật.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS:
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào theo Điều 52 BLHS.
Tình tiết giảm nhẹ TNHS: Bị cáo trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân, nên HĐXX áp dụng cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.
[5] Trên cơ sở xem xét cân nhắc giữa các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đối chiếu với các quy định hướng dẫn thi hành BLHS, Hội đồng xét xử thấy, bị cáo có tình tiết giảm nhẹ thành khẩn nhận hành vi phạm tội được quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS, bản thân bị cáo là người nghiện ma túy từ tháng 8/2024 nên cần áp dụng cho bị cáo mức hình phạt tù có thời hạn để nâng cao biện pháp giáo dục, răn đe bị cáo để lao động, cải tạo thành người có ích cho xã hội, đáp ứng công cuộc đấu tranh phòng chống loại tội phạm về ma tuý mà Đảng và Nhà nước đã đề ra.
[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người nghiện ma túy, tàng trữ ma túy mục đích để sử dụng, bị cáo là lao động tự do không có thu nhập ổn định. Vì vậy, HĐXX thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[7] Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy: Đối với số ma tuý hoàn lại sau giám định trong bì thư niêm phong mã PS3 24298312 ngày 11/9/2025 là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
[8] Các vấn đề khác:
Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an tỉnh N xác minh làm rõ Đào Quang T không thuộc trường hợp nào trong thời hạn đang cai nghiện ma túy nên không đặt vấn đề xử lý hình sự về tội “Sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại Điều 256a Bộ luật Hình sự.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho T: Theo T khai người này khoảng 25 tuổi, cao khoảng 1,68 mét, dáng người gầy, đeo khẩu trang, không biết tên tuổi, địa chỉ ở đâu. Cơ quan điều tra đã tiền hành xác minh nhưng không xác định được là ai nên không có căn cứ xử lý theo quy định pháp luật.
Xét thấy Cơ quan cảnh sát Điều tra Công an tỉnh N đã thực hiện là đúng quy định của pháp luật nên HĐXX không xem xét.
[9] Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo là người bị kết án nên bị cáo phải nộp 200.000 (hai tram nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung ngân sách nhà nước.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Đào Quang T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
-
Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2025);
Xử phạt Đào Quang T 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù
Thời hạn tù tính từ ngày 07 tháng 9 năm 2025.
-
Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Tuyên tịch thu tiêu huỷ toàn bộ số ma túy đã thu giữ của bị cáo trong quá trình điều tra còn lại sau giám định đựng trong 01 phong bì niêm phong có mã số PS3 24298312 mặt trước có ghi số 907/KL-KTHS của Phòng KTHS - Công an tỉnh N.
(Chi tiết trong biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 06/PTHADSKV ngày 28/10/2025 giữa CQCSĐT Công an tỉnh N với Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 9 - Ninh Bình).
-
Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Đào Quang T phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
-
Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 332; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Bị cáo Đào Quang T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Hoàng Giang |
Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sựngười được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Hoàng Giang |
Bản án số 33/2025/HS-ST ngày 18/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9, TỈNH NINH BÌNH về hình sự
- Số bản án: 33/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9, TỈNH NINH BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đào Quang T - Tàng trữ trái phép chất ma túy
