|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. NHA TRANG CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH KHÁNH HÒA |
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc.
|
|
Bản án số: 33/2025/HS-ST Ngày: 18 - 02 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Rực
- Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Võ Thị Bời- nguyên là giáo viên.
- Bà Nguyễn Thị Xuân Tâm- Cán bộ tư pháp xã Vĩnh Phương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Minh Trang- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Tấn Hưng- Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 358/2024/TLST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 350/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 12 năm 2024; Quyết định hoãn phiên toà số 06/2025/HSST-QĐ ngày 16/01/2025 đối với các bị cáo:
- Nguyễn Minh H; sinh ngày 23/7/2006 tại Khánh Hòa; ĐKTT: H H, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; nơi ở hiện nay: Không nơi cư trú rõ ràng; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Diên M và bà Đỗ Nguyễn Ngọc Diễm N; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Quyết định khởi tố bị can số 194/QĐ-ĐCSHS ngày 04/6/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an thành phố N về tội Cướp tài sản; bị cáo bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố N trong vụ án khác. Có mặt.
- Võ Quốc T; sinh ngày 08/12/2007 tại Phú Yên; nơi cư trú: 1 D, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Hồ H1 và bà Nguyễn Thị Ái H2; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
- Lê Khắc C; sinh ngày 04/3/2006 tại Thanh Hóa; ĐKTT: Xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; nơi ở hiện nay: Tổ B H, xã V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Khắc Q và bà Nguyễn Thị T1; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
- Vạng Vũ Tâm A; sinh ngày 01/5/2009 tại Thanh Hóa; nghề nghiệp: Không; ĐKTT: Thôn T, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; nơi ở hiện nay: Khu A, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vạng Tâm L và bà Vũ Thị L1; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
- Nguyễn Đình An K; sinh ngày 30/4/2005 tại Khánh Hoà; nơi cư trú: Số G hẻm A N, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đình Hoàng Q1 và bà Dư Thị Diệu T2; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/3/2024. Có mặt.
- Nguyễn Hải N1; sinh ngày 25/02/2007 tại Khánh Hòa; nơi cư trú: Tổ A T, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hữu M1 và bà Mai Thị L2; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
- Nguyễn Khắc N2; sinh ngày 28/8/2007 tại Khánh Hòa; nơi cư trú: Thôn P, xã P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Khắc H3 và bà Trần Thị Ú; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
- Nguyễn Văn H4; sinh ngày 18/7/2007 tại Khánh Hòa; nơi cư trú: Tổ A Đường Đ, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T3 và bà Nguyễn Ngọc Xuân Đ; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
- Đại diện của bị cáo Nguyễn Minh H: Đỗ Nguyễn Ngọc Diễm N; địa chỉ: H H, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.
- Đại diện của bị cáo Võ Quốc T: Nguyễn Thị Ái H2, Nguyễn Hồ H5; địa chỉ: 1 D, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Bà H2 có mặt.
- Đại diện của bị cáo Lê Khắc C: Lê Khắc Q, Nguyễn Thị T1; địa chỉ: Tổ B H, xã V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Ông Q có mặt.
- Đại diện của bị cáo Vạng Vũ Tâm A: Vạng T, Vũ Thị L1; địa chỉ: Khu A, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Ông L có mặt.
- Đại diện của bị cáo Nguyễn Hải N1: Nguyễn Hữu M1, Mai Thị L2; địa chỉ: Tổ A T, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Cùng có mặt.
- Đại diện của bị cáo Nguyễn Khắc N2: Nguyễn Khắc H3, Trần Thị Ú; địa chỉ: Thôn P, xã P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Ông H3 có mặt.
- Đại diện của bị cáo Nguyễn Văn H4: Nguyễn Văn T3, Nguyễn Ngọc Xuân Đ; địa chỉ: Tổ A Đường Đ, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Bà Đ có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Vạng Vũ Tâm A: Trợ giúp viên pháp lý Phạm Trân Nhật T4- Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh K. Có mặt.
- Người bào chữa cho các bị cáo Nguyễn Minh H, Võ Quốc T, Lê Khắc C, Nguyễn Hải N1, Nguyễn Khắc N2, Nguyễn Văn H4: Trợ giúp viên pháp lý Thiều H6- Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh K. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Hải N1: Luật sư Đào Thanh T5, và Luật sư Đào Vũ L3- Công ty L7. Ông L3 có mặt; ông T5 có đơn xin vắng mặt.
- Bị hại: La Văn T6- sinh năm 1964; địa chỉ: H B, phường V, thành phố N, Khánh Hòa. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- + Huỳnh Thanh T7- sinh năm 1996; địa chỉ: I N, phường V, thành phố N, Khánh Hòa. Vắng mặt.
- + Nguyễn Thị Thanh N3- sinh năm 1983; địa chỉ: 1 N, phường V, thành phố N, Khánh Hòa. Vắng mặt.
- + Nguyễn Thị L4- sinh năm 1979; địa chỉ: G M, phường V, thành phố N, Khánh Hòa. Vắng mặt.
- + Nguyễn Đình Hoàng Q1- sinh năm 1982; địa chỉ: 7 N, phường V, thành phố N, Khánh Hòa. Có mặt.
- + Nguyễn Quốc H7- sinh năm 1985; địa chỉ: Thôn T, xã N, thị xã N, Khánh Hòa. Vắng mặt.
- Người làm chứng: Đỗ Ngọc Vương T8; địa chỉ: Tổ B T, phường V, thành phố N, Khánh Hòa. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào tối ngày 23/9/2023, Nguyễn Minh H, Lê Khắc C, Võ Quốc T, Vạng Vũ Tâm A, Nguyễn Văn H4, Nguyễn Khắc N2, Nguyễn Hải N1 và Nguyễn Đình An K đi dạo ở khu vực L, xã V, thành phố N. C rủ cả nhóm đến quán N4 tại ngã ba đường N- H thuộc phường V, thành phố N để trộm cắp tài sản thì cả nhóm đồng ý. Đến khoảng 01 giờ ngày 24/9/2023, cả nhóm tập trung đến khu vực đường gần phía sau quán L để quan sát, khi thấy thu ngân đi về chỉ còn bảo vệ là ông La Văn T6 thì vào trộm cắp. H4 điều khiển xe máy Yamaha Jupiter màu đen chở Tâm A đến trước quán giả vờ hết xăng rồi gọi ông T6 ra để hỏi chuyện đánh lạc hướng. H, C và T lẻn vào bên trong khu vực bếp của quán Lều Lêu trộm cắp tài sản. K, N1, N2 đứng bên ngoài cảnh giới và trông xe. Trong lúc đang nói chuyện với Tâm A và H4 thì ông T6 nhìn thấy H, C, T đang lục lọi trong bếp nên tri hô thì cả nhóm bỏ chạy mà không lấy được tài sản.
Sau đó, cả nhóm tiếp tục tụ tập tại khu vực đường phía sau quán L, T nói “bây giờ trộm không được thì mình vô cướp luôn”, cả nhóm đồng ý. K điều khiển xe máy Yamaha Taurus biển kiểm soát 79R2- 0974 chở T, H4 điều khiển xe máy Yamaha Jupiter chở Tâm A, N2 điều khiển xe máy Honda RSX chở C, N1 điều khiển xe máy Yamaha Sirius chở H quay lại quán Lều L5. Lúc này, K, N, N1 và H4 đứng ngoài trông xe và cảnh giới; H cùng T, C, Tâm A chạy vào trong quán. H rút 01 con dao bấm dài khoảng 20 cm từ trong người ra dí dao về phía ông T6 nói “ông đứng im, ông la lên là tôi đâm ông bây giờ” thì ông T6 hoảng sợ lùi dạt vào góc quán để trốn. T lấy 03 thùng bia (02 thùng Heineken bạc, 01 thùng Bivina), C lấy 01 cây quạt công nghiệp hiệu Lifan màu đen cao khoảng 1,5m, H và Tâm A lấy 01 sọt nhựa hình chữ nhật bên trong đựng 07 lon Bivina, 38 lon bia Sài Gòn L, 25 lon bia Tiger xanh, 26 lon nước ngọt 7Up, 07 lon nước bò húc, 05 lon nước ngọt cocacola, 01 chai nước ngọt Sting, 15 lon nước ngọt Mirinda, 17 chai nước suối S.
C và N2 giữ 01 thùng bia Heineken mang về, sau đó đến tiệm tạp hoá tại G M, phường V, thành phố N bán cho chị Nguyễn Thị L4 được 400.000 đồng chia nhau mỗi người 200.000 đồng tiêu xài. H, H4, N1, Tâm A, T và K mang 01 cây quạt công nghiệp và số bia, nước ngọt cướp được về nhà bạn gái của H là Đỗ Ngọc Vương T8 để uống và cất giấu. Đến khoảng 10 giờ ngày 24/9/2023, H và H4 mang quạt công nghiệp L6 đến tiệm P, phường V, thành phố N bán cho chị Nguyễn Thị Thanh N3 được 100.000 đồng, cả nhóm tiêu xài hết.
Qua trình báo của ông La Văn T6, Cơ quan cảnh sát điều tra- Công an thành phố N tiến hành truy xét và đưa các đối tượng Nguyễn Minh H, Võ Quốc T, Lê Khắc C, Vạng Vũ Tâm A, Nguyễn Đình An K, Nguyễn Hải N1, Nguyễn Khắc N2 và Nguyễn Văn H4 về làm việc, các đối tượng đã khai nhận hành vi phạm tội.
Kết luận định giá tài sản số 283/KL-HĐĐGTS ngày 01/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự- UBND thành phố N xác định: Tại thời điểm tháng 9/2023, 01 chiếc quạt đứng công nghiệp Lifan có giá trị 1.697.500 đồng; riêng các loại bia, nước giải khát không đủ thông tin để định giá.
Kết luận giám định độ tuổi trên người sống số 199/KL-KTHS ngày 26/01/2024 của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng xác định: độ tuổi của Vạng Vũ Tâm A tại thời điểm giám định (tháng 01 năm 2024) là: từ 14 năm 06 tháng đến 15 năm.
Quá trình điều tra, Nguyễn Minh H, Võ Quốc T, Lê Khắc C, Vạng Vũ Tâm A, Nguyễn Đình An K, Nguyễn Hải N1, Nguyễn Khắc N2 và Nguyễn Văn H4 thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu.
Đồ vật, tài liệu thu giữ:
- 01 con dao bấm bằng kim loại dài khoảng 20cm.
- 01 cây quạt công nghiệp hiệu Lifan, 12 lon nước ngọt Mirinda, 12 lon nước ngọt 7Up, 12 lon bia Sài Gòn L, 20 lon bia Tiger, 06 lon nước bò húc, 04 lon nước ngọt cocacola, 02 thùng bia Heiniken bạc, 01 thùng bia Bivina (đã trả cho chủ sở hữu).
- Xe máy Yamaha Taurus biển kiểm soát 79R2- 0974 (đã trả cho ông Nguyễn Đình Hoàng Q1).
Bản Cáo trạng số 301/CT-VKSNT ngày 05 tháng 11 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang để xét xử Nguyễn Minh H, Võ Quốc T, Lê Khắc C, Vạng Vũ Tâm A, Nguyễn Đình An K, Nguyễn Hải N1, Nguyễn Khắc N2 và Nguyễn Văn H4 về tội “Cướp tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo Nguyễn Minh H, Võ Quốc T, Lê Khắc C, Vạng Vũ Tâm A, Nguyễn Đình An K, Nguyễn Hải N1, Nguyễn Khắc N2 và Nguyễn Văn H4 theo tội danh, khung hình phạt như trên và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo; áp dụng thêm điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự đối với Võ Quốc T; áp dụng thêm Điều 91, Điều 101 Bộ luật Hình sự đối với Nguyễn Minh H, Võ Quốc T, Lê Khắc C, Vạng Vũ Tâm A, Nguyễn Hải N1, Nguyễn Khắc N2 và Nguyễn Văn H4. Xử phạt Nguyễn Minh H, Lê Khắc C mỗi bị cáo từ 06 năm đến 07 năm tù; xử phạt Nguyễn Đình An K từ 07 năm đến 08 năm tù; xử phạt Nguyễn Hải N1, Nguyễn Khắc N2, Nguyễn Văn H4 mỗi bị cáo từ 05 năm 03 tháng đến 06 năm tù; xử phạt Võ Quốc T, Vạng Vũ Tâm A mỗi bị cáo từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù.
Tại phiên tòa, Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho 07 bị cáo H, T, C, Tâm A, N1, N2 và H4; luật sư Đào Vũ L3 bào chữa cho bị cáo N1 thống nhất với quan điểm của Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng nhưng đề nghị lưu ý đến việc áp dụng hình phạt đối với các bị cáo vì khi phạm tội các bị cáo đều chưa thành niên, bị cáo T, Tâm A chưa đủ 16 tuổi; các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo cùng người thân đã xin lỗi, tự nguyện khắc phục hậu quả, bồi thường cho bị hại, được bị hại làm đơn xin bãi nại; các bị cáo phạm tội lần đầu, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu bồi thường gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo nên cần áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự cho các bị cáo được hưởng dưới mức thấp nhất của khung hình phạt. Trợ giúp viên pháp lý Thiều H6 còn đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ- phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn quy định tại điểm h khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho các bị cáo. Đại diện của mỗi bị cáo đều đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhưng tại phiên tòa, có đại diện của bị cáo chưa thành niên, luật sư Đào Thanh T5 bào chữa cho bị cáo Nguyễn Hải N1, một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người làm chứng vắng mặt. Xét việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án (tại phiên tòa các bị cáo chưa thành niên đều có ít nhất một đại diện có mặt; bào chữa cho bị cáo Nguyễn Hải N1 gồm trợ giúp viên pháp lý Thiều H6 và luật sư Đào Vũ L3 đều có mặt, Nguyễn Hải N1 đồng ý xét xử vắng mặt người bào chữa Đào Thanh T5) nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 291, Điều 292, Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự tiến hành xét xử vắng mặt họ.
[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[3] Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Minh H thừa nhận khoảng 01 giờ ngày 24/9/2023, tại quán N4- ngã ba đường N- H thuộc phường V, thành phố N, H cầm 01 con dao bấm dài khoảng 20cm đe dọa đâm ông La Văn T6 rồi cùng Võ Quốc T, Lê Khắc C, Vạng V, Nguyễn Đình An K, Nguyễn Hải N1, Nguyễn Khắc N2, Nguyễn Văn H4 cướp 01 cây quạt công nghiệp có giá trị 1.697.500 đồng và 02 thùng bia Heineken bạc, 01 thùng bia Bivina cùng 07 lon bia Bivina rời, 38 lon bia Sài Gòn L, 25 lon bia Tiger xanh, 26 lon nước ngọt 7Up, 07 lon nước bò húc, 05 lon nước ngọt cocacola, 01 chai nước ngọt Sting, 15 lon nước ngọt Mirinda, 17 chai nước suối S (các loại bia và nước ngọt không đủ thông tin để định giá) do ông T6 đang trông coi, quản lý. Lời khai nhận tội của bị cáo H phù hợp với lời khai của các bị cáo T, C, Tâm A, K, N1, N, H4, phù hợp với lời khai của bị hại, Biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm, các Biên bản làm việc, Bản ảnh, vật chứng thu giữ được và các chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Các bị cáo sử dụng dao uy hiếp bị hại khiến bị hại không thể chống cự, chiếm đoạt tài sản của bị hại là thuộc trường hợp dùng vũ khí, phương tiện nguy hiểm. Hành vi của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội cướp tài sản được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 của Bộ luật Hình sự. Như vậy, bản Cáo trạng số 301/CT-VKSNT ngày 05 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa truy tố Nguyễn Minh H, Võ Quốc T, Lê Khắc C, Vạng Vũ Tâm A, Nguyễn Đình An K, Nguyễn Hải N1, Nguyễn Khắc N2, Nguyễn Văn H4 về tội “Cướp tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm và rất nghiêm trọng đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, gây mất ổn định trật tự xã hội ở địa phương. Đây là vụ án đồng phạm giản đơn nhưng cần xem xét vai trò, trách nhiệm từng bị cáo để có mức hình phạt tương xứng: Nguyễn Minh H là đối tượng thực hiện hành vi phạm tội tích cực (trực tiếp cầm dao uy hiếp bị hại, trực tiếp chiếm đoạt tài sản và đem tài sản chiếm đoạt đi tiêu thụ), có nhân thân xấu (Quyết định khởi tố bị can số 194/QĐ-ĐCSHS ngày 04/6/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an thành phố N đối với Nguyễn Minh H về tội Cướp tài sản). Võ Quốc T, Lê Khắc C là các đối tượng rủ cả nhóm đi chiếm đoạt tài sản (T là người trực tiếp rủ các bị cáo trong đó có nhiều bị cáo chưa thành niên thực hiện hành vi cướp tài sản- nên cần áp dụng tình tiết tăng nặng quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự đối với Võ Quốc T), là các đối tượng trực tiếp chiếm đoạt tài sản và đem tài sản chiếm đoạt đi tiêu thụ. Nguyễn Khắc N2, Nguyễn Văn H4 tuy chỉ đứng trông xe cảnh giới nhưng là những đối tượng trực tiếp mang tài sản chiếm đoạt đi tiêu thụ. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm, cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, xét thấy các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo cùng người thân đã xin lỗi, tự nguyện khắc phục, bồi thường cho bị hại, được bị hại làm đơn xin bãi nại (bị cáo Nguyễn Hải N1 cùng cha ruột, bị cáo Lê Khắc C cùng cha ruột, bị cáo Nguyễn Minh H, bị cáo Nguyễn Đình An K- mỗi bị cáo đã bồi thường cho bị hại số tiền 1.697.500 đồng; bị cáo Võ Quốc T cùng mẹ ruột, bị cáo V Vũ Tâm A cùng cha ruột, bị cáo Nguyễn Khắc N2 cùng cha ruột, bị cáo Nguyễn Văn H4 cùng mẹ ruột- mỗi bị cáo đã bồi thường cho bị hại số tiền 200.000 đồng); các bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt nên cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, b khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho các bị cáo và áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự, xử phạt các bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục đối với các bị cáo. Khi phạm tội các bị cáo Nguyễn Minh H, Võ Quốc T, Lê Khắc C, Vạng Vũ Tâm A, Nguyễn Hải N1, Nguyễn Khắc N2, Nguyễn Văn H4 là người chưa thành niên (Võ Quốc T, Vạng V đều dưới 16 tuổi), nhận thức còn hạn chế, nên áp dụng Điều 91, Điều 101 Bộ luật Hình sự cho các bị cáo H, T, C, Tâm A, N1, N, H4.
[4] Đối với Nguyễn Thị Thanh N3 mua 01 cây quạt công nghiệp hiệu Lifan, Nguyễn Thị L4 mua 01 thùng bia H8 nhưng không biết đồ mình mua do các bị cáo phạm tội mà có nên không có căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự Nguyễn Thị Thanh N3, Nguyễn Thị Luận T9 Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự.
[5] Xe máy Yamaha Taurus biển kiểm soát 79R2- 0974, qua xác minh người đứng tên chủ sở hữu là anh Nguyễn Quốc H7, anh H7 có lời khai đã bán xe cho ông Nguyễn Đình Hoàng Q1 và anh H7 không có yêu cầu gì. Ông Q1 là cha ruột của bị cáo Nguyễn Đình An K, khi cho K mượn xe, ông Q1 không biết K mượn xe thực hiện hành vi phạm tội. Tại phiên tòa, ông Q1 xác định đã nhận lại xe, không có yêu cầu gì nên không xét.
[6] Về trách nhiệm dân sự:
- - Các bị cáo cướp 01 cây quạt công nghiệp có giá trị 1.697.500 đồng và một số bia, nước ngọt của ông La Văn T6 (ông T6 là người đang trông coi, quản lý số tài sản này tại quán N4- chủ quán là anh Huỳnh Thanh T7). Tại phiên tòa, anh T7 vắng mặt nhưng có lời khai đã nhận lại tài sản bị cướp; ông T6 xác định các bị cáo, người thân của các bị cáo đã bồi thường đầy đủ, ông T6 không yêu cầu các bị cáo bồi thường gì thêm nên không xét.
- - Nguyễn Thị Thanh N3 mua 01 cây quạt công nghiệp do các bị cáo cướp được mà có với số tiền 100.000 đồng; khi biết, chị N3 đã giao nộp cây quạt này. Tại phiên tòa, chị N3 vắng mặt nên tách ra để giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự khi có đơn yêu cầu.
- - Nguyễn Thị L4 mua 01 thùng bia Heineken do các bị cáo cướp được mà có với số tiền 400.000 đồng; khi biết, chị L4 đã giao nộp thùng bia này. Tại phiên tòa, chị L4 vắng mặt nên tách ra để giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự khi có đơn yêu cầu.
[7] Về đồ vật thu giữ: 01 con dao bấm bằng kim loại dài khoảng 20cm là công cụ phạm tội, xét không giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
[8] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- - Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 168; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 91; Điều 101 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Minh H.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh H 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cướp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
- - Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 168; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 54; Điều 91; Điều 101 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Võ Quốc T.
Xử phạt bị cáo Võ Quốc T 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Cướp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
- - Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 168; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 91; Điều 101 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lê Khắc C.
Xử phạt bị cáo Lê Khắc C 04 (bốn) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Cướp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
- - Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 168; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 91; Điều 101 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Vạng Vũ Tâm A.
Xử phạt bị cáo V Vũ Tâm A 03 (ba) năm tù về tội “Cướp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
- - Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 168; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Đình An K.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình An K 05 (năm) năm 09 (chín) tháng tù về tội “Cướp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 01/3/2024.
- - Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 168; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 91; Điều 101 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Hải N1.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hải N1 03 (ba) năm 09 (chín) tháng tù về tội “Cướp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
- - Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 168; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 91; Điều 101 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Khắc N2.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Khắc N2 04 (bốn) năm tù về tội “Cướp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
- - Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 168; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 91; Điều 101 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn H4.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H4 04 (bốn) năm tù về tội “Cướp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
- - Về trách nhiệm dân sự:
- + Không xét bồi thường thiệt hại về tài sản giữa bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Huỳnh Thanh T7 đối với các bị cáo.
- + Tách yêu cầu bồi hoàn của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị Thanh N3, Nguyễn Thị L4 vắng mặt tại phiên tòa đối với các bị cáo để giải quyết bằng vụ án dân sự khác nếu có yêu cầu.
- - Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) con dao bấm bằng kim loại dài khoảng 20cm.
(Tình trạng vật chứng như Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 22/01/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Nha Trang).
- - Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án; các bị cáo Nguyễn Minh H, Võ Quốc T, Lê Khắc C, Vạng Vũ Tâm A, Nguyễn Đình An K, Nguyễn Hải N1, Nguyễn Khắc N2 và Nguyễn Văn H4 mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).
- - Quyền kháng cáo của các bị cáo, người bào chữa cho các bị cáo và đại diện của các bị cáo Võ Quốc T, Vạng Vũ Tâm A, Nguyễn Hải N1, Nguyễn Khắc N2, Nguyễn Văn H4, của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa là 15 ngày kể từ ngày tuyên án; quyền kháng cáo của người bào chữa (luật sư Đào Thanh T5) cho bị cáo Nguyễn Hải N1, của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa là 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử phúc thẩm.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận: THẨM
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN Nguyễn Trọng Rực |
Bản án số 33/2025/HS-ST ngày 18/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA về hình sự (cướp tài sản)
- Số bản án: 33/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cướp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Minh H + ĐP
