Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HÓC MÔN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2025/HS-ST

Ngày 14 - 02 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Trang.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Kim Liên, ông Phạm Văn Chính.

Thư ký phiên tòa: Ông Ung Tuấn Kiệt – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh B - Kiểm sát viên.

Trong ngày 14 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 392/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 12 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2025/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Đỗ Thị M (tên gọi khác: Không), sinh năm 1997 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký thường trú: C khu phố H, thị trấn H, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi ở: 6 đường B, tổ A, khu phố A, thị trấn H, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Văn S và bà Trần Thị T; chồng tên Châu Chí T1; bị cáo có 03 con, lớn nhất sinh năm 2014 nhỏ nhất sinh năm 2020; tiền án: Không, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 26/9/2024 đến nay. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  • + Ông Châu Chí T1, sinh năm 1993
  • Địa chỉ: 6 khu phố A, thị trấn H, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.
  • + Bà Nguyễn Thị Thu S1, sinh năm 1999
  • Địa chỉ: 6 khu phố A, thị trấn H, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.
  • + Bà Lê Kim T2, sinh năm 1991
  • Địa chỉ: 8 khu phố A, thị trấn H, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Ông T1 có mặt; bà S1, bà T2 vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

- Ngày 15/7/2024 Lê Kim T2 sử dụng tài khoản Facebook “Thương Thư T3” nhắn tin tài khoản Facebook “Đỗ Mạnh” của M nội dung: Mua số bao lô 26 với 05 điểm theo kết quả sổ xố Thành phố Hồ Chí Minh và Đồng Tháp với số tiền 140.000 đồng; đá 27:23 với 0,5 điểm hai đài Thành phố Hồ Chí Minh và Đồng Tháp với số tiền 27.000 đồng. Kết quả số xố có số 26 nên T2 thắng được số tiền 365.000 đồng và số đá 27:23 thắng được số tiền 265.000 đồng. Tổng cộng tiền mua số đề là 556.000 đồng, tiền thắng là 630.000 đồng.

- Ngày 15/7/2024 Lê Quang S2 nhắn tin qua zalo của Châu Chí T1 để ghi các số 56 bao lô với 10 điểm là 280.000 đồng, số 65 với 10 điểm là 280.000 đồng; đá 65:56 với 02 điểm là 112.000 đồng và đánh đầu đuôi 56 với 02 điểm là 4.000 đồng theo đài M1. Tổng cộng là 676.000 đồng, kết quả sổ xố kiến thiết M, S2 không trúng nên thua số tiền này.

- Ngày 15/7/2024 Phạm Minh T4 sử dụng tài khoản zalo nhắn tin cho Châu Chí T1 nhờ T1 mua số đề theo kết quả xổ số miền N đài Thành phố Hồ Chí Minh với tổng số tiền là 958.000 đồng, trong đó Minh T4 có bao lô số 26 với 40 điểm. Kết quả xổ số có lô số 26 nên T4 thắng được số tiền 2.920.000 đồng.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Đỗ Thị M thừa nhận thực hiện toàn bộ hành vi phạm tội như trên. Ngoài ra, M còn bán số đề cho Nguyễn Thị Thu S1, Bùi Thanh C và những người khác không rõ lai lịch với số tiền dùng để đánh bạc mỗi lần đều dưới 5.000.000 đồng, cụ thể:

1/ Nguyễn Thị Thu S1:

  • Ngày 21/7/2024, S1 nhắn tin mua số lô đề theo đài Miền B1 với số tiền là 51.000 đồng. Kết quả S1 thua.
  • Ngày 23/7/2024, S1 nhắn tin mua số lô đề theo đài Miền T5 với số tiền là 28.000 đồng và đài M2 với số tiền là 91.000 đồng. Kết quả S1 thua.

2/ Lê Kim T2:

  • Ngày 23/7/2024, nhắn tin mua các số lô đề theo đài M1 với số tiền là 269.500 đồng, kết quả T2 trúng 01 số với số tiền là 315.000 đồng; đài Miền T5 với số tiền là 68.000 đồng, kết quả T2 thua và đài Miền B1 với số tiền là 21.000 đồng, kết quả T2 thua số tiền này.
  • Ngày 24/7/2024, nhắn tin mua các số lô đề đài Miền Nam với số tiền là 101.000 đồng, kết quả T2 thua.

3/ Tài khoản Facebook “Quang N” (không rõ lai lịch):

Ngày 21/7/2024, nhắn tin mua các số lô đề theo đài Miền T5 với số tiền là 26.000 đồng, kết quả Q thua số tiền này.

4/ Bùi Thanh C:

Ngày 21/7/2024, nhắn tin mua các số lô đề đài Miền Nam với số tiền là 280.000 đồng, kết quả C thua số tiền này.

5/ Phạm Minh T4:

Ngày 14/7/2024 nhắn tin cho Châu Chí T1 (chồng của M) mua các số lô đề đài Miền Nam với số tiền là 1.680.000 đồng, rồi Chí T1 nhắn tin gửi lại cho M, kết quả Minh T4 thua số tiền này.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H, tất cả các đối tượng thừa nhận thực hiện hành vi phạm tội như trên.

* Vật chứng thu giữ:

  • Thu của Đỗ Thị M: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax (đã qua sử dụng), có số Imei 1: 354466596603493, Imei 2: 354466596553961, liên quan đến việc phạm tội.
  • Thu của Lê Kim T2: 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo A5-2020 màu xanh, số sê-ri: 55d1loe3, Imei 1: 860169041377526, Imei 2: 860169041377526, liên quan đến việc phạm tội.
  • Thu của Nguyễn Thị Thu S1: 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo A60 kiểu máy CPH2631, Ram 8GB, số Imei 1 867993073631515, liên quan đến việc phạm tội.
  • Thu của Châu Chí T1: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 15 Promax màu trắng, số máy: MU783VN/A, số sê-ri: JV4FTQGGK3, số Imei 1: 357300546219281, số Imei 2: 357300546015655, liên quan đến việc phạm tội.

* Về trách nhiệm dân sự: Không có yêu cầu.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã quyết định khởi tố điều tra đối với Đỗ Thị M về hành vi “Đánh bạc”.

Quá trình điều tra, Đỗ Thị M khai nhận thực hiện toàn bộ hành vi phạm tội.

Cáo trạng số 16/CT-VKSHHM ngày 24 tháng 12 năm 2024, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố Đỗ Thị M về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2017 (sau đây viết là Bộ luật Hình sự).

Đối với Châu Chí T1, Lê Quang S2, Bùi Thanh C, Lê Kim T2, Nguyễn Thị Thu S1 có hành vi đánh bạc ăn thua bằng tiền, số tiền dùng đánh bạc dưới 5.000.000 (năm triệu) đồng, không đủ cơ sở xử lý trách nhiệm hình sự nên Công an huyện H đã ra Quyết định xử lý hành chính. Đối với những người mua số đề của Đỗ Thị M không rõ lai lịch, Cơ quan Cảnh sát điều tra đang tiến hành xác minh làm rõ, khi có căn cứ vi phạm sẽ đề nghị xử lý sau.

Tại phiên tòa:

1. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn giữ quyền công tố phát biểu: Qua thẩm vấn công khai và tranh luận tại phiên tòa, bị cáo Đỗ Thị M khai nhận thực hiện toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố, hành vi của bị cáo xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội nên cần có mức hình phạt nghiêm khắc mới đảm bảo tính giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đỗ Thị M phạm tội “Đánh bạc”, tội danh và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

  • Về nhân thân: Bị cáo không có tiền án, tiền sự.
  • Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
  • Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội khi đang có thai nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng quy định tại điểm i, n, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
  • Về hình phạt đề nghị: Áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Đỗ Thị M từ 09 (chín) tháng đến 12 (mười hai) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách đối với bị cáo từ 01 (một) năm 08 (tám) tháng đến 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân thị trấn H và gia đình giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
  • Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Đỗ Thị M lao động tự do, nguồn thu nhập không ổn định, bị cáo đang có thai, nuôi 03 con nhỏ nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền, không khấu trừ thu nhập để sung quỹ Nhà nước đối với bị cáo theo quy định tại khoản 3 Điều 321 của Bộ luật hình sự.
  • Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 để xử lý theo quy định.

Đề nghị buộc bị cáo Đỗ Thị M nộp lại số tiền 4.704.500 (bốn triệu bảy trăm lẻ bốn nghìn năm trăm) đồng là tiền các đối tượng Lê Kim T2, Nguyễn Thị Thu S1, Phạm Minh T4 và các đối tượng mua lô đề khác (không rõ lai lịch) đã đưa cho bị cáo M để ghi số đề. Nộp tiền tại cơ quan Thi hành án dân sự huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.

Buộc Lê Kim T2 nộp lại số tiền 945.000 (năm trăm bốn mươi lăm nghìn) đồng; Phạm Minh T4 nộp lại số tiền 2.920.000 (hai triệu chín trăm hai mươi nghìn) đồng là tiền thu lợi bất chính các đối tượng có được từ hành vi đánh bạc.

* Về trách nhiệm dân sự: Không có yêu cầu.

2. Tại phiên tòa bị cáo Đỗ Thị M khai nhận hành vi như Cáo trạng đã truy tố không có ý kiến trình bày thêm, bị cáo xin Hội đồng xét xử phạt bị cáo mức án thấp nhất.

3. Ý kiến tranh luận của ông Châu Chí T1 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Không tranh luận. Kính mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo mức án thấp nhất, và cho bị cáo được hưởng án treo vì bị cáo M sắp đến ngày sinh nở và đang chăm sóc 03 con còn rất nhỏ, kính mong Hội đồng xét xử tạo điều kiện để bị cáo sửa chữa sai lầm, trở thành công dân tốt.

4. Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo đã biết hành vi mình thực hiện là sai, vi phạm pháp luật, bị cáo rất ăn năn, hối hận vì hành vi của mình làm ảnh hưởng đến trật tự địa phương, bị cáo kính mong Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo sinh nở và nuôi 03 con còn rất nhỏ, cho bị cáo có cơ hội lao động, chăm sóc cha mẹ đã lớn tuổi.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, qua phần xét hỏi công khai và tranh luận bị cáo Đỗ Thị M khai nhận thực hiện toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng đã nêu, cụ thể: Ngày 14/7/2024, Đỗ Thị M có hành vi đánh bạc ăn thua bằng tiền bằng hình thức mua bán số đề đài Miền N1 với số tiền dùng vào việc đánh bạc là 1.680.000 đồng; ngày 15/7/2024, tại xã T, huyện H, Đỗ Thị M có hành vi đánh bạc ăn thua bằng tiền bằng hình thức mua bán số đề đài Miền N1 với số tiền dùng vào việc đánh bạc là 5.740.000 đồng; ngày 21/7/2024 Đỗ Thị M có hành vi đánh bạc ăn thua bằng tiền bằng hình thức mua bán số đề đài Miền N1 với số tiền dùng vào việc đánh bạc là 280.000 đồng, đài Miền T5 là 26.000 đồng và đài Miền Bắc là 91.000 đồng; ngày 23/7/2024 M có hành vi đánh bạc ăn thua bằng tiền bằng hình thức mua bán số đề đài Miền N1 với số tiền dùng vào việc đánh bạc là 584.500 đồng, đài Miền T5 là 68.000 đồng và đài Miền Bắc là 21.000 đồng; ngày 24/7/2024 M có hành vi đánh bạc ăn thua bằng tiền bằng hình thức mua bán số đề đài Miền N1 với số tiền dùng vào việc đánh bạc là 101.000 đồng. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các chứng cứ khác thể hiện tại hồ sơ, hành vi thực hiện của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Do đó Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn truy tố bị cáo Đỗ Thị M về tội “Đánh bạc” là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Đối với Châu Chí T1, Lê Quang S2, Bùi Thanh C, Lê Kim T2, Nguyễn Thị Thu S1 có hành vi đánh bạc ăn thua bằng tiền, số tiền dùng đánh bạc dưới 5.000.000 (năm triệu) đồng, không đủ cơ sở xử lý trách nhiệm hình sự nên Công an huyện H đã ra Quyết định xử lý hành chính nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với các đối tượng mua số đề của Đỗ Thị M không rõ lai lịch, Cơ quan Cảnh sát điều tra đang tiến hành xác minh làm rõ, khi có căn cứ vi phạm sẽ xử lý trong vụ án khác.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo M nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, làm ảnh hưởng đến trật tự tại địa phương, là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác trong xã hội, tạo dư luận xấu trong nhân dân, khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo ý thức được hành vi của mình là sai trái, bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vì mục đích thỏa mãn lợi ích của cá nhân, bị cáo vẫn thực hiện hành vi phạm tội. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy cần xử lý bị cáo bằng hình phạt nhằm răn đe, giáo dục đối với bị cáo và đấu tranh, phòng ngừa tội phạm chung cho toàn xã hội.

[4] Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cần xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm trong hành vi và nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để áp dụng mức hình phạt tương xứng. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo Đỗ Thị M phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thời điểm phạm tội bị cáo đang có thai; bị cáo hiện đang nuôi 03 con nhỏ, trẻ lớn nhất sinh năm 2014, nhỏ nhất sinh năm 2020 nên Hội đồng xét xử quyết định áp dụng điểm i, n, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là có căn cứ.

Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ; bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; có nơi cư trú ổn định rõ ràng, ngoài lần phạm tội này bị cáo luôn chấp hành chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của công dân ở địa phương, chấp hành tốt lệnh triệu tập của Cơ quan tiến hành tố tụng. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo M phạm tội thuộc trường hợp tội phạm ít nghiêm trọng, từ khi được tại ngoại đến nay bị cáo không có vi phạm gì, bị cáo có khả năng tự cải và việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo hưởng án treo cũng đủ tác dụng cải tạo, giáo dục, tạo điều kiện để bị cáo sửa chữa sai phạm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, đồng thời thể hiện chính sách khoan hồng của Nhà nước đối với người phạm tội nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Đỗ Thị M có nghề buôn bán, nhưng nguồn thu nhập không ổn định, bị cáo hiện đang có thai, và đang nuôi 03 con nhỏ nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền, không khấu trừ thu nhập để sung quỹ Nhà nước đối với bị cáo theo quy định tại khoản 3 Điều 321 của Bộ luật hình sự là phù hợp;

[5] Xử lý vật chứng:

  • 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax (đã qua sử dụng), có số Imei 1: 354466596603493, Imei 2: 354466596553961;
  • 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo A5-2020 màu xanh, số sê-ri: 55d110e3, Imei 1: 860169041377526, Imei 2: 860169041377526;
  • 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo A60 kiểu máy CPH2631, Ram 8GB, số Imei 867993073631515;
  • 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 15 Promax màu trắng, số máy: MU783VN/A, số sê-ri: JV4FTQGGK3, số Imei 1: 357300546219281, số Imei 2: 357300546015655.

Các vật chứng nêu trên liên quan đến tội phạm, Hội đồng xét xử quyết định tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước là phù hợp.

  • Số tiền 4.704.500 (bốn triệu bảy trăm lẻ bốn nghìn năm trăm) đồng là tiền các đối tượng Lê Kim T2, Nguyễn Thị Thu S1, Phạm Minh T4 và các đối tượng mua lô đề khác (không rõ lai lịch) đã đưa cho bị cáo M để bị cáo ghi số đề nên Hội đồng xét xử buộc bị cáo nộp lại số tiền này vào Ngân sách Nhà nước là đúng quy định;
  • Số tiền 945.000 (chín trăm bốn mươi lăm nghìn) đồng là tiền thu lợi bất chính Lê Kim T2 có được từ việc đánh bạc; và số tiền 2.920.000 (hai triệu chín trăm hai mươi nghìn) đồng là tiền thu lợi bất chính Phạm Minh Trung có được từ việc đánh bạc nên Hội đồng xét xử buộc các đối tượng nộp lại số tiền này vào Ngân sách Nhà nước là đúng quy định;

[6] Trách nhiệm dân sự: Không có yêu cầu, Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

[8] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn về tội danh, hình phạt đối với bị cáo cũng như xử lý vật chứng của vụ án và trách nhiệm dân sự; xem xét ý kiến của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và của bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, n, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2017)

Xử phạt bị cáo Đỗ Thị M 09 (chín) tháng tù về tội “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách đối với bị cáo là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Đỗ Thị M cho Ủy ban nhân dân thị trấn H, huyện H giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

(Bị cáo đã được giải thích về chế định án treo)

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

- Căn cứ Điều 46; khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; khoản 1, khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015

Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước:

  • 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax có số Imei: 354466596603493, Imei 2: 354466596553961 (đã qua sử dụng);
  • 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo A5-2020 màu xanh, số sê-ri: 55d1loe3, Imei 1: 860169041377526, Imei 2: 860169041377526 (đã qua sử dụng);
  • 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo A60 kiểu máy CPH2631, Ram 8GB, số Imei: 867993073631515 (đã qua sử dụng);
  • 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 15 Promax màu trắng, số máy: MU783VN/A, số sê-ri: JV4FTQGGK3, số Imei 1: 357300546219281, số Imei 2: 357300546015655 (đã qua sử dụng).

(Các đồ vật trên được ghi theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 18/12/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn).

  • Buộc bị cáo Đỗ Thị M nộp lại số tiền 4.704.500 (bốn triệu bảy trăm lẻ bốn nghìn năm trăm) đồng vào ngân sách Nhà nước. Nộp tiền tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Buộc Lê Kim T2 nộp lại số tiền 945.000 (chín trăm bốn mươi lăm nghìn) đồng vào ngân sách Nhà nước. Nộp tiền tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Buộc Phạm Minh T4 nộp lại số tiền 2.920.000 (hai triệu chín trăm hai mươi nghìn) đồng vào ngân sách Nhà nước. Nộp tiền tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Căn cứ Điều 135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

Bị cáo Đỗ Thị M phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015

Bị cáo Đỗ Thị M, ông Châu Chí T1 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Bà Nguyễn Thị Thu S1, bà Lê Kim T2 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân TP.Hồ Chí Minh;
  • - Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn;
  • - Cơ quan CSĐT Công an huyện Hóc Môn;
  • - Chi cục THADS huyện Hóc Môn;
  • - Sở Tư pháp TP.Hồ Chí Minh;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thu Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 33/2025/HS-ST ngày 14/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự sơ thẩm về tội đánh bạc

  • Số bản án: 33/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đánh bạc
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger