|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 33/2025/HS-ST Ngày: 11 - 3 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Dũng
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phạm Anh Tuấn
Bà Nguyễn Thị Thu Hương
Thư ký phiên tòa: Ông Trịnh Văn Sơn và bà Trần Thị Hồng Nhung, bà
Trương Thị Thùy Linh – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa:
Bà Đặng Thanh Nga - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 3 năm 2025 tại Toà án nhân dân tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 112/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 129/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 12 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 09 ngày 20-01-2025, đối với các bị cáo:
- Họ tên: Trần Đăng H; Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 20 tháng 8 năm 1981 tại huyện T, tỉnh Hà Nam. Nơi thường trú và nơi ở: Thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Số CMND/Thẻ CCCD/Hộ chiếu: [...] cấp ngày 12/8/2021. Nơi cấp: Cục C5 về TTXH – Bộ C6. Trình độ học vấn: Lớp 6. Nghề nghiệp: Lái xe. Tiền án, tiền sự: Không. Con ông: Trần Đăng T, sinh năm 1954. Con bà: Nguyễn Thị Q, sinh năm 1955. Vợ: Hà Thị C, sinh năm 1985. Bị cáo có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2006, con nhỏ nhất sinh năm 2017. Bị cáo đang thi hành biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, T1 hoãn xuất cảnh. Hiện bị cáo đang tại ngoại.
- Họ tên: Nguyễn Văn H1; Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 12 tháng 7 năm 1991 tại huyện L, tỉnh Hà Nam. Nơi thường trú và nơi ở: Thôn S, xã Đ, huyện L, tỉnh Hà Nam. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Số CMND/Thẻ CCCD/Hộ chiếu: [...] cấp ngày 17/5/2021. Nơi cấp: Cục C5 về TTXH – Bộ C6. Trình độ học vấn: Lớp 12. Nghề nghiệp: Lái xe. Tiền án, tiền sự: Không. Con ông: Nguyễn Văn P, đã chết. Con bà: Vũ Thị C1, sinh năm 1959. Vợ: Vũ Anh T2, sinh năm 1998. Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2016, con nhỏ sinh năm 2018. Bị cáo đang thi hành biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú, T1 hoãn xuất cảnh. Hiện bị cáo đang tại ngoại.
- Họ tên: Nguyễn Văn T3; Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 15 tháng 7 năm 1985 tại huyện L, tỉnh Hà Nam. Nơi thường trú và nơi ở: Thôn V, xã N, huyện L, tỉnh Hà Nam. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Số CMND/Thẻ CCCD/Hộ chiếu: [...] cấp ngày 22/12/2021. Nơi cấp: Cục C5 về TTXH – Bộ C6. Trình độ học vấn: Lớp 7. Nghề nghiệp: Lái xe. Tiền án, tiền sự: Không. Con ông: Nguyễn Văn H2, đã chết. Con bà: Nguyễn Thị L, sinh năm 1954. Vợ: Phạm Thị H3, sinh năm 1986. Bị cáo có 04 con, con lớn nhất sinh năm 2012, con nhỏ nhất sinh năm 2022. Bị cáo đang thi hành biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú, T1 hoãn xuất cảnh. Hiện bị cáo đang tại ngoại.
- Họ tên: Trần Văn T4; Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 08 tháng 8 năm 1967 tại huyện L, tỉnh Hà Nam. Nơi thường trú và nơi ở: Thôn L, xã P, huyện L, tỉnh Hà Nam. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Số CMND/Thẻ CCCD/Hộ chiếu: [...] cấp ngày 11/8/2021. Nơi cấp: Cục C5 về TTXH – Bộ C6. Trình độ học vấn: Lớp 12. Nghề nghiệp: Kinh doanh vận tải. Tiền án, tiền sự: Không. Con ông: Trần Doãn Đ, đã chết. Con bà: Trần Thị G, đã chết. Vợ: Trần Thị Y, sinh năm 1980. Bị cáo có 04 con, con lớn nhất sinh năm 2002, con nhỏ nhất sinh năm 2013. Bị cáo đang thi hành biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú, T1 hoãn xuất cảnh. Hiện bị cáo đang tại ngoại.
- Họ tên: Đinh Trọng T5; Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 21 tháng 4 năm 1989 tại thị xã D, tỉnh Hà Nam. Nơi thường trú và nơi ở: Thôn N, xã T, thị xã D, tỉnh Hà Nam. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Số CMND/Thẻ CCCD/Hộ chiếu: [...] cấp ngày 24/6/2021. Nơi cấp: Cục C5 về TTXH – Bộ C6. Trình độ học vấn: Lớp 12. Nghề nghiệp: Kinh doanh vận tải. Tiền án, tiền sự: Không. Con ông: Đinh Trọng T6, sinh năm 1964. Con bà: Lê Thị M, sinh năm 1967. Vợ: Phạm Thị H4, sinh năm 1990. Bị cáo có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2014, con nhỏ nhất sinh năm 2018. Bị cáo đang thi hành biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú, T1 hoãn xuất cảnh. Hiện bị cáo đang tại ngoại.
- Họ tên: Nguyễn Quốc Đ1; Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 17 tháng 6 năm 1985 tại xã Đ, P, thành phố Hà Nội. Nơi thường trú và nơi ở: Thôn K, xã Đ, huyện P, thành phố Hà Nội. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Số CMND/Thẻ CCCD/Hộ chiếu: [...] cấp ngày 24/7/2021. Nơi cấp: Cục C5 về TTXH – Bộ C6. Trình độ học vấn: Lớp 10. Nghề nghiệp: Lái xe. Tiền án, tiền sự: Không. Con ông: Nguyễn Quốc C2, sinh năm 1958. Con bà: Nguyễn Thị T7, sinh năm 1957. Vợ: Nguyễn Thị Đ2, sinh năm 1987. Bị cáo có 05 con, con lớn nhất sinh năm 2007, con nhỏ nhất sinh năm 2023. Bị cáo đang thi hành biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú, T1 hoãn xuất cảnh. Hiện bị cáo đang tại ngoại.
- Họ tên: Nguyễn Văn M1; Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 26 tháng 10 năm 1964 tại huyện L, tỉnh Hà Nam. Nơi thường trú: Thôn S, xã Đ, huyện L, tỉnh Hà Nam. Nơi ở hiện tại: Thôn V, xã Đ, huyện L, tỉnh Hà Nam. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Số CMND/Thẻ CCCD/Hộ chiếu: [...] cấp ngày 16/12/2021. Nơi cấp: Cục C5 về TTXH – Bộ C6. Trình độ học vấn: Lớp 7. Nghề nghiệp: Kinh doanh vận tải. Tiền án, tiền sự: Không. Con ông: Nguyễn Văn T8, đã chết. Con bà: Vũ Thị M2, đã chết. Vợ: Vũ Thị D, sinh năm 1974. Bị cáo có 03 con, con lớn nhất sinh năm 1993, con nhỏ nhất sinh năm 2003. Bị cáo đang thi hành biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú, T1 hoãn xuất cảnh. Hiện bị cáo đang tại ngoại.
- Họ tên: Bùi Quang V; Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 02 tháng 12 năm 1985 tại huyện Ý, tỉnh Nam Định. Nơi thường trú và nơi ở: Thôn F, xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định. Nay là xã H, huyện Ý, tỉnh Nam Định. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh ; Tôn giáo: Không. Số CMND/Thẻ CCCD/Hộ chiếu: [...] cấp ngày 13/8/2021. Nơi cấp: Cục C5 về TTXH – Bộ C6. Trình độ học vấn: Lớp 12. Nghề nghiệp: Kinh doanh vận tải. Tiền án, tiền sự: Không. Con ông: Bùi Xuân L1, sinh năm 1957. Con bà: Phạm Thị B, sinh năm 1959. Vợ: Đinh Thị Hồng G1, sinh năm 1991. Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2019, con nhỏ sinh năm 2021. Bị cáo đang thi hành biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú, T1 hoãn xuất cảnh. Hiện bị cáo đang tại ngoại.
Các bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người làm chứng: Chị Vũ Thị D, chị Trần Thị Y, chị Nguyễn Thị M3, anh Trần Văn N, anh Đinh Công G2, anh Trịnh Ngọc K, anh Nguyễn Xuân C3, ông Nguyễn Văn H5. (Chị D, chị Y có mặt ).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trong vụ án “Nhận hối lộ” và “Môi giới hối lộ” xảy ra tại Trung tâm đăng kiểm 18-02D do CQĐT – Công an tỉnh N khởi tố ngày 25/1/2023. Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định đã xét xử sơ thẩm ngày 27-9-2023 và Tòa án cấp cao tại Hà Nội đã xét xử phúc thẩm ngày 28-3-2024.
Kết thúc vụ án, một số nội dung được tách ra để tiếp tục làm rõ. Cụ thể:
- Đối với Lê Khắc Đ3 là nhân viên dán tem, Lê Anh T9, Lê Thị Huyền T10 là người đứng đầu Trung tâm: do chưa có căn cứ làm rõ hành vi có liên quan và ý thức chủ quan trong việc thực hiện nhiệm vụ, quản lý điều hành nên tách ra để tiếp tục xác minh, xử lý theo quy định.
- Đối với hành vi nhận tiền của Vũ Tuấn H6, Nguyễn Mạnh Đ4 là các đăng kiểm viên tham gia vào công đoạn đăng kiểm: chưa có căn cứ làm rõ ý thức chủ quan của H6, Đ4 khi nhận số tiền này nên tách ra để tiếp tục xác minh, xử lý.
- Đối với các chủ phương tiện, lái xe đã đưa tiền: Do hành vi sai phạm có tính phổ biến được phát hiện ở nhiều vụ án liên quan đến đăng kiểm trên toàn quốc, việc xử lý ảnh hưởng đến tình hình xã hội nên tách ra để tiếp tục xác minh, xử lý theo quy định.
Ngày 24/1/2024, CQĐT đã thụ lý và tiếp tục xác minh những nội dung tách ra nêu trên. Kết quả xác định: Trong các năm 2021 và 2022, Nguyễn Văn H1, sinh năm 1991, trú tại xã Đ, huyện L, tỉnh Hà Nam; Nguyễn Văn M1, sinh năm 1964, trú tại xã Đ, huyện L, tỉnh Hà Nam; Nguyễn Văn T3, sinh năm 1985, trú tại thôn V, xã N, huyện L, tỉnh Hà Nam; Trần Văn T4, sinh năm 1967, trú tại thôn L, xã P, huyện L, tỉnh Hà Nam; Trần Đăng H, sinh 1981, trú tại thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam; Đinh Trọng T5, sinh năm 1989, trú tại thôn N, xã T, thị xã D, tỉnh Hà Nam; Nguyễn Quốc Đ1, sinh năm 1985, trú tại thôn K, xã Đ, huyện P, thành phố Hà Nội; Bùi Quang V, sinh năm 1985, trú tại thôn F, xã H, huyện Ý, tỉnh Nam Định là chủ xe và lái xe biết Dương Đình N1, sinh năm 1987 ở M, M làm nghề sửa xe ô tô và là chủ gara ô tô P1, địa chỉ: Quốc lộ A, xã M, huyện M, tỉnh Nam Định có thể giúp làm thủ tục đăng kiểm để được cấp Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường đối với các xe ô tô tải có lỗi vi phạm cơi nới kích thước thành thùng hàng, xe lắp bạt điện không đủ điều kiện theo quy định nên đã liên hệ, thỏa thuận đưa tiền hối lộ cho Dương Đình N1 để N1 đưa cho các đăng kiểm viên của Trung tâm Đ5 khi kiểm định để được bỏ qua các lỗi vi phạm cơi nới kích thước thành thùng hàng, lắp bạt điện, còi hơi, cơi thủy lực... đối với các xe ô tô tải, sơ mi rơ moóc không đủ điều kiện và được cấp giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường. Cụ thể như sau:
- Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Văn H1 khi đăng kiểm xe biển số 90C-052.70 và của Nguyễn Văn H1, Nguyễn Văn M1khi đăng kiểm xe biển số 90C-075.33:
- Việc đăng kiểm xe biển số 90C-052.70 của Nguyễn Văn H1: Nguyễn Văn H1 là chủ sở hữu của xe ô tô tải biển số 90C-052.70, hiện trạng phương tiện được cơi nới kích thước thành thùng hàng (phần đuôi thùng xe) cao hơn so với nguyên bản 10 cm, xe lắp bạt điện, cơi thủy lực. Nguyễn Văn H1 đã liên hệ, thỏa thuận đưa tiền cho Dương Đình N1 môi giới hối lộ để khi kiểm định được bỏ qua lỗi vi phạm của phương tiện. Ngày 29/4/2022 Nguyễn Văn H1 điều khiển xe ô tô biển số 90C-052.70 đến Trung tâm Đ5 giao xe cho Dương Đình N1 làm các thủ tục nộp hồ sơ đưa phương tiện vào kiểm định. Sau khi kiểm định và Trung tâm Đ5 cấp giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường cho phương tiện, cùng ngày Nguyễn Văn H1 đã thanh toán chuyển khoản trả cho Dương Đình N1 số tiền 15.200.000 đồng từ số tài khoản của H1 (số tài khoản 100869679584) đến số tài khoản của Dương Đình N1 (số tài khoản 107514738888). Trong tổng số tiền 15.200.000 đồng sau khi trừ phí bảo trì đường bộ là 10.975.000 đồng, phí kiểm định là 343.636 đồng, lệ phí cấp gấy chứng nhận là 25.000 đồng, còn lại số tiền 3.856.364 đồng là tiền bôi trơn hối lộ để khi kiểm định được bỏ qua lỗi vi phạm của phương tiện.
- Việc đăng kiểm xe ô tô biển số 90C-075.33 của Nguyễn Văn H1, Nguyễn Văn M1: Ngày 28/11/2022 bị cáo Nguyễn Văn H1 là lái xe thuê cho bị cáo Nguyễn Văn M1, địa chỉ: Thôn V, xã Đ, huyện L, tỉnh Hà Nam là người đứng tên đăng ký chủ sở hữu xe ô tô biển số 90C-075.33; hiện trạng phương tiện có lỗi vi phạm cơi nới kích thước thành thùng hàng khoảng 20cm so với nguyên bản, xe lắp cơi lật. Sáng ngày 28/11/2022, Nguyễn Văn H1 điện thoại cho Nguyễn Văn M1 thông báo xe ô tô biển kiểm soát 90C-075.33 đến thời hạn phải kiểm định, khi đó bị cáo M1 nói với Nguyễn Văn H1 liên hệ đưa xe đi kiểm định mà không phải sửa chữa, cắt bỏ phần vi phạm cơi nới, không phải tháo bỏ bạt điện. Nguyễn Văn H1 nói với bị cáo M1 là nhờ Dương Đình N1 giúp để khi kiểm định được bỏ qua lỗi vi phạm của xe ô tô biển số 90C-075.33, M1 đồng ý. Do trước đó một số lần Nguyễn Văn H1 liên hệ, thỏa thuận đưa tiền cho Dương Đình N1 môi giới hối lộ để khi kiểm định được bỏ qua lỗi vi phạm của phương tiện, vì vậy Nguyễn Văn H1 đã điều khiển xe ô tô biển số 90C-075.33 đến gặp Dương Đình N1 để liên hệ nhờ N1 giúp đăng kiểm bỏ qua lỗi vi phạm cơi nới kích thước thành thùng hàng của xe ô tô biển số 90C-075.33. Sau khi xem hiện trạng phương tiện, Dương Đình N1 nói tổng chi phí đăng kiểm xe hết số tiền khoảng 15.000.000 đồng, trong đó có chi phí bôi trơn hối lộ để khi kiểm định được bỏ qua lỗi vi phạm của phương tiện. Khi đó Nguyễn Văn H1 đã gọi điện thoại cho bị cáo Nguyễn Văn M1 để Dương Đình N1 nói chuyện với bị cáo Nguyễn Văn M1 thống nhất về chi phí đăng kiểm xe: Ngoài các khoản phí, lệ phí phải nộp cho Trung tâm đăng kiểm theo quy định (phí bảo trì đường bộ, phí kiểm định, lệ phí cấp giấy chứng nhận kiểm định) thì bị cáo M1 phải đưa thêm cho Dương Đình N1 số tiền hơn 02 triệu đồng là chi phí bôi trơn hối lộ để khi kiểm định được bỏ qua lỗi vi phạm của phương tiện. Sau đó Nguyễn Văn H1 điều khiển xe ô tô biển số 90C-075.33 đến Trung tâm Đ5 giao xe cho Dương Đình N1 để N1 làm các thủ tục nộp hồ sơ đưa phương tiện vào Trung tâm kiểm định. Sau khi Trung tâm Đ5 kiểm định và cấp giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường cho xe ô tô biển số 90C-075.33, Dương Đình N1 thông báo tổng chi phí đăng kiểm xe hết số tiền 15.000.000 đồng, trong đó có số tiền 2.542.545 đồng là chi phí bôi trơn hối lộ để khi kiểm định được bỏ qua lỗi vi phạm của phương tiện. Khoảng hơn 14 giờ ngày 28/11/2022, Dương Đình N1 gọi điện và nhắn tin đến số điện thoại 0917.148.xxx của bị cáo M1 thông báo đã đăng kiểm xong xe ô tô biển số 90C-075.33, tổng số tiền bị cáo M1 phải thanh toán cho N1 là 15 triệu đồng, trong đó có số tiền 2.542.545 đồng là chi phí bôi trơn hối lộ để khi kiểm định được bỏ qua lỗi vi phạm của phương tiện. Dương Đình N1 nhắn tin cho bị cáo M1 số tài khoản của N1 để bị cáo M1 thanh toán trả tiền. Khi đó bị cáo M1 nói với vợ là bà Vũ Thị D thanh toán chuyển trả số tiền 15.000.000 đồng vào số tài khoản 107514738888 của Dương Đình N1.
- Ngoài ra bị cáo Nguyễn Văn H1 còn khai nhận bị cáo đã đưa cho Dương Đình N1 số tiền mặt khoảng 02 triệu đồng là chi phí bôi trơn hối lộ để khi đăng kiểm được bỏ qua lỗi vi phạm cơi nới kích thước thành thùng hàng, lắp bạt điện, cơi thủy lực của xe ô tô biển số 90C-052.70 vào ngày 06/5/2021. Tuy nhiên, Dương Đình N1 khai không nhận tiền hối lộ và môi giới hối lộ ở lần đăng kiểm này; Cơ quan điều tra không đủ tài liệu, căn cứ để xác định số tiền đưa hối lộ khi kiểm định xe ô tô biển số 90C-052.70 vào ngày 06/5/2021.
- Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Văn T3.
- Hành vi phạm tội của bị cáo Trần Văn T4.
- Tổng chi phí đăng kiểm 02 xe với số tiền: 32.386.000 đồng (gồm phí bảo trì đường bộ, phí kiểm định, lệ phí cấp giấy chứng nhận và chi phí ngoài để kiểm định bỏ qua lỗi vi phạm của phương tiện). Trong đó phí bảo trì đường bộ là 12.293.000 đồng/01 xe (tổng hai xe là 24.586.000 đồng)
- Dương Đình N1 nhắn tin cho T4 số tài khoản của N1: 107514738888 Ngân hàng V1
- Hành vi phạm tội của bị cáo Trần Đăng H.
- Nộp phí bảo trì đường bộ là: 9.014.000 đồng
- Nộp phí kiểm định xe là: 343.636 đồng
- Nộp lệ phí cấp giấy chứng nhận kiểm định là: 25.000 đồng
- Trả tiền mua định vị xe là: 1.800.000 đồng
- Còn lại số tiền: 3.961.364 đồng là tiền đưa hối lộ để khi kiểm định được bỏ qua lỗi vi phạm cơi nới kích thước thành thùng hàng, lắp bạt điện của phương tiện
- Hành vi phạm tội của bị cáo Đinh Trọng T5.
- Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Quốc Đ1.
- Hành vi phạm tội của bị cáo Bùi Quang V.
Nguyễn Văn T3 là chủ sở hữu đứng tên đăng ký xe ô tô biển số 90C-055.83. Tại thời điểm đăng kiểm xe vào ngày 24/6/2022, hiện trạng phương tiện được cơi nới kích thước thành thùng hàng cao khoảng 20cm, phần đuôi thùng hàng nới dài khoảng 30 cm so với xe nguyên bản, lắp thêm 02 cánh bạt điện.
Ngày 23/6/2022 do xe ô tô biển số 90C-055.83 đến thời hạn kiểm định, Nguyễn Văn T3 sử dụng điện thoại số thuê bao 0988.517.xxx gọi điện cho Dương Đình N1 liên hệ, trao đổi và T3 nhờ N1 làm thủ tục đăng kiểm để được bỏ qua lỗi vi phạm cơi nới kích thước thành thùng hàng cao khoảng 20cm, phần đuôi thùng hàng nới dài khoảng 30 cm so với xe nguyên bản, lắp thêm 02 cánh bạt điện đối với xe ô tô biển số 90C-055.83. Sau khi thỏa thuận, Nguyễn Văn T3 và Dương Đình N1 thống nhất về chi phí đăng kiểm xe như sau: Ngoài các khoản phí, lệ phí phải nộp cho Trung tâm đăng kiểm theo quy định (phí bảo trì đường bộ, phí kiểm định, lệ phí cấp giấy chứng nhận kiểm định), T3 phải đưa thêm cho N1 số tiền khoảng 03 triệu đồng là chi phí bôi trơn hối lộ để khi kiểm định Trung tâm đăng kiểm sẽ bỏ qua các lỗi vi phạm của phương tiện. Cả hai thống nhất sáng ngày 24/6/2022 T3 giao xe ô tô biển số 90C-055.83 cho N1 tại thành phố N để N1 đưa xe đi kiểm định. Chiều cùng ngày 23/6/2022 Nguyễn Văn T3 gặp anh Nguyễn Xuân C3 (là lái xe thuê), T3 đưa cho anh C3 số điện thoại của Dương Đình N1 để liên lạc và giao nhiệm vụ cho anh C3 vào sáng ngày 24/6/2022 điều khiển xe ô tô biển số 90C-055.83 đến thành phố N giao xe cho anh N1 đưa đi kiểm định.
Khoảng 06 giờ sáng ngày 24/6/2022, Nguyễn Xuân C3 một mình điều khiển xe ô tô biển số 90C-055.83 đến thành phố N gặp Dương Đình N1 để giao xe cho N1 đưa đi kiểm định. Khoảng 08 giờ cùng ngày, Dương Đình N1 gọi điện cho Nguyễn Văn T3 thông báo đã làm thủ tục đăng kiểm xong đối với xe ô tô biển số 90C-055.83, Nam thông báo tổng chi phí đăng kiểm xe với số tiền 14.718.000 đồng, trong đó có số tiền 3.131.364 đồng là chi phí bôi trơn hối lộ để khi kiểm định được bỏ qua lỗi vi phạm cơi nới kích thước thành thùng hàng, lắp bạt điện của phương tiện. N1 gửi cho T3 số tài khoản của N1 là 107514738888 để T3 thanh toán trả tiền. Cùng ngày 24/6/2022 Nguyễn Văn T3 đã chuyển khoản cho Dương Đình N1 số tiền 14.718.000 đồng từ tài khoản của T3 (số tài khoản 103078032).
Bị cáo Trần Văn T4 là chủ sở hữu đối với các xe ô tô tải biển số 90C-063.22, 90C-089.02. Trần Văn T4 không trực tiếp lái xe mà thuê lái xe là anh Trần Văn N, anh Lê Văn G3 hàng ngày lái xe chở vật liệu xây dựng cho bị cáo. Khi các xe sắp đến thời hạn phải kiểm định, Trần Văn N nói với Trần Văn T4 có quen biết với anh Dương Đình N1 ở tỉnh Nam Định đăng kiểm được các xe ô tô tải có lỗi vi phạm cơi nới kích thước thành thùng xe mà khi kiểm định không phải sửa chữa, cắt bỏ phần vi phạm cơi nới, anh N cho Trần Văn T4 số điện thoại của Dương Đình N1 (số thuê bao là 0976565309) để bị cáo T4 liên hệ nhờ N1 giúp đăng kiểm bỏ qua lỗi vi phạm của hai xe ô tô biển số 90C-063.22, 90C-089.02.
Khoảng hơn 11 giờ ngày 23/3/2022 Trần Văn T4 sử dụng ứng dụng Zalo trên điện thoại của bị cáo để gửi hình ảnh phương tiện xe ô tô biển số 90C-063.22 đến Zalo điện thoại của Dương Đình N1 và sau đó bị cáo T4 gọi điện cho N1. Qua điện thoại bị cáo T4 nói với N1 về hiện trạng hai xe ô tô biển số 90C-063.22, 90C-089.02 của bị cáo có lỗi vi phạm cơi nới kích thước thành thùng hàng, xe lắp bạt điện, Trần Văn T4 nhờ Dương Đình N1 giúp bị cáo đăng kiểm hai phương tiện này mà không phải cắt bỏ phần vi phạm cơi nới, không phải tháo bạt điện. Khi đó Dương Đình N1 nói với bị cáo về chi phí đăng kiểm xe như sau: Ngoài các khoản chi phí phải nộp theo định (phí bảo trì đường bộ, phí kiểm định, lệ phí cấp giấy chứng nhận) thì chi phí bôi trơn, hối lộ để khi kiểm định được bỏ qua lỗi vi phạm của phương tiện khoảng 02 triệu đồng đến 03 triệu đồng/xe, Trần Văn T4 đồng ý. Sau khi thỏa thuận, thống nhất với N1 về việc đăng kiểm xe, buổi chiều ngày 23/3/2022 bị cáo T4 giao cho anh Trần Văn N lái xe ô tô biển số 90C-089.02, anh Lê Văn G3 lái xe ô tô biển số 90C-063.22 xuống thành phố N gặp anh Dương Đình N1 để giao xe cho anh N1 làm các thủ tục đăng kiểm bỏ qua lỗi vi phạm của phương tiện. Sau khi Trung tâm Đ5 cấp giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường cho hai phương tiện, khoảng hơn 17 giờ ngày 23/3/2022 Dương Đình N1 nhắn tin qua điện thoại cho Trần Văn T4 với nội dung:
Ngay sau đó Trần Văn T4 nói với vợ là bà Trần Thị Y thanh toán chuyển khoản đến số tài khoản107514738888 của Dương Đình N1 số tiền là 32.400.000 đồng, trong đó có số tiền 7.076.728 đồng là tiền phí bôi trơn, hối lộ để khi kiểm định được bỏ qua lỗi vi phạm của hai phương tiện xe ô tô biển số 90C-063.22, 90C-089.02.
Bị cáo Trần Đăng H là lái xe thuê cho ông Nguyễn Văn H5 – Giám đốc Công ty TNHH T12, địa chỉ: Khu đô thị S, thành phố P, tỉnh Hà Nam. Trần Đăng H được ông H5 giao nhiệm vụ liên hệ, thỏa thuận đưa các xe ô tô biển số 90C-039.67, 90C-052.87, 90H-017.34 đến tỉnh Nam Định để đăng kiểm vào ngày 17/01/2022 và ngày 28/4/2022.
Hiện trạng các xe ô tô biển kiểm soát 90C-039.67, 90C-052.87, 90H-017.34 tại thời điểm kiểm định đều có lỗi vi phạm cơi nới kích thước thành thùng hàng, lắp bạt điện, hiện trạng thay đổi kết cấu không đúng với xe nguyên bản. Sáng ngày 17/01/2022, H sử dụng điện thoại số thuê bao 0981.521.xxx gọi điện cho Dương Đình N1 (số T). Qua điện thoại, H nói với N1 về hiện trạng xe ô tô biển số 90C-039.67 đã thay đổi kết cấu so với nguyên bản, xe được cơi nới kích thước thành thùng hàng thêm khoảng 30cm, lắp thêm cơi lật 02 bên thành xe; hiện trạng xe ô tô biển số 90C-052.87 đã thay đổi kết cấu so với nguyên bản, xe được cơi nới kích thước thành thùng hàng cao thêm khoảng 30cm, lắp thêm bạt điện. H đề nghị N1 giúp làm thủ tục cấp giấy chứng nhận kiểm định đối với hai phương tiện mà không phải sửa chữa, cắt bỏ phần vi phạm cơi nới, N1 đồng ý và nói với H chi phí bôi trơn hối lộ để khi kiểm định được bỏ qua lỗi vi phạm của phương tiện là 3.500.000 đồng/xe. Sau khi điện thoại báo cáo và được sự đồng ý của chủ xe là ông Nguyễn Văn H5, bị cáo Trần Đăng H gọi điện cho Dương Đình N1 để thông báo đưa xe xuống Trung tâm đăng kiểm xe cơ giới Đ5 giao cho N1 làm các thủ tục kiểm định phương tiện như đã thỏa thuận. Khoảng hơn 10 giờ sáng ngày 17/01/2022, Trần Đăng H trực tiếp điều khiển xe ô tô biển số 90C-039.67 chở theo ông Nguyễn Văn K1 (ông K1 là chú ruột của Nguyễn Văn H5), anh Đinh Công G2 trực tiếp điều khiển xe ô tô biển số 90C-052.87 đến Trung tâm Đ5 và giao xe cho Dương Đình N1 làm thủ tục đưa vào Trung tâm kiểm định. Khoảng 11 giờ 50 phút cùng ngày Trung tâm Đ5 cấp giấy chứng nhận kiểm định mới cho 02 phương tiện, Dương Đình N1 thông báo các khoản chi phí đưa N1 gồm: Các khoản phí, lệ phí phải nộp cho Trung tâm theo quy định (Phí kiểm định, phí bảo trì đường bộ, lệ phí cấp giấy chứng nhận kiểm định) và số tiền 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng) là chi phí bôi trơn hối lộ để khi kiểm định được bỏ qua lỗi vi phạm của hai phương tiện. Ông Nguyễn Văn K1 là người trực tiếp thanh toán số tiền này cho N1 bằng tiền mặt.
- Về việc đăng kiểm xe ô tô biển số 90H-017.34 vào ngày 28/4/2022:
Tương tự như việc đăng kiểm hai xe ô tô biển số 90C-039.67, 90C-052.87 vào ngày 17/01/2022, Trần Đăng H trực tiếp điện thoại liên hệ, thỏa thuận đưa tiền hối lộ cho Dương Đình N1 để khi kiểm định được bỏ qua lỗi vi phạm cơi nới kích thước thành thùng hàng, lắp bạt điện của xe ô tô biển số 90H-017.34.
Sáng ngày 28/4/2022, H điều khiển xe ô tô biển số 90H-017.34 đến Trung tâm Đ5 giao xe cho Dương Đình N1 làm thủ tục đưa vào kiểm định. Sau khi Trung tâm Đ5 kiểm định xong và xe được cấp giấy chứng nhận kiểm định mới, Dương Đình N1 thông báo với Trần Đăng H chi phí đăng kiểm xe hết số tiền 15.144.000 đồng (Mười năm triệu một trăm bốn mươi bốn ngàn đồng), trong đó:
Trần Đăng H đã điện thoại cho Nguyễn Văn H5 thông báo chi phí đăng kiểm xe hết số tiền 15.144.000 đồng và cung cấp số tài khoản của Dương Đình N1 cho H5 thanh toán trả tiền. Cùng ngày 28/4/2022 Nguyễn Văn H5 đã chuyển khoản số tiền 15.144.000 đồng đến số tài khoản 107514738888 của Dương Đình N1, trong đó có số tiền 3.961.364 đồng là tiền đưa hối lộ để đăng kiểm phương tiện.
Đinh Trọng T5 là chủ sở hữu đứng tên đăng ký xe ô tô biển số 90C-028.07. Tại thời điểm ngày 22/6/2022, hiện trạng xe ô tô biển số 90C-028.07 có lỗi vi phạm cơi nới kích thước thành thùng hàng cao thêm khoảng 60cm so với nguyên bản, xe lắp bạt điện. Khi sắp đến thời hạn kiểm định, Đinh Trọng T5 đã liên hệ nhờ Dương Đình N1 giúp đăng kiểm xe mà không phải sửa chữa, cắt bỏ phần vi phạm cơi nới.
Trước khi đưa xe xuống Nam Định đăng kiểm, Đinh Trọng T5 sử dụng số thuê bao điện thoại 0963.903.xxx gọi cho Dương Đình N1 qua số điện thoại của N1 là 0976565309. Qua điện thoại, T5 nói với N1 về hiện trạng xe ô tô biển số 90C-028.07 có lỗi vi phạm đã thay đổi kết cấu, cơi nới thành thùng xe cao thêm khoảng 60cm so với nguyên bản và lắp bạt điện hai bên thành xe. T5 nhờ N1 giúp đăng kiểm xe mà không phải sửa chữa, cắt bỏ phần vi phạm cơi nới, N1 đồng ý. Sau khi thỏa thuận, T5 và N1 thống nhất về chi phí đăng kiểm xe như sau: Ngoài các khoản phí, lệ phí phải nộp cho Trung tâm đăng kiểm theo quy định (Phí bảo trì đường bộ, phí kiểm định, lệ phí cấp giấy chứng nhận kiểm định), T5 phải đưa thêm cho N1 số tiền khoảng 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng) là chi phí bôi trơn hối lộ để khi kiểm định được bỏ qua lỗi vi phạm của phương tiện. Nam hẹn T5 sáng ngày 22/6/2022 đưa xe ô tô biển số 90C-028.07 đến Trung tâm Đ5 để N1 làm thủ tục đưa xe vào kiểm định.
Sáng ngày 22/6/2022, Đinh Trọng T5 điều kiển xe ô tô biển số 90C-028.07 đi từ Hà Nam đến Trung tâm Đ5 gặp Dương Đình N1. Do đã thỏa thuận, thống nhất từ trước, T5 giao xe và đưa giấy tờ xe cho Dương Đình N1 để N1 làm thủ tục nộp hồ sơ, đưa xe vào kiểm định. Khoảng 30 phút sau phương tiện được kiểm định xong, N1 giao lại xe ô tô biển số 90C-028.07 cho T5 cùng giấy chứng nhận kiểm định mới. N1 nói với T5 tổng chi phí đăng kiểm xe hết số tiền là 8.200.000 đồng (Tám triệu hai trăm ngàn đồng), trong đó có số tiền 3.223.364 đồng là chi phí bôi trơn hối lộ để khi kiểm định được bỏ qua lỗi vi phạm của xe. Dương Đình N1 đưa cho T5 số tài khoản của N1 và bảo T5 thanh toán chuyển khoản cho N1 số tiền 8.200.000 đồng. Khoảng 10 giờ ngày 22/6/2022, Trung chuyển khoản cho N1 số tiền 8.200.000 đồng từ tài khoản của T5 (số tài khoản 0591000276810) đến tài khoản của N1 (số tài khoản 107514738888).
Nguyễn Quốc Đ1 là chủ sở hữu xe sơ mi rơ moóc biển đăng ký 29R-510.19. Tại thời điểm ngày 17/10/2022, xe sơ mi rơ moóc biển đăng ký 29R-510.19 có lỗi vi phạm lắp thêm hệ thống nâng, hạ thùng container bằng thủy lực.
Do hoạt động kinh doanh vận tải, Nguyễn Quốc Đ1 được bạn bè giới thiệu và cho số điện thoại của Dương Đình N1 (Nam có số điện thoại 0976.565.xxx) để liên hệ nhờ N1 giúp kiểm định bỏ qua lỗi vi phạm của xe sơ mi rơ mooc biển đăng ký 29R-510.19. Trước khi đưa xe xuống Nam Định đăng kiểm, Nguyễn Quốc Đ1 sử dụng số thuê bao 0965.916.267 gọi điện cho Dương Đình N1 và được N1 hướng dẫn đưa phương tiện đến Trung tâm Đ5 để N1 giúp kiểm định bỏ qua lỗi vi phạm của phương tiện. Ngày 17/10/2022, Nguyễn Quốc Đ1 điều kiển xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 29H-834.26 kéo theo sơ mi rơ moóc biển đăng ký 29R-510.19 đi từ xã Đ, huyện P, thành phố Hà Nội đến Trung tâm Đ5 gặp Dương Đình N1. Sau khi xem đặc điểm, hiện trạng xe sơ mi rơ mooc biển đăng ký 29R-510.19, Đ1 và N1 thỏa thuận, thống nhất Đ1 đưa cho N1 số tiền 5.000.000 đồng để Nam môi giới hối lộ Trung tâm Đ5 kiểm định bỏ qua lỗi vi phạm lắp thêm hệ thống nâng, hạ thùng container bằng thủy lực. Khi Trung tâm Đ5 kiểm định xong và phương tiện được cấp giấy chứng nhận kiểm định mới, Đ1 đã thanh toán chuyển khoản cho Dương Đình N1 số tiền 5.000.000 đồng qua số tài khoản 107514738888 của N1.
Sau khi xe sơ mi rơ mooc biển đăng ký 29R-510.19 được Trung tâm Đ5 cấp giấy chứng nhận kiểm định, Nguyễn Quốc Đ1 sử dụng xe này để vận chuyển hàng hóa (cát) từ Thanh Hóa về Hà Nội. Ngày 06/7/2023, Đ1 điều kiển phương tiện từ Hà Nội vào Quảng Trị và sang Lào (qua Cửa khẩu Quốc tế L2, Quảng Trị) để vận chuyển hàng hóa. Đến ngày 09/7/2023, trên đường điều kiển xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 29H-834.26 kéo theo sơ mi rơ moóc biển đăng ký 29R-510.19 vận chuyển than từ Lào về Việt Nam qua cửa khẩu Quốc tế L2 thì bị lực lượng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Q phát hiện, dừng, kiểm tra, lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi “tự ý lắp đặt thêm cơ cấu nâng, hạ thùng container trên xe sơ mi rơ mooc biển đăng ký 29R-510.19”. Nguyễn Quốc Đ1 bị Công an tỉnh Q yêu cầu cắt bỏ toàn bộ hệ thống cơ cấu nâng, hạ container trên xe sơ mi rơ mooc 29R-510.19 để đưa hiện trạng xe về nguyên bản. Công an tỉnh Q xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Quốc Đ1 với số tiền là 7.000.000 đồng.
Vào năm 2021 và năm 2022, Bùi Quang V là Giám đốc Công ty TNHH Đ6, chủ sở hữu các xe ô tô biển kiểm soát: 90C-069.09, 90C-095.00, 29H-363.07, 18H-015.10. Khi các phương tiện sắp đến thời hạn kiểm định, bị cáo V đã liên hệ với anh Dương Đình N1 qua điện thoại hoặc gặp trực tiếp. V nói với Dương Đình N1 về hiện trạng các xe ô tô có lỗi vi phạm như cơi nới kích thước thành thùng hàng, lỗi vi phạm lắp bạt điện, còi hơi, giá để đồ trên nóc cabin và đề nghị Dương Đình N1 giúp đưa xe đi kiểm định mà không phải cắt bỏ phần vi phạm cơi nới kích thước thành thùng hàng, không phải tháo bỏ bạt điện và khi kiểm định được bỏ qua các lỗi vi phạm khác của phương tiện, N1 đồng ý. Về chi phí đăng kiểm xe N1 và V thống nhất như sau: Ngoài các khoản phí, lệ phí phải nộp cho Trung tâm đăng kiểm theo quy định (gồm phí bảo trì đường bộ, phí kiểm định, lệ phí cấp giấy chứng nhận kiểm định) thì V phải đưa cho N1 số tiền từ 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) đến trên 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng) là chi phí để N1 môi giới, hối lộ đăng kiểm viên để khi kiểm định được bỏ qua các lỗi vi phạm của phương tiện (tùy theo lỗi vi phạm của xe nhiều hay ít). Bùi Quang Vhẹn Dương Đình N1 về thời gian đưa xe đến Trung tâm Đ5 để anh N1 môi giới hối lộ Trung tâm Đ5 kiểm định bỏ qua lỗi vi phạm của phương tiện. Sau đó V giao cho các lái xe có nhiệm vụ điều khiển các xe trên đến Trung tâm Đ5 để giao xe cho N1 giúp đăng kiểm bỏ qua lỗi vi phạm của phương tiện.
- Đối với việc đăng kiểm xe ô tô kiểm soát 90C-069.09 vào ngày 17/6/2021, đăng kiểm xe ô tô biển số 18H-015.10 vào ngày 16/6/2022 như sau:
Tại thời điểm năm 2021 xe ô tô biển kiểm soát 90C-069.09 không cơi nới kích thước thành thùng, không có lỗi vi phạm. Ngày 17/6/2021, V giao lái xe là anh Trịnh Ngọc K điều khiển xe biển kiểm soát 90C-069.09 đến Trung tâm Đ5 để nhờ Dương Đình N1 giúp kiểm định nhanh phương tiện. Do trước đó nhiều lần đưa xe đến gara ô tô của N1 để sửa chữa nên khi nhờ N1 giúp đăng kiểm nhanh phương tiện, Dương Đình N1 không lấy khoản chi phí nào ở lần đăng kiểm này.
Đến tháng 01 năm 2022, Bùi Quang V mua nguyên vật liệu sắt thép về tự cải tạo cơi nới kích thước thùng hàng xe dài hơn nguyên bản khoảng 15cm, lắp thêm bạt điện, còi hơi, giá để đồ trên nóc cabin của xe ô tô biển số 90C-069.09, sử dụng xe này để chở nguyên vật liệu cho các công trình tại tỉnh Nam Định. Đến ngày 10/5/2022, Bùi Quang V làm thủ tục thay đổi biển đăng ký từ xe mang biển kiểm soát 90C-069.09 thành xe mang biển kiểm soát 18H-015.10. Khi sắp đến thời hạn kiểm định xe, Bùi Quang V đã liên hệ thỏa thuận đưa tiền cho Dương Đình N1 môi giới hối lộ để khi kiểm định được bỏ qua lỗi vi phạm cơi nới kích thước thùng hàng xe dài hơn nguyên bản khoảng 15cm, lắp bạt điện, còi hơi, giá để đồ trên nóc cabin đối với xe ô tô biển số 18H-015.10. Sáng ngày 16/6/2022 Bùi Quang V giao cho lái xe là anh Trịnh Ngọc K điều khiển xe ô tô biển số 18H-015.10 đi từ công trình tại huyện N đến Trung tâm Đ5, địa chỉ: Quốc lộ B, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định để giao xe cho Dương Đình N1 làm thủ tục đưa xe vào Trung tâm kiểm định. Sau khi xe ô tô biển số 18H-015.10 được Trung tâm Đ5 kiểm định và cấp giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường cho phương tiện, trong ngày 16/6/2022 theo thông báo của Dương Đình N1, Bùi Quang V đã thanh toán chuyển khoản cho N1 số tiền là 15.150.000 đồng, trong đó: Nộp phí bảo trì đường bộ là 11.218.000 đồng; nộp phí kiểm định là 343.636 đồng; nộp lệ phí cấp giấy chứng nhận kiểm định là 25.000 đồng; còn lại số tiền 3.563.364 đồnglà chi phí đưa hối lộ để Dương Đình N1 giúp kiểm định bỏ qua lỗi vi phạm nêu trên của phương tiện. Việc thanh toán chuyển khoản số tiền 15.150.000 đồng cho Dương Đình N1 được thực hiện thông qua việc bị cáo nhờ chị Nguyễn Thị M3 (là bạn của bị cáo) chuyển khoản cho N1 (qua số tài khoản của N1 là 107514738888).
- Đối với việc đăng kiểm xe ô tô biển kiểm soát 90C-095.00 vào ngày 06/01/2022:
Tại thời điểm đăng kiểm xe vào ngày 06/01/2022, hiện trạng xe ô tô biển số 90C-095.00 có lỗi vi phạm cơi nới kích thước thành thùng hàng, lắp thêm bạt điện, còi hơi, giá để đồ trên nóc cabin. Bùi Quang V đã liên hệ nhờ Dương Đình N1 giúp đăng kiểm bỏ qua các lỗi vi phạm của phương tiện, N1 đồng ý. Ngày 06/01/2022 Bùi Quang V giao lái xe là anh Nguyễn Văn D1 điều khiển xe ô tô biển số 90C-095.00 đến Trung tâm Đ5 để giao xe cho N1 đưa xe vào Trung tâm kiểm định. Trước khi anh Nguyễn Văn D1 điều khiển xe đi giao cho Dương Đình N1, V đưa cho anh D1 số tiền mặt là 15.000.000 đồng, trong đó: Số tiền 14.000.000 đồng là chi phí kiểm định xe, còn lại 1.000.000 đồng là chi phí ăn uống dọc dường, đổ xăng. Sau khi xe ô tô biển số 90C-095.00 được Trung tâm Đ5 kiểm định và cấp giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường cho phương tiện, Nguyễn Văn D1 đưa cho Dương Đình N1 số tiền 14.000.000 đồng .
Căn cứ tài liệu Trung tâm Đ5 cung cấp cho Cơ quan điều tra, tại thời điểm đăng kiểm xe ô tô biển số 90C-095.00 vào ngày 06/01/2022, các khoản phí phải nộp như sau: Nộp phí bảo trì đường bộ là 12.844.000 đồng; nộp phí kiểm định là 350.000 đồng; nộp lệ phí cấp giấy chứng nhận kiểm định là 25.000 đồng. Như vậy trong tổng số tiền 14.000.000 đồng đưa cho Dương Đình N1 để đăng kiểm xe ô tô biển số 90C-095.00 vào ngày 06/01/2022, sau khi trừ đi các khoản phí, lệ phí phải nộp theo quy định, còn lại số tiền 781.000 đồng là chi phí để Dương Đình N1 giúp kiểm định bỏ qua lỗi vi phạm của phương tiện.
- Đối với việc đăng kiểm xe ô tô kiểm soát 29H-363.07 vào ngày 26/2/2022:
Trước thời điểm đăng kiểm xe vào ngày 26/02/2022, hiện trạng xe ô tô biển số 29H-363.07 là xe cũ, phanh bị mòn, đèn chiếu sáng tối, xe được cơi nới kích thước thành thùng hàng, lắp thêm bạt điện, còi hơi, giá để đồ trên nóc cabin. Bùi Quang V đã liên hệ nhờ Dương Đình N1 giúp sửa chữa phương tiện và đăng kiểm xe. Ngày 26/02/2022, V giao lái xe là anh Đặng Văn K2 điều khiển xe này đến giao xe cho Dương Đình N1 sửa chữa và giúp đăng kiểm phương tiện. Đến nay bị cáo Bùi Quang V, lái xe Đặng Văn K2 không nhớ được chi phí sửa chữa, chi phí đăng kiểm xe. N1 khai có sử chữa trước khi đi đăng kiểm giúp và K2 chuyển khoản số tiền 4.100.000 đồng để trả tiền chi phí và đăng kiểm, N1 không nhớ cụ thể sửa chữa hết bao nhiêu. Kiểm tra tài khoản chuyển tiền giữa N1 và C3 ngày 26/2/2022 không có giao dịch chuyển tiền nào. Vì vậy không có căn cứ xác định số tiền đưa đăng kiểm viên để bỏ qua lỗi vi phạm.
Tại CQĐT, các bị cáo Nguyễn Văn H1; Nguyễn Văn M1; Nguyễn Văn T3; Trần Văn T4 Trần Đăng HĐinh Trọng T5 Nguyễn Quốc Đ1 Bùi Quang Vkhai nhận hành vi phạm tội như nêu trên.
Tại CQĐT, Dương Đình N1 khai nhận: Trong 03 năm 2020, 2021, 2022, Dương Đình N1 đã đưa 392 lượt phương tiện đến kiểm định tại Trung tâm Đ5. Dương Đình N1 đã nhận tiền hối lộ từ chủ phương tiện, lái xe với tổng số tiền 226.195.364 đồng, chuyển khoản cho Lê Văn C4 số tiền 159.350.000 đồng để các đăng kiểm viên Trung tâm đăng kiểm xe cơ giới 18-02D kiểm định bỏ qua lỗi vi phạm và cấp Giấy chứng nhận đăng kiểm cho 79 phương tiện trong đó có các xe như nêu trên. N1 đưa cho C4 số tiền 3.000.000 đồng/xe khi đăng kiểm xe 18H-015.10 của Bùi Quang V, xe 90C-052.70 của Nguyễn Văn H1, xe 90C-039.67 và 90C-052.87 của Trần Đăng H; xe 90C-063.22 và 90C-089.02 của Trần Văn T4; số tiền 2.500.000 đồng/xe khi đăng kiểm xe 90C-055.83 của Nguyễn Văn T3, xe 90C-028.07 của Đinh Trọng T5; số tiền 2.000.000 đồng khi đăng kiểm xe 90C-075.33 của Nguyễn Văn M1; số tiền 3.400.000 đồng khi đăng kiểm xe 90H-017.34 của Trần Đăng H; số tiền 4.000.000 đồng khi đăng kiểm xe 29R-510.19 của Nguyễn Quốc Đ1.
Tại CQĐT, các anh Trần Văn N, Đinh Công G2 là lái xe cho bị cáo Trần Văn T4; anh Trịnh Ngọc Klà lái xe cho bị cáo Bùi Quang V; anh Nguyễn Xuân C3 là lái xe cho bị cáo Nguyễn Văn T3 trình bày: Được chủ xe giao lái xe đến Trung tâm đăng kiểm 18-02D để giao cho N1 thực hiện thủ tục đăng kiểm. Không biết chủ xe thỏa thuận, đưa tiền hối lộ cho Dương Đình N1 để N1 môi giới hối lộ kiểm định bỏ qua lỗi vi phạm của xe ô tô.
Tại CQĐT, bà Trần Thị Y (là vợ của bị cáo Trần Văn T4), địa chỉ: Thôn L, xã P, huyện L, tỉnh Hà Nam: bà Vũ Thị D (là vợ của bị cáo Nguyễn Văn M1), địa chỉ: Thôn V, xã Đ, huyện L, tỉnh Hà Nam; chị Nguyễn Thị M3, sinh năm 1989, địa chỉ: Thôn G, xã H, huyện Ý, tỉnh Nam Định (là bạn của Bùi Quang V) trình bày: có chuyển tiền cho Dương Đình N1 nhưng không biết đó là tiền hối lộ.
Tại CQĐT, ông Nguyễn Văn H5, địa chỉ: Thôn E, xã P, thành phố P, tỉnh Hà Nam trình bày: Ông Nguyễn Văn H5 - Giám đốc Công ty TNHH T12, là chủ sở hữu các xe ô tô biển số 90C-039.67, 90C-052.87, 90H-017.34. Khi các phương tiện đến hạn kiểm định, bị cáo Trần Đăng H là người trực tiếp liên hệ, thỏa thuận nhờ Dương Đình N1 đăng kiểm xe, H thông báo chi phí cho ông Nguyễn Văn H5 thanh toán chi trả, ông không biết thỏa thuận giữa N1 và H, không biết trong số chi phí có cả tiền hối lộ, khi giao xe giao cho lái xe Trần Đăng H chủ động liên hệ nhờ Dương Đình N1 sửa chữa phương tiện, cắt bỏ phần vi phạm cơi nới và đưa xe đi đăng kiểm hộ.
* Bản cáo trạng số 112/CT-VKS-P3 ngày 30 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định truy tố: Trần Đăng H; Nguyễn Văn H1 về tội: “Đưa hối lộ” quy định tại Điểm đ Khoản 2 Điều 364 BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Nguyễn Văn M1;Nguyễn Văn T3;Trần Văn T4;Đinh Trọng T5;Nguyễn Quốc Đ1; Bùi Quang V về tội: “Đưa hối lộ” quy định tại Khoản 1 Điều 364 BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
* Tại phiên toà:
- Các bị cáo Trần Đăng H;Nguyễn Văn H1;Nguyễn Văn M1;Nguyễn Văn T3;Trần Văn T4; Đinh Trọng T5; Nguyễn Quốc Đ1; Bùi Quang V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản Cáo trạng đã truy tố, thừa nhận Cáo trạng truy tố đối với các bị cáo như vậy là đúng người, đúng tội, không oan; các bị cáo đều ăn năn, hối hận về hành vi phạm tội của mình và mong Hội đồng xét xử khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định luận tội: Giữ nguyên nội dung cáo trạng và quyết định đã truy tố. Sau khi xem xét đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định đề nghị Hội đồng xét xử tuyên: Các bị cáo Trần Đăng H; Nguyễn Văn H1,Nguyễn Văn M1;Nguyễn Văn T3;Trần Văn T4;Đinh Trọng T5;Nguyễn Quốc Đ1; Bùi Quang V về tội “Đưa hối lộ”.
- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 364, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 BLHS. Xử phạt bị cáo Trần Đăng H, Nguyễn Văn H1 mỗi bị cáo từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách gấp đôi.
- Áp dụng khoản 1 Điều 364, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 BLHS. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T3; Trần Văn T4; Định Trọng T11; Nguyễn Quốc Đ1; Bùi Quang V mỗi bị cáo từ 12 đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách gấp đôi.
- Áp dụng khoản 1 Điều 364, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 và Điều 35 BLHS. Xử phạt Nguyễn Văn M1 từ 30 đến 70 triệu đồng.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo. Vật chứng của vụ án này không đặt ra xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
[2] Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được cơ quan điều tra thu thập. Căn cứ lời khai nhận của các bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên toà; Lời khai của người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đủ căn cứ kết luận: Trong các năm 2021 và 2022, Nguyễn Văn H1, Nguyễn Văn M1, Nguyễn Văn T3,Trần Văn T4, Trần Đăng HĐinh Trọng T5 Nguyễn Quốc Đ1,Bùi Quang Vđã đưa cho người trung gian là Dương Đình N1 từ 2.500.0000 đồng đến 4.000.0000 đồng/xe để N1 đưa lại cho các Đăng kiểm viên của Trung tâm đăng kiểm 18-02D từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng/xe khi làm thủ tục đăng kiểm để các Đăng kiểm viên bỏ qua lỗi vi phạm, ấn “Đạt” trên phần mềm kiểm tra công đoạn, chỉnh sửa ảnh để hợp thức hóa hồ sơ và cấp Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường đối với các xe ô tô tải có lỗi vi phạm cơi nới kích thước thành thùng hàng, xe lắp bạt điện không đủ điều kiện theo quy định.
Hành vi đưa tiền nêu trên của Trần Đăng H, Nguyễn Văn H1 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đưa hối lộ”. Tội phạm và hình phạt quy định tại Điểm đ Khoản 2 Điều 364 BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Hành vi đưa tiền nêu trên của Nguyễn Văn M1, Nguyễn Văn T3, Trần Văn T4, Nguyễn Quốc Đ1, Đinh Trọng T5, Bùi Quang V đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đưa hối lộ”. Tội phạm và hình phạt quy định tại Khoản 1 Điều 364 BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Quan điểm truy tố và luận tội của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định là có căn cứ pháp lý.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng: Tất cả 08 bị cáo đều không phải chịu tình tiết tăng nặng nào theo quy định tại Điều 52 BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà, các bị cáo đều khai báo thành khẩn, thể hiện sự ăn năn hối hận với hành vi phạm tội của mình nên đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Đối với bị cáo T5 có bố đẻ là thương binh, bị cáo T4 có thời gian phục vụ trong quân đội và có giấy chứng nhận thương tật do tai nạn lao động, bị cáo Đ1 có hoàn cảnh gia đình khó khăn và bố đẻ có thời gian phục vụ trong quân đội, đối với bị cáo H, V, M1, H1, T3 đều có hoàn cảnh gia đình khó khăn, có đơn đề nghị được chính quyền địa phương xác nhận nên các bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
[4] Xét tính chất, mức độ hành vi, vị trí vai trò và hình phạt của các bị cáo: Hành vi đưa hối lộ của Trần Đăng H,Nguyễn Văn H1,Nguyễn Văn M1,Nguyễn Văn T3, Trần Văn T4, Nguyễn Quốc Đ1,Đinh Trọng T5, Bùi Quang Vđã xâm phạm đến hoạt động đúng đắn của cơ quan nhà nước, làm ảnh hưởng đến uy tín của cơ quan, tổ chức, làm suy thoái phẩm chất đạo đức đối với những người thực thi nhiệm vụ, gây dư luận xấu trong nhân dân. Bị cáo Trần Đăng H, Nguyễn Văn H1 đã nhiều lần đưa hối lộ nên chịu tình tiết định khung được qui định tại khoản điểm đ khoản 2 Điều 364 BLHS nên giữ ví trí đầu trong vụ án. Các bị cáo Nguyễn Văn M1, Nguyễn Văn T3, Trần Văn T4, Nguyễn Quốc Đ1, Đinh Trọng T5, Bùi Quang V giữ ví trí sau bị cáo H và H1.
Trong vụ án này hành vi thực hiện tội phạm của các bị cáo là độc lập nên không là đồng phạm.
[5] Hội đồng xét xử căn cứ tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của các bị cáo để ấn định mức hình phạt đối với từng bị cáo.
Xét thấy, hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã đưa hối lộ cho Đăng kiểm viên để bỏ qua các lỗi không đạt của các phương tiện không đảm bảo an toàn kỹ thuật tham gia giao thông là một trong những nguyên nhân gây mất an toàn giao thông đường bộ, hậu quả xảy ra là khó lường, gây bức xúc trong dư luận quần chúng nhân dân. Do vậy, cần ấn định cho các bị cáo mức hình phạt tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo. Tuy nhiên, xét các bị cáo đều phạm tội lần đầu, có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng. Đối chiếu với các quy định của Điều 65 Bộ luật hình sự và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15-4-2022 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao, có đủ điều kiện để áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự. Do đó HĐXX quyết định hình phạt tù đối với các bị cáo Trần Đăng H, Nguyễn Văn H1, Nguyễn Văn T3 Trần Văn T4Nguyễn Quốc Đ1 Đinh Trọng T5Bùi Quang Vnhưng cho các bị cáo được hưởng án treo, giao bị cáo cho Uỷ ban nhân dân nơi các bị cáo cư trú giám sát, giáo dục. Như vậy cũng đủ tác dụng răn đe, cải tạo và làm gương cho kẻ khác, đồng thời cũng thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội biết ăn năn hối cải với hành vi sai phạm của mình nhưng vẫn đáp ứng được công cuộc đấu tranh phòng ngừa tội phạm. Đối với bị cáo Nguyễn Văn M1 Hội đồng xét xử xét thấy cần phân hóa khi quyết định hình phạt như đề xuất cũng phù hợp với việc áp dụng pháp luật.
[6] Về hình phạt bổ sung: Xét hoàn cảnh gia đình của các bị cáo khó khăn nên miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
[7] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của BLTTHS và các điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố các bị cáo Trần Đăng H,Nguyễn Văn H1, Nguyễn Văn M1,Nguyễn Văn T3, Trần Văn T4, Nguyễn Quốc Đ1, Đinh Trọng T5, Bùi Quang Vphạm tội “Đưa hối lộ”.
- Áp dụng: Điểm đ Khoản 2 Điều 364; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Trần Đăng H 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 (bốn) năm, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H1 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 (bốn) năm, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Áp dụng: Khoản 1 Điều 364; điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 65 BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T3 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (hai) năm, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Xử phạt bị cáo Trần Văn T4 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (hai) năm, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc Đ1 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (hai) năm, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Xử phạt bị cáo Đinh Trọng T5 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (hai) năm, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Xử phạt các bị cáo Bùi Quang V 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (hai) năm, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Trần Đăng Hcho Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam; giao bị cáo Nguyễn Văn H1 cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện L, tỉnh Hà Nam; giao bị cáo Nguyễn Văn T3 cho Ủy ban nhân dân xã N, huyện L, tỉnh Hà Nam; giao bị cáo Trần Văn T4 cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện L, tỉnh Hà Nam; giao bị cáo Đinh Trọng T5 cho Ủy ban nhân dân xã T, thị xã D, tỉnh Hà Nam; giao bị cáo Nguyễn Quốc Đ1 cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện P, thành phố Hà Nội; giao bị cáo Bùi Quang Vcho Ủy ban nhân dân xã H, huyện Ý, tỉnh Nam Định để giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68, Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Toà án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Toà án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.
- Áp dụng: Khoản 1 Điều 364; điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 35 BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M1 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng).
- Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của BLTTHS và các điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Các bị cáo Trần Đăng H,Nguyễn Văn H1,Nguyễn Văn M1,Nguyễn Văn T3,Trần Văn T4, Nguyễn Quốc Đ1,Đinh Trọng T5, Bùi Quang V mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Báo các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Anh Dũng |
Bản án số 33/2025/HS-ST ngày 11/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH về tội "đưa hối lộ"
- Số bản án: 33/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tội "Đưa hối lộ"
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Đăng H và đp - Đưa hối lộ
