Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THÁI BÌNH

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 33/2025/HS-ST

Ngày: 10 - 3 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Phượng

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Thiện Lợi

2. Ông Nguyễn Xuân Anh

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Huế - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: Ông Bùi Quang Dương - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 23/2025/TLST-HS ngày 13 tháng 02 năm 2025, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29A/2025/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Bùi Thị H, sinh ngày 15/7/1987, tại Thái Bình;

Nơi cư trú: Số nhà A, ngõ B, đường T, tổ A, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Bùi Đình P, sinh năm 1963 và bà: Phạm Thị Đ, sinh năm 1960; chồng: Nguyễn Xuân C, sinh năm 1980 (đã ly hôn); con: có 02 con, con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ 22/12/2024 đến ngày 28/12/2024 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T.

(Trích xuất có mặt tại phiên toà)

Người chứng kiến:

1. Bà Bùi Thị H1, sinh năm 1955; trú tại: Số nhà H, ngõ G, đường Đ, tổ G, phường B, thành phố T, tỉnh Thái Bình.

2. Anh Lê Viết H2, sinh năm 1985; trú tại: Số nhà A, ngõ A, đường N, tổ C, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình.

(Đều vắng mặt tại phiên toà).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ ngày 22/12/2024, Bùi Thị H đi bộ từ nhà đến khu vực C, thuộc phường T, thành phố T gặp và mua của một người nam giới không biết tên, tuổi và địa chỉ 01 túi ma tuý đá với giá 300.000 đồng. H cất giấu túi ma tuý vừa mua vào túi quần phía sau bên phải đang mặc rồi đi bộ về nhà tìm chỗ để sử dụng. Đến khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày H đi bộ về đến trước cửa nhà ở của H tại số nhà A, ngõ B, đường T, tổ A, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình thì bị tổ công tác của Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an tỉnh T phối hợp cùng với Công an phường T, thành phố T tuần tra phát hiện. Tại đây, trước sự chứng kiến của anh Lê Viết H2 và bà Bùi Thị H1, tổ công tác tiến hành kiểm tra người H đã thu giữ trong túi quần bên trái phía trước H đang mặc 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone vỏ màu vàng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme vỏ màu xanh đều đã qua sử dụng và thu giữ trong túi quần phía sau bên phải của H đang mặc 01 túi nilon trong suốt có mép cài viền màu xanh, bên trong chứa chất dạng tinh thể trong suốt, tổ công tác đã niêm phong vật chứng gửi đi giám định, kết quả giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,2320 gam. Sau đó tổ công tác đã đưa H, vật chứng và mời những người chứng kiến về trụ sở Công an phường T lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và làm các thủ tục khác theo quy định của pháp luật.

Quá trình điều tra ban đầu khi lập biên bản bắt người phạm tội quả tang H khai không biết đó là túi gì và không giải thích được tại sao có trong túi của H, nhưng ngay sau đó H viết bản tự khai đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Tại Bản kết luận giám định số 1906/KL-KTHS ngày 27/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: “Mẫu vật quản lý của Bùi Thị H gửi giám định là ma tuý, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,2320 gam (Không phẩy hai nghìn ba trăm hai mươi gam). Methamphetamine STT: 247 Danh mục IIC phụ lục kèm theo Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 và Nghị định 90/2024/NĐ-CP ngày 17/7/2024/NĐ-CP ngày 17/7/2024 của Chính phủ.

Tại Bản kết luận giám định số 1907/KL-KTHS ngày 27/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Trong mẫu nước tiểu của Bùi Thị H gửi giám định có tìm thấy ma tuý, sản phẩm chuyển hoá của ma tuý, loại Methamphetamine. Methamphetamine STT: 247 Danh mục IIC phụ lục kèm theo Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 và Nghị định 90/2024/NĐ-CP ngày 17/7/2024/NĐ-CP ngày 17/7/2024 của Chính phủ

Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo Bùi Thị H cũng khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo như đã nêu trong bản Cáo trạng.

Bản cáo trạng số 33/CT-VKSTPTB ngày 12/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình truy tố Bùi Thị H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố đối với Bùi Thị H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự, phạt bị cáo từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ; đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Ngoài ra, còn đề nghị về xử lý vật chứng, nghĩa vụ nộp án phí hình sự sơ thẩm và các vấn đề khác theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì. Bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát Điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Xét thấy, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa đúng như nội dung Cáo trạng và phù hợp với các lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, lời khai của những người chứng kiến có trong hồ sơ vụ án. Ngoài ra còn được chứng minh bằng các tài liệu, chứng cứ sau:

  • Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản tạm giữ tài sản, đồ vật, tài liệu; Biên bản niêm phong đồ vật tài liệu bị tạm giữ; Biên bản kiểm tra điện thoại do Công an tỉnh T lập ngày 22/12/2024 tại trụ sở Công an phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình (bút lục số 01 - 06).
  • Bản kết luận giám định số 1906/KL-KTHS ngày 27/12/2024 của phòng K Công an tỉnh T (bút lục số 14) và Bản kết luận giám định số 1907/KL-KTHS ngày 27/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh T (bút lục số 17).

Cùng toàn bộ tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Do đó có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 22/12/2024, tại khu vực trước cổng số nhà A, ngõ B, đường T, tổ A, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình, tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an tỉnh T phối hợp với Công an phường T, thành phố T tuần tra phát hiện, bắt quả tang Bùi Thị H có hành vi tàng trữ trái phép trên người 01 túi ma túy đá, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,2320 gam, mục đích để sử dụng cho bản thân.

Vì vậy, bị cáo Bùi Thị H đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Điều 249 Bộ luật Hình sự: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

  • Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc một trong các tội quy định tại các điều 248, 250, 251 và 252 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
  • Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 01 gam đến dưới 500 gam;
  • Heroine, C1, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

  • Có tổ chức;
  • Phạm tội 02 lần trở lên;

...

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.

Việc Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình truy tố bị cáo Bùi Thị H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ.

[3] Xét tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo thấy: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, làm ảnh hưởng đến an ninh trật tự và an toàn xã hội tại địa phương. Mặc dù động cơ phạm tội xuất phát từ việc nghiện chất ma túy, mục đích để thỏa mãn cơn nghiện của bản thân, nhưng tệ nạn ma túy là hiểm họa của toàn xã hội, không những gây tác hại cho sức khỏe, làm suy thoái nòi giống, phẩm giá con người mà còn là nguyên nhân làm phát sinh nhiều tệ nạn xã hội khác. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ tác hại của ma túy song không chịu tu dưỡng rèn luyện bản thân mà vẫn thực hiện hành vi tàng trữ ma túy là thể hiện ý thức coi thường pháp luật. Tội phạm bị cáo thực hiện thuộc loại tội nghiêm trọng, vì vậy bị cáo phải chịu mức hình phạt tương xứng với hành vi bị cáo đã gây ra.

[4] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

- Về nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, quá trình điều tra, truy tố bị cáo thành khẩn khai báo nên được xét hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã phân tích trên thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội trong một thời gian nhất định như mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp, nhằm cải tạo, giáo dục riêng đối với bị cáo và đấu tranh, ngăn ngừa tội phạm về ma túy nói chung.

[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo lần đầu phạm tội, mục đích để sử dụng cho bản thân, không có mục đích bán kiếm lời nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[7] Về nguồn gốc số ma túy: Bị cáo Bùi Thị H khai mua của một người nam giới không biết tên, tuổi và địa chỉ tại khu vực C, thuộc phường T, thành phố T, nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra xác minh xử lý.

[8] Về xử lý vật chứng: Đối với 0,2320 gam ma túy, loại Methamphetamine sau khi lấy mẫu giám định còn 0,1833 gam mẫu vật gửi giám định và toàn bộ bao gói quản lý của Bùi Thị H trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 1906/KL-KTHS ngày 27/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, xét đây là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu huỷ;

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone vỏ màu vàng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme vỏ màu xanh đều đã qua sử dụng. Quá trình điều tra xác định hai chiếc điện thoại trên là tài sản hợp pháp của Bùi Thị H không liên quan đến hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nên trả lại cho bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật.

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Thị H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  2. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Bùi Thị H 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 22/12/2024.
  3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
    • Tịch thu tiêu hủy toàn bộ 0,1833 gam (không phẩy một nghìn tám trăm ba mươi ba gam) Methamphetamine hoàn lại sau giám định và toàn bộ bao gói trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 1906/KL-KTHS của Phòng K - Công an tỉnh T.
    • Trả lại bị cáo Bùi Thị H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone vỏ màu vàng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme vỏ màu xanh, đều đã qua sử dụng.

    (Chi tiết vật chứng được thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng, tài sản lập hồi 15 giờ 30 phút ngày 13/02/2025 tại trụ sở Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Bình giữa Công an thành phố T và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Bình).

  4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Bùi Thị H phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo Bùi Thị H có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (10/3/2025)./.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

Lê Thị Phượng

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND thành phố Thái Bình;
  • - VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - Cơ quan CSĐT CA tỉnh Thái Bình;
  • - Cơ quan THAHS CA tỉnh Thái Bình;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Thái Bình;
  • - Chi cục THADS thành phố Thái Bình;
  • - UBND phường Trần Lãm, Tp. Thái Bình, tỉnh Thái Bình;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Phượng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 33/2025/HS-ST ngày 10/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 33/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bùi Thị H - Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger