|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 33/2025/HS-ST
Ngày: 04/03/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán sơ cấp - Chủ toạ phiên toà: Bà Triệu Thúy Hà.
- - Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Hoàng Thị An
- 2. Bà Trần Thị Đông
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mai Anh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đông Anh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Ngọc S - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 03 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Anh - thành phố Hà Nội xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 26/2025/TLST-HS ngày 19 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2025/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 02 năm 2025, đối với các bị cáo:
- Họ và tên: Vũ Tiến D, Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 13/5/2007 (khi phạm tội 17 tuổi 5 tháng 25 ngày); Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: thôn Q, xã X, huyện Đ, tỉnh Thái Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 8/12; Bố đẻ: Vũ Tiến T ( đã chết); Mẹ đẻ: Vũ Thị H; Gia đình có 02 anh chị em, bị cáo là con thứ hai;
Tiền án, tiền sự: Không
Hiện đang áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh.
- Họ và tên: Nguyễn Văn M, Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh năm: 04/11/2008 (khi phạm tội 16 tuổi 3 ngày); Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: thôn N, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Học sinh; Văn hóa: 11/12; Bố đẻ: Nguyễn Văn T1; Mẹ đẻ: Hồ Thị H1; Gia đình có 02 anh chị em, bị cáo là con thứ 01;
Tiền sự, tiền sự: Không.
Hiện đang áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh.
(Có mặt tại phiên tòa)
* Người bị hại:
- Anh Tòng Văn Đ, sinh năm 2005, trú tại: Bản N, xã C, huyện Đ, tỉnh Điện Biên. (Vắng mặt).
- Anh Lê Hồng Đ1, sinh năm 2002, trú tại: thôn B, xã G, huyện L, tỉnh Thanh Hóa (Vắng mặt).
Người bào chữa cho bị cáo Vũ Tiến D: Ông Lê Quang Đ2, trợ giúp viên pháp lý - Trung tâm T3 Hà Nội.
- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn M: Bà Nghiêm Thi N, trợ giúp viên pháp lý- Trung tâm T3 Hà Nội.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại: Bà Nguyễn Thị Bích H2- Trợ giúp viên pháp lý- Trung tâm T3 Hà Nội.
Các trợ giúp viên pháp lý đều có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án như sau:
Vũ Tiến D và Nguyễn Văn M đều là công nhân, cùng làm việc tại công trường xây dựng thuộc dự án V thuộc địa phận huyện Đ, thành phố Hà Nội. Do thiếu tiền tiêu xài nên Vũ Tiến D và Nguyễn Văn M đã nảy sinh ý định trộm cắp xe môtô của công nhân để tại công trường, bán lấy tiền chia nhau.
Khoảng 01 giờ 30 phút ngày 07/11/2024, D và M đang cùng nhau nghỉ tại khu ký túc xá dành cho công nhân thuộc Công trường Vinhomes Cổ L, thì D gọi M dậy và rủ cùng nhau đi trộm cắp xe môtô của công nhân để tại công trường, M đồng ý. D và M đi bộ đến khu vực để xe của công nhân phát hiện có 02 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đen, không khóa cổ, có 01 xe không gắn BKS, 01 xe gắn BKS: 36H1-135.84. D bảo M đứng cảnh giới, còn D dắt 02 chiếc xe vào trong nhà ăn ở dãy 6 thuộc khu K và tiến hành bẻ khóa, khởi động hệ thống điện trên cả 2 xe mô tô. Sau khi khởi động xe, D dắt xe gắn BKS: 36H1-135.84 theo lối cửa sau nhà ăn giao cho M, còn D dắt chiếc xe mô tô còn lại ra khỏi khu ký túc xá và tẩu thoát về hướng địa phân tỉnh Thái Bình. Cả hai đi được khoảng 5-6 km thì cả hai dừng lại, M dùng tay cậy yên xe mô tô để D thò tay vào bên trong cốp xe lấy cờ lê, tuốc nơ vít vặn tháo BKS và vứt trên đường tẩu thoát (không nhớ vị trí vứt BKS). D và M tiếp tục đi về đến địa phận xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình thì chiếc xe mô tô do D điều khiển hết xăng nên cả hai dừng lại tại vị trí cổng sân vận động xã Q đổ xăng. Do không có chìa khóa, mở cốp xe nên M đã dùng tay không cậy yên xe để D đổ xăng. Khi đang thực hiện việc đổ xăng thì bị quần chúng nhân dân nghi vấn nên đã trình báo Công an xã Q, huyện Q. Nhận được tin báo, Công an xã Q đã đưa D và M, cùng tang vật của vụ án về trụ sở Công an xã để làm việc. Tại Cơ quan Công an D và M khai nhận đã thực hiện hành vi trộm cắp 02 chiếc xe trên tại khu khu ký túc xá dành cho công nhân thuộc Công trường Vinhomes Cổ L thuộc xã X, huyện Đ. Ngày 30/11/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q, tỉnh Thái Bình đã chuyển nguồn tin về tội phạm đối với vụ việc trên đến Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Đ để giải quyết theo thẩm quyền.
Vật chứng tạm giữ: Của Vũ Tiến D và Nguyễn Văn M gồm:
- - 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave A, màu đen, không lắp BKS, số khung: RLHJA3925PY745183, số máy: JA39E-3212966.
- - 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đen, không lắp BKS, số khung: RLHJA3933RY692060, số máy: JA70E-0623765.
- - 01 chai nhựa màu nâu.
- - 01 ống ti ô nhựa.
Ngày 10/12/2024, Hội đồng định giá thường xuyên để định giá tài sản trong tố tụng huyện Đ kết luận trị giá 02 chiếc xe do Vũ Tiến D và Nguyễn Văn M chiếm đoạt tổng trị giá 34.000.000 đồng.
Tại Cơ quan điều tra Vũ Tiến D và Nguyễn Văn M khai nhận hành vi phạm tội của mình, phù hợp với tài liệu điều tra thu thập được.
Đối với xe môtô nhãn hiệu Honda Wave A, màu đen, không lắp BKS, số khung: RLHJA3925PY745183, số máy: JA39E-3212966. Quá trình điều tra, xác định là tài sản hợp pháp của anh Lê Hồng Đ1 (sinh năm: 2002; Trú tại: thôn B, xã G, huyện L, tỉnh Thanh Hóa). Ngày 31/12/2024, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu trả chiếc xe trên cho anh Lê Hồng Đ1. Anh Đ1 đã nhận xe, không có đề nghị, bồi thường về dân sự và đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho D và M.
Đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đen, không lắp BKS, số khung: RLHJA3933RY692060, số máy: JA70E-0623765. Quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của anh Tòng Văn Đ (sinh năm: 2005; Trú tại: bản N, xã C, huyện Đ, tỉnh Điện Biên). Ngày 31/12/2024, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu trả chiếc xe trên cho anh Tòng Văn Đ. Anh Đ đã nhận xe, không có đề nghị, bồi thường về dân sự và đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho D và M.
Đối với 01 chai nhựa màu nâu và 01 ống ti ô bằng nhựa là vật chứng vụ án, chuyển kho tang vật của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Anh để Tòa án nhân dân huyện Đông Anh để giải quyết theo thẩm quyền.
Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh truy tố các bị cáo về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo D và bị cáo Đ khai nhận tội như nội dung cáo trạng đã nêu. Bị cáo thừa nhận: Khoảng 01 giờ 30 phút ngày 07/11/2024, bị cáo đã có hành vi lợi dụng sơ hở của bị hại anh Lê Hồng Đ1 và anh Tòng Văn Đ trong quản lý tài sản, lén lút chiếm đoạt của anh 02 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đen, không khóa cổ, có 01 xe không gắn BKS, 01 xe gắn BKS: 36H1-135.84 có trị giá 34.000.000 đồng tại khu ký túc xá dành cho công nhân thuộc Công trường Vinhomes Cổ L thuộc xã X, huyện Đ, thành phố Hà Nội. Tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn, ăn năn hối cải. Bị cáo xin Hội đồng xét xử khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh giữ quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích nội dung, tính chất vụ án, xem xét các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ đối với bị cáo, giữ nguyên toàn bộ nội dung bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Khoản 1 Điều 173, điểm i, s Khoản 1 Điều 51; Điều 65, 90, 91, 101 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Vũ Tiến Danh T2 09 tháng đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách 18 tháng đến 24 tháng kể tư ngày tuyên án; Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M từ 06 tháng đến 09 tháng tù, thử thách 12 đến 18 tháng kể từ ngày tuyên án.
Hình phạt bổ sung: Không
Về dân sự: Không.
Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ 01 chai nhựa và 01 ống tio.
Người bào chữa cho bị cáo Vũ Tiến D phát biểu quan điểm: Bị cáo D phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi, nhận thức chưa đầy đủ, hoàn cảnh gia đình không hạnh phúc, bị cáo sống thiếu thốn cả về vật chất và tinh thần: bố mẹ ly hôn, được bố trực tiếp nuôi dưỡng nhưng nhưng bố mất sớm nên phải sống trong Trung tâm bảo trợ xã hội, mẹ đẻ đi xuất khẩu lao động. Khi vụ việc phạm tội bị phát hiện, bị cáo ăn năn hối cải, bị hại có đơn xin giảm hình phạt cho bị cáo. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo hình phạt tù cho hưởng án treo và mức án phù hợp để bị cáo được nhận sự khoan hồng của pháp luật.
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn M phát biểu: Nhất trí quan điểm luận tội của Vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà hôm nay. Tuy nhiên, bị cáo M phạm tội khi mới 16 tuổi 3 ngày, nhận thức còn hạn chế. Bị cáo bị rủ rê lôi kéo, vai trò thứ yếu trong vụ án. Khi vụ việc phạm tội bị phát hiện, bị cáo ăn năn hối cải, bị hại có đơn xin giảm hình phạt cho bị cáo. Hiện tại bị cáo đang đi học. Tài sản đã thu hồi trả người bị hại nên Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm điểm h khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự và cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội để bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại phát biểu: Nhất trí với lời luận tội của Vị đại diện Viện kiểm sát, đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1] Về tố tụng: Các cơ quan tiến hành tố tụng của huyện Đ thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về thẩm quyền và các quy định khác về điều tra, truy tố và xét xử. Người bị hại là anh Tòng Văn Đ và anh Lê Hồng Đ1 vắng mặt tại phiên tòa đã có lời khai đầy đủ trong hồ sơ là đúng với quy định của pháp luật.
- [2] Về hành vi và tội danh: Khoảng 01 giờ 30 phút ngày 07/11/2024, bị cáo đã có hành vi lợi dụng sơ hở của bị hại anh Lê Hồng Đ1 và anh Tòng Văn Đ trong quản lý tài sản, lén lút chiếm đoạt của anh 02 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đen, không khóa cổ, có 01 xe không gắn BKS, 01 xe gắn BKS: 36H1-135.84 có trị giá 34.000.000 đồng tại khu ký túc xá dành cho công nhân thuộc Công trường Vinhomes Cổ L thuộc xã X, huyện Đ, thành phố Hà Nội. Hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội vì đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được luật hình sự bảo vệ. Các bị cáo phạm tội với lỗi cố ý. Mục đích tư lợi. Các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, song do hám lợi nên vẫn cố tình phạm tội. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo, bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác tại cơ quan điều tra và được chứng minh bằng tang vật vụ án cơ quan điều tra thu giữ được, đủ căn cứ khẳng định bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Tội danh và khung hình phạt quy định tại Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Điều luật quy định: “1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng..., thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.
Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh truy tố các bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
- [3] Về nhân thân và tiền án, tiền sự: Bị cáo D và bị cáo M không có tiền án, tiền sự.
- [4] Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- - Tình tiết tăng nặng đối với các bị cáo: Không
- - Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo Vũ Tiến D và bị cáo Nguyễn Văn M phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải các bị cáo phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi, nhận thức chưa đầy đủ nên áp dụng các quy định tại Điều 90, 91, 101 Bộ luật hình sự. Bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i,s khoản 1 khoản 2 Điều 51;
- [5] Về quyết định hình phạt: Căn cứ vào tính chất mức độ của hành vi phạm tội thấy: Bị cáo phạm tội do cơ hội, lợi dụng bị hại sơ hở trong quản lý tài sản để chiếm đoạt tài sản. Tuy nhiên, xét hành vi phạm tội của các bị cáo thấy đây là vụ đồng phạm giản đơn, các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, gia đình cam kết quản lý, giáo dục các bị cáo nghiêm túc. Bị cáo M hiện đang là học sinh, cần tiếp tục học tập. Do vậy, áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự, cho các bị được cải tạo ngoài xã hội cũng đủ răn đe giáo dục chung.
- [6] Về dân sự: Đối với xe môtô nhãn hiệu Honda Wave A, màu đen, không lắp BKS, số khung: RLHJA3925PY745183, số máy: JA39E-3212966. Quá trình điều tra, xác định là tài sản hợp pháp của anh Lê Hồng Đ1 (sinh năm: 2002; Trú tại: thôn B, xã G, huyện L, tỉnh Thanh Hóa). Ngày 31/12/2024, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu trả chiếc xe trên cho anh Lê Hồng Đ1. Anh Đ1 đã nhận xe, không có đề nghị, bồi thường về dân sự và đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho D và M.
Đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đen, không lắp BKS, số khung: RLHJA3933RY692060, số máy: JA70E-0623765. Quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của anh Tòng Văn Đ (sinh năm: 2005; Trú tại: bản N, xã C, huyện Đ, tỉnh Điện Biên). Ngày 31/12/2024, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu trả chiếc xe trên cho anh Tòng Văn Đ. Anh Đ đã nhận xe, không có đề nghị, bồi thường về dân sự và đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho D và M.
Về dân sự đã giải quyết xong. Hội đồng không xem xét về dân sự. Về dân sự đã giải quyết xong.
- [7] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 chai nhựa màu nâu và 01 ống ti ô bằng nhựa là vật chứng vụ án không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ.
- [8] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo chưa đủ 18 tuổi, đã chịu hình phạt tù, các bị cáo trước khi phạm tội không có nghề nghiệp ổn định nên không phạt tiền bị cáo.
- [9] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- [10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo luật định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- + Áp dụng Khoản 1 Điều 173, điểm i, s Khoản 1 Điều 51; Điều 65, 90, 91, 101 Bộ luật hình sự xử phạt
- + Áp dụng Điều 136, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự;
- + Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Tuyên bố bị cáo Vũ Tiến D và Nguyễn Văn M phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- - Xử phạt: Vũ Tiến D 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách 18 tháng kể từ ngày tuyên án.
- - Xử phạt: Nguyễn Văn M 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách 12 tháng kể từ ngày tuyên án.
- - Giao bị cáo Vũ Tiến D cho Ủy ban nhân dân xã X, huyện Đ, tỉnh Thái Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của bản án.
- - Giao bị cáo Nguyễn Văn M cho Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của bản án.
Trong trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bán án đã cho hưởng án treo.
Các bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm. Bị cáo, đại diện của bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
Bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Triệu Thúy Hà |
Bản án số 33/2025/HS-ST ngày 04/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH - THÀNH PHỐ HÀ NỘI về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 33/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vũ Tiến D và Nguyễn Văn M phạm tội “Trộm cắp tài sản”
