Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYÊN V

TỈNH HƯNG YÊN

 

Bản án số: 33/2025/HS-ST

Ngày: 03/4/2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V - TỈNH HƯNG YÊN

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị M.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phan Thị H1

Ông Nguyễn Quốc D

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Ngọc Thảo V1 - Thư ký Tòa án nhân dân huyện V.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V tham gia phiên tòa: Ông Dương Đức K, bà Lưu Thị C - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện V, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 35/2025/TLST-HS ngày 12/3/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2024/QĐXXST-HS ngày 20/3/2025 đối với:

  • * Bị cáo: Nguyễn Thị L; Tên gọi khác: Không; Sinh năm 1979 tại huyện N, tỉnh Nam Định; HKTT, nơi cư trú: Không xác định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nữ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 02/12; Con ông: Nguyễn Văn B, sinh năm 1950 và bà: Trần Thị C, sinh năm 1953 (đã chết); có chồng là Nguyễn Văn T, sinh năm 1941 (đã chết); Có 02 con, con lớn sinh năm 2007, con nhỏ sinh năm 2009; Tiền án, tiền sự: Không có. Nguyễn Thị L bị bắt tạm giam từ ngày 04/12/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. (Có mặt)
  • * Bị hại: Ông Tạ Văn H, sinh năm 1968. (Có mặt)
  • Địa chỉ: thôn T, xã Y, huyện Y, tỉnh Hưng Yên.
  • * Người làm chứng:
    1. Chị Tạ Thị L1, sinh năm 1992. (Vắng mặt)
    2. Địa chỉ: thôn Chấn Đông, xã Hoàn Long, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên
    3. Anh Đàm Huy T1, sinh năm 1978 (Vắng mặt)
    4. Địa chỉ: Thôn C, xã X, huyện V, tỉnh Hưng Yên.
    5. Ông Phạm Văn Q, sinh năm 1960. (Vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn T, xã Y, huyện Y, tỉnh Hưng Yên.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thị L, sinh năm 1979, hộ khẩu thường trú (HKTT): Xã N, huyện N, tỉnh Nam Định. Vào năm 2014, L không có việc làm và ở nhờ tại nhà của anh Phạm Hồng D, sinh năm 1964, HKTT: thôn D, xã B, huyện G, thành phố Hà Nội. Quá trình ở nhờ tại nhà anh D, L quen biết với anh Đàm Huy T1, sinh năm 1978, HKTT: thôn C, xã X, huyện V, tỉnh Hưng Yên. L nói với anh T1 là L đang làm tại Bệnh viện B1, có thể xin được cho người khác vào làm việc tại các bệnh viện ở Hà Nội. Tại thời điểm này, anh T1 có người quen là ông Tạ Văn H, sinh năm 1968, HKTT: Thôn T, xã Y, huyện Y, tỉnh Hưng Yên, có con gái là chị Tạ Thị L1, sinh năm 1992 tốt nghiệp hệ Cao đẳng y tế, chuyên ngành điều dưỡng, đang muốn tìm việc làm tại các Bệnh viện ở Hà Nội. Do đó, vào khoảng cuối tháng 5/2014, anh T1 đã giới thiệu cho ông H gặp L để nhờ L xin việc cho chị L1. Mặc dù ở thời điểm này L cũng đang thất nghiệp, không có khả năng tuyển dụng hoặc giới thiệu việc làm vào ngành y tế, nhưng khi gặp ông H, L đã nói dối với ông H là L có người nhà làm ở Bộ Y, sẽ xin được cho chị L1 vào làm y tá tại Bệnh viện V - Hà Nội. Tuy nhiên, điều kiện để xin được việc làm cho chị L1 là ông H phải đưa cho L số tiền là 350.000.000đ, nếu ông H đồng ý thì phải đưa trước cho L 200.000.000₫ cùng với 2 bộ hồ sơ xin việc của chị L1, khi nào chị L1 được tuyển dụng thì ông H phải đưa tiếp cho L 150.000.000đ. Do tin tưởng các thông tin mà L đưa ra là thật nên ông H đã 2 lần đưa tiền và hồ sơ xin việc của chị L1 cho L. Cụ thể như sau:

Lần thứ nhất: Khoảng 19 giờ ngày 04/6/2014, tại nhà anh Đàm Huy T1, ông H đưa cho L 100.000.000đ và 2 bộ hồ sơ xin việc của chị L1. Khi nhận tiền của ông H, L tự viết giấy giao nhận tiền với nội dung nhận tiền cọc lần đầu của ông H là 100.000.000₫ để xin việc cho con ông H trong thời hạn 45 ngày kể từ ngày 04/6/2014, nếu sai phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và chịu tiền lãi theo lãi suất ngân hàng. Việc giao nhận tiền như trên có sự chứng kiến của anh T1 và ông Phạm Văn Q, sinh năm 1960 ở cùng thôn với ông H (L đã ký và ghi rõ họ tên vào phần người nhận tiền, ông H ký và ghi rõ họ tên vào phần người giao tiền, anh T1 ký và ghi rõ họ tên vào phần người làm chứng).

Lần thứ hai: Vào khoảng 19 giờ ngày 18/6/2014 và cũng tại nhà của anh Đàm Huy T1, ông H lại tiếp tục đưa cho L 100.000.000đ. Hai bên có nhờ anh T1 viết “Giấy giao tiền và cam kết xin việc”, nội dung là ông H giao cho L số tiền 100.000.000đ, tổng 2 lần giao tiền cho L là 200.000.000đ, L cam kết ngày 26/6/2014 con gái ông H sẽ được đi làm tại Bệnh viện V, nếu sai thì L chịu hoàn toàn trách nhiệm trước pháp luật. Sau khi anh T1 viết giấy, L cũng ký và ghi rõ họ tên vào phần người nhận cam kết, ông H ký và ghi rõ họ tên vào phần người làm giấy, anh T1 ký và ghi rõ họ tên trong phần của người làm chứng. Việc viết giấy cam kết và giao nhận tiền như trên cũng có sự chứng kiến của ông Phạm Văn Q.

Sau 2 lần nhận tiền của ông H, L không xin việc cho con gái ông H mà bỏ trốn khỏi địa phương và cũng không quay lại nhà anh D nữa. Ông H nhiều lần gọi điện cho L để đòi lại tiền, L hứa sẽ trả nhưng không trả lại tiền cho ông H và cắt liên lạc hoàn toàn với ông H. Ông H đến nơi đăng ký hộ khẩu thường trú của L ở xã N, huyện N, tỉnh Nam Định nhưng cũng không tìm được L. Ngày 28/8/2018 ông H gửi đơn đến Cơ quan CSĐT Công an huyện V tố giác hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của L, giao nộp 2 tờ giấy giao nhận tiền và cam kết xin việc mà L đã ký kết với ông H.

Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã nhiều lần triệu tập L, nhưng L đều không có mặt. Ngày 20/9/2018, Cơ quan CSĐT ra Thông báo truy tìm người đối với Nguyễn Thị L và ngày 31/12/2018, Cơ quan CSĐT Công an huyện V ra Quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết nguồn tin về tội phạm. Đến ngày 21/5/2024, VKSND huyện V yêu cầu Cơ quan CSĐT Công an huyện V phục hồi giải quyết nguồn tin về tội phạm. Đến ngày 04/12/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện V ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can và bắt bị can để tạm giam đối với Nguyễn Thị L.

Quá trình điều tra vụ án, Nguyễn Thị L khai nhận: Sau khi nhận của ông H số tiền 200.000.000đ, L đã chuyển 100.000.000đ cho người đàn ông có tên là T2 quê ở tỉnh Quảng Bình (nhưng không rõ nhân thân, lý lịch của người này) để người này xin việc cho chị L1. Còn người này có xin việc cho chị L1 hay không thì L không biết, còn L giữ lại số tiền 100.000.000đ và đã tiêu xài cá nhân hết.

Về trách nhiệm dân sự: Ông H yêu cầu L phải trả lại số tiền 200.000.000₫ và không yêu cầu trả lãi của số tiền trên.

Quá trình điều tra, L đã thành khẩn khai nhận, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình.

Tại bản cáo trạng số: 34/CT-VKSVG ngày 11/3/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh Hưng Yên đã truy tố Nguyễn Thị L về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999 đã sửa đổi, bổ sung năm 2009.

Tại phiên toà hôm nay:

  • Bị hại khẳng định số tiền bị L chiếm đoạt là tài sản riêng của bị hại và yêu cầu L phải bồi thường 200.000.000 đồng, không yêu cầu trả lãi.
  • Bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu, đồng ý trả lại 200.000.000 đồng cho ông H theo yêu cầu của ông H.
  • Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố tại bản cáo trạng, phân tích tính nguy hiểm trong hành vi phạm tội của bị cáo, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX):

Áp dụng: Điểm a, khoản 3 điều 139; Điều 33; Khoản 1 Điều 42; Điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị L phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị L từ 07 năm 03 tháng đến 07 năm 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày L bị tạm giam 04/12/2024.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 357, Điều 468, khoản 1 Điều 584, Điều 585, Điều 589 Bộ luật dân sự năm 2015. Buộc bị cáo phải trả ông Tạ Văn H số tiền 200.000.000 đồng.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng:

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân huyện V trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền và trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tam gia tố tụng khác không khiếu nại gì đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Hành vi tố tụng, quyết định tố tụng, người tiến hành tố tụng đều đúng quy định của pháp luật.

Những người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa. Bị cáo không có ý kiến gì. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử xét xử vụ án vắng mặt họ. Xét thấy những người tham gia tố tụng vắng mặt nhưng họ đã có lời khai trong hồ sơ vụ án và đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án, nên HĐXX căn cứ khoản 1 điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự xét xử vụ án vắng mặt những người làm chứng.

[2]. Về hành vi phạm tội: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp khách quan với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với đơn trình báo và lời khai của bị hại, lời khai của những người làm chứng, các giấy giao tiền và xin việc và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được Cơ quan điều tra thu thập theo quy định của pháp luật. Do đó, HĐXX đã có đủ cơ sở kết luận: Vào các ngày 04 và 18/6/2014, tại nhà của anh Đàm Huy T1 ở thôn C, xã X, huyện V, tỉnh Hưng Yên, Nguyễn Thị L đã đưa ra những thông tin gian dối là có khả năng xin được việc cho chị Tạ Thị L1 là con ông Tạ Văn H ở thôn T, xã Y, huyện Y, tỉnh Hưng Yên vào làm y tá tại Bệnh viện V - Hà Nội và chiếm đoạt của ông H số tiền 200.000.000 đồng và tiêu xài cá nhân hết. Bị cáo khai đã đưa cho một người tên T2 ở Quảng Bình 100.000.000 đồng để người này xin việc cho chị L1 nhưng không có căn cứ chứng minh việc giao nhận tiền, không xác định được sự tồn tại của người này nên HĐXX xác định bị cáo đã chiếm đoạt của ông H 200.000.000 đồng. Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì lòng tham mà vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm a khoản 3 Điều 139 Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Vì muốn chiếm đoạt tài sản của bị hại, bị cáo đã đánh mất lòng tin của người thân và danh dự của bản thân.

[3]. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự.

[4]. Về hình phạt chính: Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, HĐXX xét thấy cần áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ điều kiện giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội, góp phần phòng ngừa chung. Đây cũng là bài học cho mọi người, cần cảnh giác trong việc đặt niềm tin cũng như giao tài sản của mình cho người khác.

[5]. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, không có tài sản riêng, không làm công việc và nghề nghiệp liên quan đến việc phạm tội nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6]. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại yêu cầu L phải bồi thường số tiền 200.000.000 đồng. L đồng ý bồi thường cho bị hại. Xét thấy đây là thiệt hại do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, yêu cầu của bị hại là phù hợp với quy định của pháp luật nên buộc bị cáo L phải bồi thường cho bị hại số tiền nêu trên.

[7]. Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Các giấy giao tiền, giấy giao tiền và cam kết xin việc là chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo nên cần tiếp tục lưu hồ sơ để quản lý.

[8]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ vào:

  • Điểm a khoản 3 Điều 139; Điều 33; Khoản 1 Điều 42; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009.
  • Khoản 2 Điều 275; Điều 357; Điều 468; khoản 1 Điều 584, Điều 585, Điều 587, Điều 589 Bộ luật dân sự năm 2015.
  • Khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136; Điều 299; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

2. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị L phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

3. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị L 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giam 04/12/2024.

4. Về trách nhiệm dân sự: Buộc Nguyễn Thị L phải trả lại ông Tạ Văn H số tiền 200.000.000đ (Hai trăm triệu đồng).

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

5. Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Lưu hồ sơ để quản lý 01 giấy giao tiền, 01 giấy giao tiền và cam kết xin việc.

6. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Thị L phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 10.000.000₫ (Mười triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

7. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Phòng KTNV&THA, TAND tỉnh HY.
  • - VKSND tỉnh Hưng Yên.
  • - CA tỉnh Hưng Yên.
  • - VKS huyện V.
  • - Chi cục THADS huyện V.
  • - Bị cáo, bị hại;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị M

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 33/2025/HS-ST ngày 03/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V - TỈNH HƯNG YÊN về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 33/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V - TỈNH HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án hình sự số 33/2025/HS-ST về Nguyễn Thị L về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger