|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LỘC TỈNH HẢI DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 33/2025/HS-ST Ngày 03/4/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LỘC, TỈNH HẢI DƯƠNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thắm.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Nguyên và bà Lê Thị Hằng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Khoa Trung- Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Bà Ngô Thị Thu Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 15/2025/TLST-HS ngày 06 tháng 3 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2025/QĐXXST-HS 19/3/2025, thông báo thay đổi thời gian mở phiên toà đối với bị cáo:
Phạm Đức H
, sinh năm 1996 tại Gia Lộc, Hải Dương. Nơi đăng ký thường trú: Thôn K, xã T, huyện G, tỉnh Hải Dương. Nghề nghiệp: Kinh doanh. Trình độ học vấn: 09/12. Dân tộc: Kinh. Giới tính: Nam. Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Phạm Đức K và bà Vũ Thị K1 (đã chết); Có vợ là Lê Thị Thu T và có 02 con, con lớn sinh năm 2021, con nhỏ sinh năm 2024.
Tiền án, tiền sự: Chưa.
Nhân thân: Bị cáo đang bị tạm giam trong vụ án khác tại Trại tạm giam Công an tỉnh H (Bị cáo có mặt tại phiên toà).
Người làm chứng:
Chị Phạm Thị T1, ông Lê Văn H1, bà Phạm Thị M, chị Phạm Thị S, chị Phạm Thị T2, chị Phạm Thị Lan A, chị Nguyễn Thị Tuyết M1, anh Nguyễn Văn T3, anh Phạm Ngọc L, anh Nguyễn Văn T4, anh Phạm Ngọc P, anh Nguyễn Văn N, anh Nguyễn Đức K2, chị Phạm Thị U, chị Nguyễn Thị M1, chị Trần Thị Hòa B, chị Đinh Thị T5, anh Trần Đình H2, anh Phạm Văn T6, chị Nguyễn Thị Á, anh Nguyễn Văn T7, chị Nguyễn Thị L1, anh Bùi Quang L2, sinh năm 2000; địa chỉ: Khu G, thị trấn G, huyện G, tỉnh Hải Dương, anh Nguyễn Trung Q, anh Nguyễn Minh S1, anh Nguyễn Như S2, Công ty cổ phần D, Công ty cổ phần B1.
(Đều vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phạm Đức H thành lập Hộ kinh doanh PHẠM ĐỨC H, địa chỉ: thôn K, xã T, huyện G, tỉnh Hải Dương, được Phòng tài chính - Kế hoạch UBND huyện G cấp Giấy phép đăng ký kinh doanh lần đầu số 04G8005164, ngày 12/10/2018; Đăng ký thay đổi lần thứ nhất ngày 17/6/2022; N1, nghề kinh doanh: Bán hàng online: Vải, quần áo thời trang, giầy dép, kính, mũ, dây lưng, túi xách, ví da, hóa mỹ phẩm nội, ngoại, mua bán nguyên liệu, phụ kiện ngành may mặc, giầy da. Hộ kinh doanh của H thực hiện đăng ký thuế, kê khai, nộp thuế với cơ quan thuế từ năm 2019 theo phương pháp tính thuế Giá trị gia tăng (GTGT): Phương pháp khoán, với tỷ lệ % tính thuế GTGT: 1%; Thuế suất thu nhập cá nhân (TNCN): 0,5%, mã số thuế là: 8397615962. Do ảnh hưởng của dịch Covid nên ngày 28/12/2021, Hộ kinh doanh của H thực hiện chấm dứt hoạt động của cá nhân kinh doanh, trạng thái: Ngừng hoạt động và đã hoàn thành nghĩa vụ tài chính theo Thông báo về việc người nộp thuế chấm dứt hiệu lực mã số thuế số 368/TB-CCTKV ngày 24/02/2022 của Chi cục thuế khu vực T8. Do vậy, từ 01/01/2022 đến 31/12/2022, Hộ kinh doanh không kê khai, thực hiện nghĩa vụ thuế cụ thể:
Trong năm 2022, H tìm và thuê các đơn vị gia công để sản xuất các loại quần áo may sẵn cho nam giới theo mẫu thiết kế của H. Sau khi hoàn thiện, quần áo đều có gắn nhãn hiệu AELIMITED và gắn kèm mác giấy ghi thông tin địa chỉ cơ sở kinh doanh tại: Thôn K, xã T, huyện G, tỉnh Hải Dương và thông tin “MADE IN VIETNAM”, thể hiện sản phẩm sản xuất tại Việt Nam rồi được đóng gói bao bì hoàn thiện. Nguyên vật liệu để sản xuất do H tự mua hoặc đơn vị gia công mua tùy theo giai đoạn. Đến khoảng tháng 8 năm 2022, H bắt đầu đưa quần áo vào kinh doanh bán lẻ bằng hình thức online (trực tuyến), tức là bán hàng qua mạng xã hội Facebook bằng cách đăng tải video trực tuyến, livestream, khách hàng có thể đặt hàng trong thời gian xem livestream hoặc qua các bài đăng quảng cáo, giới thiệu sản phẩm và nhắn tin hoặc gọi điện đặt hàng, các trang mạng facebook có tên: Hải Idol vượt khó; Hải Idol vượt khổ và AELimitted chính hãng. Toàn bộ các đơn hàng đều được tạo vận đơn và chuyển hàng qua đơn vị chuyển phát hàng hóa. Hộ kinh doanh không bán lẻ trực tiếp tại trụ sở giao dịch và không có cửa hàng, chi nhánh hoặc cộng tác viên bán hàng.
H đã sử dụng dịch vụ chuyển phát do Công ty cổ phần D, trụ sở: 405/15 X, phường B, quận B, thành phố Hồ Chí Minh (gọi tắt là công ty D) cung cấp dịch vụ. Ngoài ra, trong tháng 10/2022, H có sử dụng thêm dịch vụ chuyển phát do Tổng công ty cổ phần B2, trụ sở: Số B, ngõ A đường D, phường D, quận C, thành phố Hà Nội (gọi tắt là công ty V) cung cấp dịch vụ, tuy nhiên, do giá chi phí chuyển phát cao nên H dừng, không sử dụng dịch vụ chuyển phát của công ty V và tiếp tục sử dụng dịch vụ chuyển phát của công ty D hàng nhanh. Các đơn hàng chuyển phát phần lớn đều sử dụng dịch vụ thu tiền COD (là dịch vụ thu tiền theo phương thức: Khách hàng thanh toán tiền hàng khi nhận hàng), khi giao thành công và thu được tiền COD, đơn vị chuyển phát sau khi trừ chi phí chuyển phát sẽ chuyển tiền về tài khoản ngân hàng của H3 kinh doanh. Ngoài ra còn các đơn hàng giao thành công cho khách hàng mà không thu tiền COD gồm: Đơn quà tặng, đơn hàng do khách đổi mẫu, đơn hàng mà khách hàng đã thanh toán qua chuyển khoản ngân hàng trước khi giao hàng... Ngoài tiền thu được, có một số đơn khách đã thanh toán tiền nhưng trả lại hàng, H chuyển tiền trả lại cho khách. Trong năm 2022, H đã sử dụng 02 số tài khoản ngân hàng để nhận tiền bán hàng hóa (gồm tiền COD do các đơn vị giao hàng chuyển đến và tiền khách hàng mua hàng chuyển khoản trực tiếp), trả lại tiền cho khách và thực hiện các hoạt động thu, chi của H3 kinh doanh bao gồm: Tài khoản ngân hàng số [...] mang tên Phạm Ngọc P; tài khoản ngân hàng số [...] mang tên Lê Thị Thu T đều mở tại Ngân hàng TMCP Á1 (A1). Các tài khoản này H mượn của Phạm Ngọc P, là nhân viên làm thuê và Lê Thị Thu T là vợ của Phạm Đức H để sử dụng.
Căn cứ theo số liệu số tiền COD thu được từ khách hàng qua dịch vụ chuyển phát của công ty D, công ty V, các giao dịch trả lại tiền cho khách hàng, các giao dịch nhận tiền do khách hàng chuyển tiền đến tài khoản ngân hàng trước khi nhận hàng hóa, xác định trong năm 2022: Tiền COD có được qua dịch vụ chuyển phát của Công ty D là: 8.945.942.183 đồng, Tiền COD có được qua dịch vụ chuyển phát của Công ty V là: 112.115.420 đồng; Tiền khách chuyển khoản trả trước là: 91.438.000 đồng; tiền chuyển khoản trả lại khách hàng từ tài khoản ngân hàng của Lê Thị Thu T là: 52.077.800 đồng, tiền chuyển khoản trả lại khách hàng từ tài khoản ngân hàng của Phạm Ngọc P là: 20.007.000 đồng. Vì vậy, tổng doanh thu năm 2022 của H3 kinh doanh Phạm Đức H là: 8.945.942.183 đồng + 112.115.420 đồng + 91.438.000 đồng - 52.077.800 đồng - 20.007.000 đồng = 9.077.410.803 đồng.
Tại kết luận giám định ngày 12/02/2025 của Cục thuế tỉnh H kết luận:
Căn cứ các quy định pháp luật và nội dung theo hồ sơ giám định, hộ kinh doanh Phạm Đức H năm 2022 có hoạt động kinh doanh trong thời gian ngừng, hoạt động kinh doanh nhưng không thông báo với cơ quan quản lý thuế, không nộp hồ sơ khai thuế là hành vi trốn thuế. Số thuế trốn xác định lại theo doanh thu 9.077.410.803 đồng là: 136.161.162 đồng, trong đó:
- - Thuế giá trị gia tăng: 9.077.410.803 đồng x 1% = 90.774.108 đồng;
- - Thuế thu nhập cá nhân: 9.077.410.803 đồng x 0,5% = 45.387.054 đồng.
Về vật chứng: 01 USB chứa dữ liệu điện tử là Bảng đối soát COD do Công ty D hàng nhanh cung cấp được niêm phong lưu theo hồ sơ vụ án.
Quá trình điều tra: Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội, bị cáo H ủy quyền cho vợ là Lê Thị Thu T nộp số tiền 134.200.000 đồng là tiền trốn thuế để khắc phục hậu quả. Số tiền trên hiện đã chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gia LộT8.
Cáo trạng số 14/CT-VKS ngày 04/3/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương truy tố Phạm Đức H về tội “Trốn thuế” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 200 Bộ luật Hình.
Tại phiên tòa: Bị cáo khai nhận thực hiện hành vi như Viện kiểm sát truy tố và trình bày vì mục đích vụ lợi, bị cáo muốn chiếm đoạt số tiền thuế phải nộp vào ngân sách nhà nước nên đã thực hiện hành vi phạm tội.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố Phạm Đức H phạm tội “Trốn thuế”. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 200; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt Phạm Đức H từ 03 tháng đến 06 tháng tù, thời gian tính từ ngày thi hành án; Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Căn cứ các 47 Bộ luật hình sự; Điều 106; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ul. Buộc bị cáo H phải nộp vào Ngân sách nhà nước số tiền 136.161.162 đồng, bị cáo đã nộp 134.200.000đ ồng, số tiền còn phải nộp là 1.961.162đồng. Buộc các bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Bị cáo nói lời sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Toà án nhận định như sau:
[1]. Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G, Điều tra viên; VKSND huyện Gia Lộc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của chính bị cáo tại giai đoạn điều tra, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, các kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy có đủ cơ sở kết luận: Trong năm 2022, Phạm Đức H kinh doanh hàng hoá là các loại quần áo may sẵn cho nam giới với doanh thu là 9.077.410.803 đồng nhưng H không nộp hồ sơ kê khai thuế thu nhập cá nhân với số tiền phải nộp là 45.387.054 đồng và thuế giá trị gia tăng là 90.774.108 đồng. Tổng số tiền mà Phạm Đức H thuế trốn 136.161.162 đồng.
Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo biết rõ mục đích không kê khai nộp thuế theo quy định là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước, chính sách thuế đối với các hoạt động sản xuất, kinh doanh; gây thiệt hại khoản thuế thu nộp ngân sách nhà nước là 136.161.162 đồng nên hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trốn thuế” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 200 Bộ luật hình sự. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương truy tố đối với bị cáo Phạm Đức H về “Trốn thuế” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 200 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Xét về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự nên không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Sau khi phạm tội, bị cáo thành khẩn khai báo và chủ động nộp lại một phần số tiền để khắc phục hậu quả. Bị cáo có nhiều đóng góp cho hoạt động thiện nguyện, nhận được nhiều giấy khen, giấy xác nhận, thư cảm ơn của các cơ quan tổ chức như: Giấy xác nhận tài trợ xây nhà tình nghĩa, nhà Đại đoàn kết của Ủy ban mặt trận Tổ quốc Việt Nam xã T, Giấy khen của Trường P1, huyện P, Giấy khen của ban chấp hành Đoàn TNCS Hồ Chí Minh huyện T, tỉnh Lai Châu nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Mặc dù bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nhưng hiện tại bị cáo đang bị khởi tố và truy tố trong vụ án Gây tối trật tự công cộng là không đảm bảo về điều kiện có nhân thân tốt để cho hưởng án treo theo hướng dẫn tại khoản 2 Điều 2 Nghị quyết 02/2018 /NQ-HĐTP ngày 15/05/2018 của Hội đồng thẩm phánToà án nhân dân tối cao do đó cần cách ly bị cáo một thời gian mới tác dụng giáo dục và đấu tranh phòng chống tội phạm.
[4] Về xử lý vật chứng: Tổng số tiền bị cáo trốn thuế là 136.161.162 đồng, quá trình điều tra bị cáo đã tự nguyện nộp 134.200.000đồng vào tài khoản tạm giữ của Chi cục thi hành án dân sự huyện Gia LộT8, bị cáo còn phải nộp tiếp số tiền 1.961.162 đồng. Do đó cần áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46; điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền mà bị cáo trốn thuế.
[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, bị cáo đang bị tạm giam nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật. Bị cáo H phải thực hiện nghĩa vụ hoàn trả tiền nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.
[7] Về các vấn đề khác:
Quá trình điều tra còn làm rõ doanh thu của hộ kinh doanh Phạm Đức H trong năm 2023 là: 23.284.451.101 đồng, H đã kê khai doanh thu 22.261.255.501 đồng và đã nộp 333.918.833 tiền thuế; trong năm 2024 (từ tháng 1 đến tháng 5 năm 2024) là: 8.833.771.400 đồng. Tại Kết luận giám định ngày 17/9/2024 của Cục thuế tỉnh H kết luận: Năm 2023, 2024 hộ kinh doanh đã kê khai thuế khoán, số thuế thiếu xác định là hành vi kê khai sai căn cứ tính thuế dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp, cụ thể: Năm 2023 là 3.347.934 đồng, trong đó: Thuế Giá trị gia tăng là 2.231.956 đồng, thuế Thu nhập cá nhân là 1.115.978 đồng; Năm 2024 (từ tháng 01 đến tháng 5) là 110.006.571 đồng, trong đó: Thuế Giá trị gia tăng là 73.337.714 đồng, thuế Thu nhập cá nhân là 36.668.857 đồng. Đối với hành vi kê khai sai số thuế phải nộp, Cơ quan CSĐT - Công an huyện G đã có Công văn số 170/ĐCSHS-KTMT ngày 11/02/2025 gửi Chi cục thuế huyện T8 về hành vi vi phạm hành chính của hộ kinh doanh Phạm Đức H.
Đối với Phạm Ngọc P, Lê Thị Thu T cho H mượn tài khoản ngân hàng vào năm 2022 và Phạm Thị T1, Phạm Thị M và Lê Văn H1 cho H mượn tài khoản ngân hàng vào năm 2023, 2024 để sử dụng vào mục đích kinh doanh nhưng không biết H có hành vi trốn thuế nên không cấu thành tội phạm nên không đặt ra việc xử lý. Tuy nhiên hành vi trên của Phạm Đức H, Phạm Ngọc P, Lê Thị Thu T, Phạm Thị T1, Phạm Thị M và Lê Văn H1 đã vi phạm quy định tại điểm a khoản 5 Điều 26 Nghị định số 88/2019/NĐ-CP ngày 14 tháng 11 năm 2019 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng được sửa đổi, bổ sung tại điểm c khoản 15 điều 1 Nghị định số 143/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ nên Cơ quan CSĐT Công an huyện G đã có Công văn số 125/ĐCSHS-KTMT ngày 06/02/2025 gửi Ngân hàng N2 chi nhánh tỉnh H về việc trao đổi thông tin vụ việc có dấu hiệu vi phạm hành chính để xử lý theo quy định pháp luật.
Qua giải trình số tiền nhận được trong tài khoản 338222888 của Phạm Ngọc P, xác định được Phạm Thị T1, sinh năm: 2002, trú tại: Thôn A, xã Đ, huyện G, tỉnh Hải Dương có kinh doanh trong tháng 09/2024, phát sinh doanh thu 131.414.134 đồng thuộc trường hợp phải nộp thuế giá trị gia tăng và phải nộp thuế thu nhập cá nhân theo quy định pháp luật về thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập cá theo quy định tại Điều 4 Thông tư số 40/2021/TT-BTC ngày 01/6/2021 của Bộ T9 hướng dẫn Thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập cá nhân và quản lý thuế đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh. Phạm Thị T1 chưa bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trốn thuế hoặc đã bị kết án về tội trốn thuế hoặc về một trong các tội quy định tại các Điều 188, 189, 190, 191, 192, 193, 194, 195, 196, 202, 250, 251, 253, 254, 304, 305, 306, 309 và 311 Bộ luật hình sự nên không phạm tội Trốn thuế, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G đã có Công văn số 171/CQĐT-ĐCSHS-KTMT ngày 11/02/2025 gửi Chi cục Thuế khu vực T8 về vụ việc trên để quản lý theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 200; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Đức H phạm tội “Trốn thuế”.
2. Về hình phạt: Xử phạt Phạm Đức H 03 (ba) tháng tù, thời gian tính từ ngày thi hành án.
3. Về xử lý vậy chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46, điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 136.161.162 đồng (Bị cáo đã nộp số tiền 134.200.000đồng vào tài khoản tạm giữ của Chi cục thi hành án dân sự huyện Gia LộT8) bị cáo còn phải nộp tiếp số tiền 1.961.162 đồng.
Kể từ ngày cơ quan thi hành án ra quyết định thi hành án, bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Buộc Phạm Đức H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Áp dụng Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án;
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thắm |
Bản án số 33/2025/HS-ST ngày 03/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LỘC, TỈNH HẢI DƯƠNG về hình sự sơ thẩm (trốn thuế)
- Số bản án: 33/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Trốn thuế)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LỘC, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: PĐH phạm tội trốn thuế
