|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 33/2025/HS-ST Ngày: 01/4/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông T
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà N, Nghề nghiệp: Giáo viên hưu trí
- Bà L, Nghề nghiệp: Cán bộ hưu trí
Thư ký phiên tòa: Ông Cy là Thư ký Toà án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Ông N - Kiểm sát viên
Ngày 01 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 10/2025/TLST-HS ngày 17 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2025/QDXXST-HS ngày 14 tháng 02 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 44/2025/HSST-QĐ ngày 03/3/2025, đối với bị cáo:
Trần Minh P; sinh ngày 28/6/2007 tại tỉnh Bình Phước; Nơi đăng ký thường trú: Thôn S, xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước; Nơi cư trú: Không nơi cư trú nhất định; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Điễu B, không rõ năm sinh và bà Trần Thị Kim O, sinh năm 1961;
Tiền án: Không; Tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/11/2024 cho đến nay. (có mặt)
Những người tham gia tố tụng:
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo: Chị Trần Phương L, sinh năm 1996 (chị ruột của bị cáo). (có mặt)
Địa chỉ: Thôn S, xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước.
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Thanh G - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà Nước Thành phố H. (có mặt)
Địa chỉ: D N, Phường 1, Quận A, TP ..
- Bị hại:
- Chị Huỳnh Lê Thảo M, sinh năm 2004 (vắng mặt)
- Chị H Trần Phương N, sinh năm 2005 (vắng mặt)
Địa chỉ: D T, phường B, quận B, TP . Hồ Chí Minh.
Địa chỉ: 7 Bờ Bao T, phường S, quận T, TP ..
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Ngô Minh S, sinh năm 1997 (vắng mặt)
Địa chỉ thường trú: Khu phố T, thị trấn P, huyện P, tỉnh Bình Định.
Nơi cư trú: A đường số B, phường H, Tp ., TP ..
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Minh P làm thuê cho các dịch vụ quay livestream quảng cáo, P thấy các người mẫu và nhân viên trang điểm thường sử dụng các tài sản có giá trị. P nảy sinh ý định lừa đảo kiếm tiền tiêu xài. Để thực hiện hành vi lừa đảo, P dùng tài khoản Facebook "Huong Ly" của P vào các hội nhóm "Tuyển mẫu make up" để tìm người mẫu phụ giúp trang điểm và thay y phục cho người mẫu. P biết được chị Huỳnh Lê Thảo M đang tìm làm thuê trang điểm cho người mẫu livestream. P nhắn tin vào tài khoản của chị M giả làm người có nhu cầu thuê làm việc với giá 300.000 đồng (thời gian làm việc từ 15 giờ đến hết buổi quay livestream), chị M đồng ý và cho biết có chị H Trần Phương N muốn xin làm phụ giúp thay y phục cho người mẫu thì P đồng và thỏa thuận giá thuê 300.000 đồng như của chị M.
Đến khoảng 09 giờ ngày 31/10/2024, P dùng hình ảnh căn cước tên Phạm Anh T (lấy trên mạng) liên lạc qua Zalo với chị Trần Tiểu L1 để thuê căn hộ B chung cư R số A B, Phường F, Quận D với giá 900.000 đồng 01 ngày. Sau đó, P nhắn tin cho chị M và chị N nói khoảng 15 giờ ngày 31/10/2024 đến căn hộ trên để làm việc. Đúng hẹn chị M và chị N đến chung cư R thì gặp P ở sảnh chung cư đón đưa lên căn hộ và giới thiệu P cũng là người được "Huong Ly" thuê. P cho biết khi thực hiện livestream sẽ tốn nhiều dung lượng nên yêu cầu chị M và chị N thoát icloud trên điện thoại 12 pro max của chị M và chị N đang sử dụng để P nhập icloud của P có nhiều dung lượng hơn. Sau đó, P yêu cầu chị M và chị N cắm sạc điện thoại để đủ pin quay livestream và để chị M và chị N hạn chế việc bảo quản điện thoại. Đến 18 giờ cùng ngày, P nói với chị M và chị N có người mẫu đến để quay livestream nên yêu cầu chị M và chị N cùng P xuống sảnh chung cư đón người mẫu. Chị M và chị N nghĩ xuống đón khách xong sẽ lên làm việc nên vẫn để điện thoại cắm sạc và đi ra phòng ngoài thì P nhanh chóng lấy 02 điện thoại của chị M và chị N bỏ vào túi da đen đeo trước ngực rồi đi ra khỏi căn hộ trên cùng chị M và chị N xuống sảnh chung cư. Khi ở sảnh chung cư P nói với chị M và chị N là P đi mua đồ ăn và nước uống xong sẽ quay lại, nhưng P vòng ra phía sau chung cư bắt taxi xanh SM đi về nhà I Â, Phường A, quận T (nhà của Hoàng Gia P1 bạn P). P nói cho P1 nghe là 02 điện thoại trên là của dì P bên Mỹ đem về. P thấy điện thoại P1 cũ nên cho P1 mượn 01 cái để sử dụng (điện thoại của chị M), điện thoại của chị N thì P xóa hết dữ liệu rồi lên mạng Facebook bán cho Ngô Minh S 10.000.000 đồng. Đến ngày 01/11/2024, P bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Q mời lên làm việc và P khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên (BL: 41-55).
Kết luận giám định độ tuổi trên người sống số 6814/KLGĐĐT-C09B ngày 13/11/2024 của Phân viện KHHS tại TP . kết luận: tại thời điểm giám định Trần Minh P có độ tuổi từ 17 năm 6 tháng đến 18 năm. Do đó tại thời điểm phạm tội P đủ 17 tuổi dưới 18 tuổi (BL: 76-78).
Kết luận định giá tài sản số 77/KL-HĐĐGTS ngày 13/11/2024 của Hội kết luận: 01 điện thoại Iphone 12 pro max, màu xanh dương, dung lượng 256Gb, có giá 12 triệu đồng; 01 điện thoại Iphone 12 pro max, màu vàng, dung lượng 256Gb, có giá 12 triệu đồng (Bl: 73-75).
Vật chứng vụ án:
- 01 điện thoại Iphone 12 pro max, màu xanh dương, dung lượng 256Gb và 01 điện thoại Iphone 12 pro max, màu vàng, dung lượng 256Gb. Cơ quan cảnh sát điều tra đã trao trả 02 điện thoại trên cho Huỳnh Lê Thảo M và H Trần Phương N.
- 01 điện thoại Iphone 14 pro max của Trần Minh P
- Số tiền 10.000.000 đồng (đã nộp kho bạc Quận D) là tiền Phong bán điện thoại cho Ngô Minh S (Trần Phương L giao nộp).
Toàn bộ số vật chứng tạm giữ trên Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an Q đã nhập kho vật chứng Cơ quan Thi hành án dân sự.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại chị Huỳnh Lê Thảo M và chị H Trần Phương N đã nhận lại tài sản do bị cáo P chiếm đoạt, không yêu cầu bị cáo P bồi thường gì thêm.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Ngô Minh S yêu cầu bị cáo P hoàn trả số tiền 10.000.000 đồng đã bỏ ra để mua Iphone 12 pro max, màu xanh dương, dung lượng 256Gb do bị cáo P chiếm đoạt được của chị N.
Tại Cáo trạng số 27/CT-VKS ngày 16/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Trần Minh P về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
- Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã nêu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu và kết luận cáo trạng đã truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, Sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 174 và điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 90; Điều 91; Điều 98; Điều 101 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 tuyên bị cáo Trần Minh P phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, xử phạt bị cáo Trần Minh P từ 09 tháng đến 12 tháng tù.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại chị Huỳnh Lê Thảo M và chị H Trần Phương N đã nhận lại tài sản do bị cáo P chiếm đoạt, không yêu cầu bị cáo P bồi thường gì thêm nên không đặt ra xem xét giải quyết.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Ngô Minh S yêu cầu bị cáo P hoàn trả số tiền 10.000.000 đồng đã bỏ ra để mua Iphone 12 pro max, màu xanh dương, dung lượng 256Gb do bị cáo P chiếm đoạt được của chị N là có cơ sở đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.
- Về xử lý vật chứng, căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Trả lại cho bị cáo Trần Minh P 01 điện thoại Iphone 14 pro max của Trần Minh P không liên quan đến hành vi phạm tội.
- - Số tiền 10.000.000 đồng (đã nộp kho bạc Quận D) là tiền Phong bán điện thoại cho Ngô Minh S (Trần Phương L giao nộp) trả lại cho ông Ngô Minh S.
Phần tranh luận: Bị cáo không tranh luận.
Người bào chữa cho bị cáo tranh luận: Thống nhất với quyết định truy tố của Viện kiểm sát về tội danh, tình tiết giảm nhẹ và điều luật áp dụng. Tuy nhiên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét thêm về điều kiện hoàn cảnh khó khăn của bị cáo, do cha mẹ mất sớm, bị cáo ở một mình và phải tự lo cho cuộc sống của bản thân. Tang vật đã trả lại cho bị hại, số tiền 10.000.000 đồng là tiền bị cáo P bán điện thoại cho Ngô Minh S đã nộp kho bạc Quận D do Trần Phương L là chị của bị cáo giao nộp. Ngoài ra, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm khoản 1 Điều 119 Luật Tư pháp người chưa thành niên áp dụng mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá ba phần năm mức phạt tù mà điều luật của Bộ luật Hình sự quy định tuyên mức hình phạt thấp nhất và thấp hơn mức đề nghị của Viện kiểm sát đối với bị cáo P.
Lời nói sau cùng: Bị cáo đã nhận thức được sai phạm, xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại các biên bản tự khai, biên bản lấy lời khai các bị cáo đều trình bày lời khai hoàn toàn tự nguyện. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai những người làm chứng cùng các tài liệu và chứng cứ khác có trong hồ sơ đã đủ cơ sở để kết luận:
Ngày 31/10/2024, tại chung cư R số A B, Phường F, Quận D Trần Minh P dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt là 02 chiếc điện thoại di động hiệu iphone 12 pro max của chị Huỳnh Lê Thảo M và chị H Trần Phương N, với tổng giá trị tài sản là 24.000.000 đồng. Hành vi của Trần Minh P đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Quận 4 truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về nhân thân: Bị cáo không có tiền án, tiền sự.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo nên Hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, Sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[5] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an xã hội. Do đó, cần xử lý nghiêm trước pháp luật để giáo dục và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, bị cáo là người chưa thành niên phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, nên Hội đồng xét xử áp dụng những quy định đối với người dưới 18 tuổi phạm tội tại Chương XII Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và khoản 1 Điều 119 Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024 để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại chị Huỳnh Lê Thảo M và chị H Trần Phương N đã nhận lại tài sản do bị cáo P chiếm đoạt, không yêu cầu bị cáo P bồi thường gì thêm, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
Đối với yêu cầu của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Ngô Minh S: Yêu cầu bị cáo P hoàn trả số tiền 10.000.000 đồng đã bỏ ra để mua Iphone 12 pro max, màu xanh dương, dung lượng 256Gb do bị cáo P chiếm đoạt được của chị N là có cơ sở và tại phiên tòa bị cáo P cũng đồng ý với yêu cầu này nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Trích từ số tiền 10.000.000 đồng đã nộp Kho bạc nhà nước Quận 4 theo biên nhận giao nộp tiền ngày 02/01/2025, là tiền bị cáo P bán điện thoại cho Ngô Minh S do chị Trần Phương L giao nộp để thi hành án.
[7] Về xử lý vật chứng, đề nghị:
- 01 điện thoại Iphone 14 pro max của Trần Minh P không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo.
- Số tiền 10.000.000 đồng (đã nộp kho bạc Quận D) là tiền Phong bán điện thoại cho Ngô Minh S (Trần Phương L giao nộp) nên trả lại cho ông Ngô Minh S.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) theo Điều 135 và Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 174 và điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 90; Điều 91; Điều 98; Điều 101 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Khoản 1 Điều 119 Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024;
Xử phạt: Bị cáo Trần Minh P 09 (chín) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 04/11/2024.
Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại chị Huỳnh Lê Thảo M và chị H Trần Phương N đã nhận lại tài sản do bị cáo Trần Minh P chiếm đoạt, không yêu cầu bị cáo P bồi thường gì thêm, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
Buộc bị cáo Trần Minh P phải trả lại ông Ngô Minh S số tiền 10.000.000 đồng đã bỏ ra để mua Iphone 12 pro max, màu xanh dương, dung lượng 256Gb do bị cáo P chiếm đoạt được của chị H Trần Phương N (trích từ số tiền 10.000.000 đồng đã nộp Kho bạc nhà nước Q1 theo biên nhận giao nộp tiền ngày 02/01/2025) để thi hành án.
Căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Về xử lý vật chứng:
- Trả lại cho bị cáo Trần Minh P 01 điện thoại Iphone 14 pro max.
- Trả lại số tiền 10.000.000 đồng (Giấy nộp tiền vào Kho bạc nhà nước Q1 ngày 02/01/2025) cho ông Ngô Minh S.
(Vật chứng được tạm giữ theo biên bản giao, nhận vật chứng số 52/2025 ngày 28/02/2025 giữa Công an Q và Chi cục Thi hành án dân sự Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh; Giấy nộp tiền vào Kho bạc nhà nước Q1 ngày 02/01/2025).
Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 13/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Căn cứ Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị cáo chưa thành niên, người bào chữa cho bị cáo chưa thành niên có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại, người có nghĩa vụ quyền lợi liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.
Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tần Quốc Bình |
Bản án số 33/2025/HS-ST ngày 01/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự sơ thẩm về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 33/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 01/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Minh P - Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
