TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 33/2025/HS - PT | |
Ngày 23/6/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có;
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Kiên
Các Thẩm phán: Ông Phạm Trung Thực và Ông Hoàng Tuấn Trọng.
Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu - Thư ký TAND tỉnh Hưng Yên
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa: Ông Vũ Đức Thuỷ - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 6 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 46/2025/TLPT - HS ngày 09 tháng 5 năm 2025; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 53/2025/QĐXX-HS ngày 09 tháng 6 năm 2025, do có kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo.
Bị cáo có kháng cáo: Ngô Tiến M, sinh năm 1991, nơi thường trú: Tổ dân phố P, phường B, thị xã M, tỉnh Hưng Yên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Văn N và con bà Phạm Thị T; có vợ là Phạm Thị T1 và có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2013, con nhỏ nhất sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/12/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Hồi 10 giờ 30 phút ngày 24/12/2024, tại nhà nghỉ L thuộc thôn Đ, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Hưng Yên, Công an thị trấn Y kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang Ngô Tiến M và La Nhật D, sinh năm: 2006, trú tại: Thôn D, xã T, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang; chỗ ở tại thôn L, xã L, huyện Y, tỉnh Hưng Yên đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ tại nền nhà cạnh vị trí Ngô Tiến M đứng: 01 khẩu trang y tế màu trắng xanh, bên trong có 01 túi nilon màu trắng, miệng viền màu xanh, có kích thước (4x3)cm, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng (niêm phong ký hiệu M1), M khai là ma túy mục đích để sử dụng; thu tại túi áo khoác bên phải M đang mặc 02 bật lửa ga màu vàng và xanh; 01 ống hút nhựa màu đen dài 40cm đường kính 0,5cm một đầu được gắn với nắp vỏ chai nhựa màu trắng; 01 coóng thủy tinh màu trắng, dài 15cm, đường kính 0,5cm một đầu uốn cong và có hình cầu đường kính 1,5cm; thu tại túi quần phía trước bên phải M đang mặc 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A13 màu đen, bên trong lắp sim số 0866.055.977 và 0364.766.899; quản lý 01 xe mô tô Piaggio Liberty màu trắng, biển số 89F1- 187.47. Ngô Tiến M khai nhận số ma túy bị thu giữ có nguồn gốc mua từ Nguyễn Đức C, sinh năm 1996, trú tại: Thôn L, xã Q, huyện Â, tỉnh Hưng Yên.
Ngày 24/12/2024, Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Ngô Tiến M, La Nhật D, không thu giữ được đồ vật tài liệu gì.
Kết quả xét nghiệm ma túy ngày 24/12/2024 đối với Ngô Tiến M, La Nhật D và Nguyễn Đức C dương tính với ma túy, loại Methamphetamine.
Kết luận giám định số 782/KL-KTHS(MT) ngày 27/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh H kết luận: Mẫu chất dạng tinh thể màu trắng trong niêm phong ký hiệu M1, có khối lượng là 0,350 gam, là ma túy, loại Methamphetamine.
Kết luận giám định số 786/KL-KTHS(MT) ngày 27/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh H kết luận: Mẫu chất dạng tinh thể màu trắng trong niêm phong ký hiệu K2, có khối lượng là 0,224 gam, là ma túy, loại Methamphetamine.
Ngày 25/12/2024, kiểm tra điện thoại của Ngô Tiến M xác định điện thoại, các tài khoản Facebook, zalo do một mình M sử dụng. Tại mục messenger chứa nội dung cuộc gọi, nhắn tin với tài khoản “La Nhat D1” của La Nhật D hẹn gặp nhau để sử dụng ma túy. Tại ứng dụng zalo chứa nội dung cuộc gọi, tin nhắn với tài khoản Nguyễn Đức C trong ngày 24/12/2024 để mua ma túy; kiểm tra điện thoại của Nguyễn Đức C đã xóa toàn bộ liên lạc với Ngô Tiến M.
Quá trình điều tra M, D và C khai nhận: Khoảng 07 giờ ngày 24/12/2024, khi M đang ở nhà thì D đang chơi game tại quán game F89 Gameming do anh Đặng Huy H, sinh năm: 1992, trú tại thôn L, xã L, huyện Y (là chủ quán), D sử dụng máy tính để đăng nhập vào tài khoản Facebook kết nối với ứng dụng messenger có tên tài khoản là “La Nhat D1” liên lạc với Ngô Tiến M qua tài khoản facebook của M là “Mạnh Ngô” để rủ M đi mua ma tuý để cùng sử dụng và hẹn M đến quán F, M đồng ý. Khoảng 09 giờ cùng ngày, M cầm theo một số dụng cụ để sử dụng ma tuý gồm: 02 bật lửa ga; 01 ống hút nhựa màu đen dài 40cm, đường kính 0,5cm một đầu được gắn với nắp vỏ chai nhựa màu trắng; 01 cóng thủy tinh màu trắng dài 15cm đường kính 0,5cm một đầu uốn cong và có hình cầu đường kính 1,5cm rồi điều khiển xe môtô BKS: 89 F1-18747 (Mạnh mượn của em họ là anh Nguyễn Việt A, sinh năm 1996 trú tại TDP P, phường B, thị xã M) đến gặp D1. Thấy M đến, D1 bảo M liên hệ để mua 1.000.000 đồng ma túy đá, M đồng ý và sử dụng điện thoại Samsung galaxy A13 đăng nhập vào tài khoản Zalo “Bi bất tử” của M liên hệ với bạn là Nguyễn Đức Chiều Q tài khoản zalo “Đức Chiều N1” hỏi mua 1.000.000 đồng ma tuý đá. Chiều đồng ý và hẹn M đến khu vực cổng trường Trường THCS Q1, ở thôn B, xã Q, huyện Â, tỉnh Hưng Yên để giao dịch.
Sau khi nhận lời bán ma túy cho M, một mình Chiều đến khu vực quốc lộ C thuộc địa phận xã T, huyện K, gặp người đàn ông (không xác định được nhân thân, lai lịch) mua 01 túi ma túy đá với giá 900.000 đồng rồi đi về nhà, C tự chia túi ma túy vừa mua được ra làm 02 túi, 01 túi Chiều gói vào khẩu trang để khi gặp sẽ bán cho M, phần còn lại Chiều để trong túi nilon màu trắng kích thước (1,5x1,5)cm để giữ lại nhằm mục đích để bán.
Lúc này, M gửi xe môtô tại quán F rồi cùng D1 gọi xe taxi (không xác định được người lái xe và tên hãng taxi) đi đến điểm hẹn gặp Chiều. Trên đường đi, D1 đưa cho M số tiền 1.000.000 đồng để trả tiền mua ma túy. M cầm tiền rồi yêu cầu lái xe taxi chở đến đoạn cổng Trường THCS Q1 nhưng không nói với người lái xe mục đích để đi mua ma túy. Đến nơi, M liên lạc với Chiều qua ứng dụng zalo để thông báo cho C là mình đã đến cổng trường. M và D1 đợi một lúc thì Chiều một mình đi bộ đến mở cửa sau ngồi vào xe taxi. Lúc này D1, M và C đều ngồi ở ghế sau. Do đã thống nhất từ trước với M nên khi lên xe taxi D1, M và C không nói chuyện, trao đổi với nhau. Chiều để ma túy trong túi nilon màu trắng kích thước (4x3)cm rồi cuộn bên trong khẩu trang, để trên ghế cạnh vị trí M ngồi. M cầm 02 tờ polime mệnh giá 500.000 đồng đút vào túi áo khoác bên trái của C. M yêu cầu người lái xe taxi chở về quán internet ở L, L, còn Chiều đi nhờ khoảng 50m thì xuống xe. Về đến quán F, M điều khiển xe môtô BKS 89F1- 187.47 chở D1 ngồi sau cùng đi đến nhà nghỉ L ở thôn Đ, thị trấn Y thuê phòng để sử dụng ma túy. Khi M và D1 đang ở khu vực quầy lễ tân của nhà nghỉ L do anh Chu Văn A1, ở thôn Đ, thị trấn Y là chủ nhà nghỉ để làm thủ tục thuê phòng thì bị lực lượng Công an thị trấn Y kiểm tra phát hiện bắt quả tang.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 51/2025/HS-ST ngày 04 tháng 4 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên đã tuyên xử bị cáo Ngô Tiến M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 50 và Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Ngô Tiến M 02 năm 03 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 24/12/2024.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên quyết định về hình phạt đối với hai bị cáo khác, về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 07/4/2025 bị cáo Ngô Tiến M kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt
Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 23/6/2025: Bị cáo Ngô Tiến M vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bố đẻ của bị cáo là ông Ngô Văn N giao nộp đơn trình bầy hoàn cảnh gia đình khó khăn có xác nhận của chính quyền địa phương; các bằng, giấy khen, huy hiệu đảng của ông N và vợ; bằng tổ quốc ghi công của bác ruột bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xác định: Về tội danh và hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, không oan. Tại giai đoạn phúc thẩm bị cáo được hưởng thêm các tình tiết giảm nhẹ TNHS theo quy định tại khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự, nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo sửa quyết định về hình phạt của bản án sơ thẩm theo hướng giảm cho bị cáo từ 09 tháng đến 01 năm tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
- Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo được làm trong thời hạn do pháp luật quy định là hợp pháp nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
- Về hành vi phạm tội của bị cáo Ngô Tiến M: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo khai báo thành khẩn và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với chính lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với lời khai của người làm chứng, người chứng kiến và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; Kết luận giám định, do đó có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 09 giờ ngày 24/12/2024, tại thôn B, xã Q, huyện Â, tỉnh Hưng Yên, Nguyễn Đức C đã có hành vi bán trái phép 0,350g ma túy loại Methamphetamine cho Ngô Tiến M với số tiền 1.000.000 đồng. La Nhật D đồng phạm với Ngô Tiến M mua ma tuý của Chiều mục đích để sử dụng. Đến khoảng 10 giờ 30 phút ngày 24/12/2024, Ngô Tiến M và La Nhật D đang đến nhà nghỉ L có địa chỉ tại thôn Đ, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Hưng Yên thuê phòng nghỉ để sử dụng ma túy thì bị Công an thị trấn Y phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
Do đó, cơ quan tiến hành tố tụng huyện Y đã truy tố, xét xử bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” Theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai.
- Về kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Ngô Tiến M.
Khi quyết định hình phạt, Toà án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội; vị trí vai trò, nhân thân của bị cáo; áp dụng đầy đủ, chính xác các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Tòa án cấp sơ thẩm đã nhận định, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ đó là người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Trên cơ sở đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ TNHS bị cáo được hưởng, Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên phạt bị cáo Ngô Tiến M 02 năm 03 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” là có căn cứ.
Tại Tòa án cấp phúc thẩm, gia đình bị cáo đã xuất trình thêm các tình tiết giảm nhẹ mới theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự mà bị cáo được hưởng đó là: Đơn xin xác nhận gia đình có hoàn cảnh khó khăn có xác nhận của chính quyền địa phương, bằng Tổ quốc ghi công của bác bị cáo, huy hiệu 40 năm tuổi đảng, bằng, giấy khen của bố mẹ bị cáo. Do đó có căn cứ giảm nhẹ mức hình phạt mà tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo như quan điểm đề nghị của đại diện VKSND tỉnh Hưng Yên tại phiên tòa.
Bị cáo kháng cáo được chấp nhận nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điều 343; điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Ngô Tiến M.
- Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 51/2025/HS-ST ngày 04 tháng 4 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên đối với bị cáo Ngô Tiến M như sau:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Ngô Tiến M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 50 và Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Ngô Tiến M 01(một) năm 03(ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 24/12/2024.
- Về án phí: Bị cáo Ngô Tiến M không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm
- Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Trung Kiên |
Bản án số 33/2025/HS - PT ngày 23/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN về hình sự phúc thẩm
- Số bản án: 33/2025/HS - PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 23/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ ma tuý
